Cửu châu kymi hay Cửu châu Cơ mi còn có tên nữa là Cam Lộ cửu châu , Đạo Sông Khôn chữ Hán - Nôm: 九州羈縻 tiếng Lào : ເກົ້າເມືອງກີມີ là 9 châu của Phủ Cam Lộ tỉnh Quảng Trị nước Đại Nam ,nhà Nguyễn trong giai đoạn 1827 đến 1916. Đây là vùng lãnh thổ thuộc Savannakhet, Lào ngày nay.

Tập tin:Nguyen Dynasty, administrative divisions map (1838).png
Cửu châu kymi được thể hiện rõ là khu vực rộng lớn ở phía Tây Tỉnh Quảng Trị

Chính sách kimi

Chế độ ki mi (羈縻) (ràng buộc) là chính sách cai trị vùng biên giới hoặc miền núi bằng cách ràng buộc lỏng lẻo. Triều đình trung ương công nhận quyền tự trị của các tù trưởng địa phương, để họ tự quản lý dân chúng đổi lại việc trên danh nghĩa vẫn thuộc quốc gia và giữ sự thần phục.[1]

Lịch sử

Thời Nguyễn

Thời Đàng Trong, nhà Nguyễn, khi lập dinh Quảng Trị, vùng phía tây đặt đạo Cam Lộ; mọi việc cống Man, thuế Man đều thuộc dinh Quảng Trị.Sản vật cống và thuế do đạo Cam Lộ thu nộp. [2] Đời Gia Long vẫn đặt 2 châu Thuận Bình và Sa Bôi và 2 loại cống Man và thuế Man; cống Man gọi là châu Mường, thuế Man gọi là châu Bạn. Theo danh hiệu khảo được từ Đại Nam nhất thống chí thì châu Sa Bôi có 2 mường là: Na Bôn (T’chepone) và Thượng Kế (Mường Nòng); châu Tĩnh Yên (tên cũ là Thuận Bình) có 3 mường là: Tá Bang (Pha Bang)[3], Xương Thịnh (Xiêng Hem) và Tầm Bồn (Mường Phong). Ngoài ra có 8 sách là: Ba Lan (Pha Lan), Mường Bổng (Nam Nan), Làng Thìn (Mường Phìn), Làng Tổng, Làng Liên, Làng Tán, Lá Mít, A Di và 4 nguồn là: Viên Kiệu, Tầm Linh, Ô Giang, Cổ Lâm; 6 tộc là: Làng Hạ, Tầm La, Làng Khống, Kỳ Tháp, Hương Bạn, Làng Lục

Tập tin:Sepon 01.jpg
Dòng Sê Pôn

Trên cơ sở này, nên đến năm 1822, Minh Mạng mới lấy 4 sách Viên Kiệu, Tầm Linh, Làng Tổng và Làng Liên đặt làm châu Hướng Hóa (tức là vùng đất Hướng Hóa, Đakrông ngày nay), lệ vào đạo Cam Lộ; đến năm 1827, khi sa trưởng (tù trưởng, già làng) các châu dâng sổ đinh điền và xin cho đứng vào hàng châu huyện mới đem 1 đạo Mường Vang, 7 châu: Sa Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng và 1 sách Làng Thìn, cả thảy 9 cống man, đổi làm 9 châu (tức cửu châu kymi - vùng đất hoàn toàn nằm trên đất Lào hiện nay), còn 4 nguồn, 5 sách và 6 tộc thuế man thì đổi làm 15 tổng, đều thuộc châu Hướng Hóa; 15 tổng sau hợp lại làm 9 tổng thuộc Đạo Cam Lộ [4] . Số lượng sách, trang của cửu châu kymi không khảo cứu được vì nhà Nguyễn cũng không thể thiết lập chính quyền cơ sở của vùng này.

Xiêm La có 5 đạo quân, trong đấy Đạo thứ ba tiến đánh Cam Lộ. Cuối tháng 12 năm 1833, quân Xiêm huy động nước Vạn Tượng mang hơn 1.000 quân tiến vào đất Quảng Trị. Còn phía Đại Nam: Vua Minh Mạng được tin báo cấp, liền xuống chiếu sai quan quân phòng ngự các nơi. . Minh Mạng cho rằng quân Xiêm chỉ hư trương thanh thế, mặt trận chính vẫn là phía nam, nên sai Vệ úy Lê Văn Thụy ra phòng giữ.[5][6]

Theo "Đại Nam Thực Lục", cuối 12-1833, Xiêm cho quân xâm phạm các huyện Cam Lộ, Cam Cát, Cam Môn.

