Bước tới nội dung

Trang Tĩnh Hoàng quý phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trang Tĩnh Hoàng quý phi
莊靜皇貴妃
Hàm Phong Đế Hoàng quý phi
Hoàng quý phi Đại Thanh
(tôn phong)
Tại vị12 tháng 11 năm 1861
- 13 tháng 12 năm 1866
Đăng quang12 tháng 11 năm 1861
Tiền nhiệmLâm Hoàng quý thái phi
Kế nhiệmKỳ Hoàng quý thái phi
Kính Ý Hoàng quý phi
Trang Hòa Hoàng quý phi
Thông tin chung
Sinh2 tháng 4 năm 1837
Mất26 tháng 12 năm 1890
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An táng18 tháng 4 năm 1893
Phi viên tẩm của Định lăng
Phối ngẫuThanh Văn Tông
Hàm Phong Đế
Hậu duệVinh An Cố Luân Công chúa
Tôn hiệu
Hoàng khảo Lệ Hoàng quý thái phi
(皇考麗皇貴太妃)
Thụy hiệu
Trang Tĩnh Hoàng quý phi
(莊靜皇貴妃)
Tước hiệuLệ Quý nhân (麗貴人)
Lệ tần (麗嬪)
Lệ phi (麗妃)
Hoàng khảo Lệ Hoàng quý phi (皇考麗皇貴妃)
Hoàng khảo Lệ Hoàng quý thái phi (皇考麗皇貴太妃)
Thân phụKhánh Hải

Trang Tĩnh Hoàng quý phi (chữ Hán: 莊靜皇貴妃; 2 tháng 4 năm 1837 - 26 tháng 12 năm 1890) Tha Tha Lạp thị (他他拉氏), thường được gọi là Lệ phi (麗妃), là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế.

Xuất thân

Trang Tĩnh Hoàng quý phi sinh ngày 27 tháng 2 (âm lịch) năm Đạo Quang thứ 17 (tức ngày 2 tháng 4 dương lịch), họ Tha Tha Lạp thị (他他拉氏), là con gái của Chủ sự Khánh Hải (慶海). Hiện chưa có tư liệu rõ ràng về gia tộc và Kỳ tịch của bà, một số ghi nhận bà là Mãn Châu Chính Hồng kỳ, tuy chưa có tư liệu để đối chứng. Có điều, vì bà tham gia Bát Kỳ tuyển tú để nhập cung nên có thể chắc chắn bà không xuất thân từ tầng lớp Bao y.

Do vậy, giới nghiên cứu Thanh sử thường có nhận định bước đầu về gia thế của Tha Tha Lạp thị tương đối không tồi, có thể trong nhà bà từng có người làm quan lớn.

Đại Thanh tần phi

Trải qua tuyển tú

Năm Hàm Phong nguyên niên (1851), Tha Tha Lạp thị tham gia Bát kỳ tuyển tú, bà được Hàm Phong Đế lựa chọn và sơ phong làm Lệ Quý nhân (麗貴人), cùng đợt của bà còn có ba vị khác được chọn nhập cung, gồm có : Nữu Hỗ Lộc thị được phong Trinh tần nhằm nhắm cho ngôi vị Hoàng hậu, Y Nhĩ Căn Giác La thị được phong Anh Quý nhân, Diệp Hách Na Lạp thị phong Lan Quý nhân[1]. Án theo Hồng xưng thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, chữ "Lệ" trong Mãn văn là「Yangsangga」ý chỉ "Tiểu lệ", "Xinh đẹp", dựa theo đó các sử gia phỏng đoán rằng Tha Tha Lạp thị có dung nhan vô cùng diễm lệ, cho thấy vì sao bà được Hàm Phong Đế sủng ái về sau này[2]. Năm Hàm Phong thứ 2 (1852), ngày 27 tháng 4 (tức ngày 14 tháng 6 dương lịch), Trinh tần cùng Anh Quý nhân nhập cung. Đến tận ngày 9 tháng 5 (tức ngày 26 tháng 6 dương lịch), Lan Quý nhân cùng Lệ Quý nhân mới nhập cung. Dựa theo ghi chép của Nội vụ phủ Trình cảo (內務府呈稿) vào cùng năm ghi chép lại rằng : "Mọi đồ đạc của Trinh Quý phi và Lệ Quý nhân di dời từ Chung Túy cung đến Viên Minh Viên" cho thấy thời gian đầu nhập cung bà ở một phối điện nào đó trong Chung Túy cung có Trinh Quý phi làm chủ vị.[3]Bà cũng được ân chuẩn đưa nhà mẹ đẻ vào ở trong Viên Minh Viên.[4]

Sinh hạ Trưởng nữ

Năm Hàm Phong thứ 3 (1853), ngày 6 tháng 7 (tức ngày 10 tháng 8 dương lịch), Thẩm Chấn Lân (沈振麟) thụ chỉ của Hàm Phong Đế hoạ lại 9 bức ngự dung của Hoàng đế và các hỷ dung của các hậu phi gồm có Lệ Quý nhân. Năm Hàm Phong thứ 4 (1855), ngày 24 tháng 12 (tức ngày 10 tháng 2), Hàm Phong Đế mệnh cho Kính Sự phòng Thái giám Trương Tín (張信) truyền chỉ : Lệ Quý nhân tấn làm Lệ tần (麗嬪), Uyển Quý nhân tấn làm Uyển tần, Mân Thường tại tấn làm Mân Quý nhân. Khi này bà đang mang thai được vài tháng.

Năm Hàm Phong thứ 5 (1855), ngày 24 tháng 3 (tức ngày 9 tháng 5 dương lịch), khi đang mang thai khoảng 8 tháng, Lệ tần ở Vĩnh Hòa cung đã đàn và thưởng 2 khúc nhạc là Tân Chiếu Cô (新鹧鸪) và Hỷ Xuân Quang (喜春光) cho thấy bà đã chuyển sang Vĩnh Hoà cung sinh sống[5]. Vào giờ Dần, ngày 7 tháng 5 (âm lịch), Lệ tần hạ sinh Hoàng trưởng nữ, tức Vinh An Cố Luân Công chúa, là vị đầu tiên sinh con cho Hàm Phong Đế, khi Lệ tần sinh con thì Tăng Cách Lâm Thấm đã đánh bại đại quân của Thái Bình Thiên Quốc, bắt sống 2 tướng lĩnh là Lâm Phượng TườngLý Khai Phương. Ngày 9 tháng 5 (âm lịch), Hàm Phong Đế nhờ Khang Từ Hoàng quý thái phi đến thăm hỏi Lệ tần, hai ngày sau lại là thọ thần của Hoàng quý thái phi nên Hàm Phong Đế vô cùng hoan hỉ, cho là hỉ khí liên miên, lại càng thương yêu Hoàng nữ do bà sinh ra[6]. Ngày 10 tháng 5 (tức ngày 23 tháng 6 dương lịch), sau khi hành xong lễ tẩy tang cho Công chúa, Hàm Phong đã đích thân tháp tùng Hoàng quý thái phi, rồi hạ chỉ tấn phong Lệ tần làm Lệ phi (麗妃), vượt lên trên cả Diệp Hách Na Lạp thị (người sau đó mất 10 tháng mới thăng thành Ý phi), lễ sắc phong Tần cho bà bị lược bỏ vì khi đó bà đang mang thai, địa vị của bà sau này chỉ xếp sau mỗi Hoàng hậu[7]. Ngày 28 tháng 12 cùng năm (tức ngày 4 tháng 2 năm 1856 dương lịch), lấy Đại học sĩ Văn Khánh (文慶) làm Chính sứ, Lễ bộ Thượng thư Lân Khôi (麟魁) làm Phó sứ, hành lễ tấn phong cho Lệ phi tại Vĩnh Hoà cung.[8]