Vệ úy ở Cam Lộ của Đại Nam là Lê Văn Thụy ra quân đánh quân Xiêm ở Thú Kê giành thắng lợi. Lê Văn Thụy đánh tiếp đồn Tầm Bồn, Mang Bổng. Quân Xiêm bỏ đồn chạy về. Quân Xiêm chưa ngưng chiến, lại mang 5.000 quân đánh đồn Công Nhạc thuộc châu Mang Bổng và đạo Cam Lộ. Lê Văn Thụy lại ra quân đánh lui địch, bắt được tướng Xiêm là Mạc Sát Khôn La Mân và tướng Khiếu, thu được nhiều súng. Tháng 2 năm 1834, quân Xiêm lại đánh vào châu Ba Lan ở Cam Lộ nhưng cũng bị Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Nguyễn Cửu Đức...đánh lui.[6]

Thời Pháp Thuộc

Sách Đồng Khánh địa dư chí cho biết vào thời này, người Thượng (thổ dân) ở 9 châu xiêu dạt ở ngoài, 3 châu là Tầm Bồn, Ba Lan và Mường Bổng; hiện chỉ còn 6 châu là Mường Vang, Na Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Làng Thìn, Xương Thịnh. Nhưng 9 tổng người Thượng thì được biên chép rành rẽ, trong đó, trên địa bàn huyện Hướng Hóa ngày nay bao gồm ít nhất là 6 tổng, gồm: Tầm Linh (6 xã, ấp), A Nhi (8 ấp), Làng Hạ (9 ấp), Tầm Thanh (5 xã, ấp), La Miệt (5 xã, ấp) và Ô Giang (4 ấp) các đầu mục tổng trưởng đều trao cho chức cai tổng; 15 tổng sau hợp lại làm 9 tổng thuộc Đạo Cam Lộ[7].

Ngày 30/9/1893, Toàn quyền Đông Dương De Lan Xe San ký nghị định thành lập đạo Sông Khôn (Songkhone ? ). gồm toàn bộ đất đai của chín châu Cam Lộ cũ, thuộc huyện Thành Hoá, tỉnh Thuận Hoá (thường được gọi là Cam Lộ Cửu Châu)[8]

Năm Duy Tân thứ 7 (1913), theo Nghị định ngày 27/12/1913 của Toàn quyền Đông Dương, một Hội đồng được thành lập để ấn định biên giới Việt Lào. Sau 3 tháng làm việc, Hội đồng này mới đúc kết bản đề nghị và được phủ Toàn quyền Đông Dương phê chuẩn bằng Nghị định ngày 12/10/1916. Theo Nghị định này, ranh giới giữa tỉnh Quảng Trị của Việt Nam và tỉnh Savanakhét của Lào được ấn định như sau:

Từ điểm 1221m giáp Quảng Bình đến điểm 1.020,82m của động Ta Puc. Từ đó đi thẳng đến đồn Lao Bảo. Đồn này thuộc về Quảng Trị, phân chia làng P Atal Bắc về Lào và P Atal Nam về Việt Nam. Từ Lao Bảo đường ranh giới cắt ngang qua sông Tchépon, phân về Lào Bản Phường. Từ Bản Phường đến Ta Tcha đường ranh theo sông Tchépon, rời sông ở hợp lưu Khe Lang, cắt Ta Tcha về Lào, rồi theo đường phân thuỷ giữa Tà Riệp và Khe Kang, nối với đỉnh Mo Pat ở toạ độ 18GR40 vĩ tuyến bắc và 16GR kinh tuyến đông, giáp Thừa Thiên.[9]

Từ đó phần đất Cửu châu kymi trả về Lào. Tương ứng đất Savanakhet bây giờ.

Danh sách địa danh

Các châu trong Cửu châu kimi
TT Tên địa danh Địa danh tương ứng ngày nay
1 Tầm Bồn (Chầm Bồn) Champhone
2 Mường Bổng (Mường Phon) Outhoomphone
3 Làng Thìn (Mường Thìn) Nong Phine
4 Na Bôn Sepone
5 Thượng Kế Songkhone
6 Tá Bang (Phá Bang) Thapangthong
7 Ba Lan Thaphalanxay
8 Mường Vang (Vanh, Mường Vanh) Vilabuly
9 Xương Thịnh (Xương Găm) Xonbuly
  1. ^ "Bảo tàng Lịch sử Quốc gia". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
  2. ^ Lê Quý Ðôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977. tr.37 - 38
  3. ^ "Diên cách địa lý hành chính Cam Lộ qua các thời kỳ lịch sử". Trang thông tin xã Cam Lộ. ngày 12 tháng 11 năm 2016. Truy cập 28/7/2025. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  4. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 102
  5. ^ Quốc Sử quán triều Nguyễn, sách đã dẫn, tr 225
  6. ^ a b "Chiến tranh Việt – Xiêm (1833–1834)", Wikipedia tiếng Việt, ngày 4 tháng 1 năm 2026, truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026
  7. ^ Địa chí Quảng Trị tr.100
  8. ^ "Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, DANG BO TINH HUNG YEN". tuyengiao.hungyen.dcs.vn. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2026.
  9. ^ Địa chí Quảng Trị tr.39