Sách văn viết:

Cuối đời

Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), Lệ phi cùng Hàm Phong, Hoàng hậu và các phi tần khác chạy trốn đến Nhiệt Hà khi liên quân Anh - Pháp chiếm đóng Bắc Kinh trong trận chiến Nha phiến lần 2. Năm thứ 11 (1861) tháng 7, Hàm Phong Đế băng hà, Đồng Trị Đế nối ngôi. Ngày 10 tháng 10 (âm lịch), Đồng Trị Đế tấn tôn Lệ phi Tha Tha Lạp thị làm Hoàng khảo Lệ Hoàng quý phi (皇考麗皇貴妃).[9] Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), ngày 16 tháng 11 (âm lịch), vâng mệnh Từ An Hoàng thái hậu cùng Từ Hi Hoàng thái hậu ý chỉ, tấn tôn Lệ Hoàng quý phi Tha Tha Lạp thị làm Hoàng khảo Lệ Hoàng quý thái phi (皇考麗皇貴太妃).[10]

Năm Quang Tự thứ 16 (1890), ngày 15 tháng 11 (âm lịch), Lệ Hoàng quý thái phi Tha Tha Lạp thị qua đời, chung niên 54 tuổi. Ngày 18 tháng 11 năm đó, Quang Tự Đế lệnh cho triều đình để tang bà 1 ngày, nghỉ triều 5 ngày, Hoàng đế còn tự tới rót rượu tế cho bà, thụy hiệuTrang Tĩnh Hoàng quý phi (莊靜皇貴妃). Năm Quang Tự thứ 19 (1893), ngày 18 tháng 4 (âm lịch), giờ Mẹo, quan tài của bà được đem táng tại Phi viên tẩm của Định lăng (定陵), Thanh Đông lăng cùng với Mân Quý phi (qua đời trước Lệ Hoàng quý phi 7 ngày).

Tương quan

Trong văn hoá đại chúng, Lệ phi thường được mô tả là đệ nhất sủng phi, ca múa tuyệt đẹp, thường xuyên tranh sủng với Ý Quý phi . Sau khi Hàm Phong Đế băng hà, Đồng Trị Đế đăng cơ, Ý Quý phi được tôn làm Hoàng thái hậu, từ đó thực hiện nhiều hành động tàn ác, hành hạ đối với Lệ phi.

Tuy nhiên, thực tế Trang Tĩnh Hoàng quý phi và Từ Hi Thái hậu tương đối hòa hợp, con gái duy nhất của bà là Vinh An Công chúa được Lưỡng cung Thái hậu vô cùng sủng ái và xem như con ruột. Bên cạnh đó, từ khi Hàm Phong Đế băng, Trang Tĩnh Hoàng quý phi được thăng liên tiếp lên làm Hoàng quý phi, rồi trở thành Hoàng quý thái phi, đây không phải là chuyện thường thấy trong truyền thống tôn xưng danh hiệu cho Thái phi triều Thanh.

Trang Tĩnh Hoàng quý phi qua đời đơn giản là tuổi già bệnh nặng. Theo hồ sơ Y án khám bệnh của Thanh cung, Trang Tĩnh Hoàng quý phi trong thân thể đã có nhiệt từ lâu, thường xuyên bị cảm mạo, đến ngày chuyển mùa thì lập tức bị bệnh. Chứ không phải bị Từ Hi Thái hậu sát hại như trong các bộ phim mô tả.

Trong văn hoá đại chúng

Năm Tên phim Diễn viên Nhân vật
1983 Hỏa thiêu Viên Minh viên Chu Khiết Lệ phi
Thùy liêm thính chính
1990 Mãn Thanh thập tam hoàng triều Máu nhuộm Tử Cấm Thành Mạch Cảnh Đình
1995 Đoạn tình Từ Hi Ông Hồng Lệ Quý Nhân

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ 咸丰元年(1851年)二月,他他拉氏在咸丰朝第一次的外八旗选秀中,与叶赫那拉氏、钮祜禄氏和伊尔根觉罗氏同时被选为内廷主位。一开始,他他拉氏初居钟粹宫,
  2. ^ “丽”的满文为“yangsangga”,意为“俏丽”、“艳丽”,推测他他拉氏的容貌艳丽。
  3. ^ 《内务府呈稿》曾载:“咸丰二年(1852年),贞贵妃、丽贵人应用什物由钟粹宫住圆明园挪运。”由此可见,他他拉氏未入宫时,其嫁妆已先被送往拟定的寝宫,即钟粹宫某配殿。此外,同宫之贞贵妃钮祜禄氏已被拟为皇后,未知将钟粹宫拟定为丽贵人寝宫之缘故。
  4. ^ 咸丰二年五月初九日(1852年6月26日),他他拉氏和叶赫那拉氏同时由本家被送入圆明园,同日被封为丽贵人,叶赫那拉氏则被封为兰贵人。
  5. ^ 咸丰五年三月二十四日(1855年5月9),已经怀孕约八个月的丽嫔在寝宫永和宫听曲,如《新鹧鸪》、《喜春光》等。证实此时丽嫔已经从钟粹宫搬到了永和宫。
  6. ^ 同年五月初七日(1855年6月20日)寅时,丽嫔生下咸丰帝的皇长女荣安固伦公主,成为第一个为咸丰帝生儿育女的嫔妃。丽嫔生女儿时,先是僧格林沁大败太平军,擒林凤祥、李开芳,凯旋班师。五月初九日,咸丰奉康慈皇贵妃来探望丽嫔。两天之后又是康慈皇贵太妃的寿辰。可谓是喜气连连。
  7. ^ 咸丰帝因欠安而取消了康慈皇贵太妃寿辰的正式行礼和看戏,但在洗三那天,他祭完地坛就陪康慈皇贵太妃去探视丽嫔母女,并晋封丽嫔为丽妃,比懿嫔封妃要早十个月。注意的是他他拉氏因怀孕而没有举行嫔位册封礼,而是直接举行的妃位册封礼。 虽然丽妃未能生下皇子,但除了皇后之外,在咸丰帝的后宫中也只有丽妃比懿嫔得宠。懿嫔所生的大阿哥载淳与丽妃所生的大公主,所获的赏赐基本上是平分秋色,足见咸丰帝心目中丽妃的地位之高。
  8. ^ Thanh sử cảo quyển 214, Hậu phi nhất liệt truyện
  9. ^ 又谕、皇考大行皇帝妃嫔。承侍宫闱。恪恭淑慎。均宜加崇位号。以表尊荣。丽妃侍奉皇考有年。诞育大公主。谨尊封为丽皇贵妃。婉嫔晋封为婉妃。祺嫔晋封为祺妃。玫嫔晋封为玫妃。璷贵人晋封为璷嫔。容贵人晋封为容嫔。璹贵人晋封为璹嫔。玉贵人晋封为玉嫔。吉贵人晋封为吉嫔。禧贵人晋封为禧嫔。庆贵人晋封为庆嫔。所有应行事宜。著该衙门察例具奏。
  10. ^ 又谕、朕奉慈安端裕康庆皇太后慈禧端佑康颐皇太后懿旨。丽皇贵妃等位。侍奉文宗显皇帝。均称淑慎。丽皇贵妃着封为丽皇贵太妃。婉妃着封为婉贵妃。祺妃着封为祺贵妃。玫妃着封为玫贵妃。璷嫔着封为璷妃。吉嫔着封为吉妃。禧嫔着封为禧妃。庆嫔着封为庆妃。
  • Thanh sử cảo , quyển 214, liệt truyện nhất Hậu phi
  • Seagrave, Sterling (ngày 6 tháng 3 năm 1992). Dragon Lady: The Life and Legend of the Last Empress of China . Vintage. ISBN 978-0679733690.