Bước tới nội dung

Lao Bảo

16°37′03″B 106°36′04″Đ / 16,617429°B 106,601136°Đ / 16.617429; 106.601136
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lao Bảo là một xã biên giới thuộc tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.

Lao Bảo
Tập tin:Một đại lộ ở Lao Bảo.jpg
Đoạn đường Quốc lộ 9 trên xã Lao Bảo

Tên cũTân Phước, Tân Thành, Tân Long, Ai Lao, Bảo Trấn Lao, Ải Viên Cảo
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhQuảng Trị
Trụ sở UBND10 Nguyễn Huệ, khu phố Tây Chín
Lịch sử hình thành
Thành lập16/6/2025
Hợp nhấtTân Thành, Tân Long, thị trấn Lao Bảo
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDTrần Anh Vũ[1]
Chủ tịch HĐNDTrần Bình Thuận [1]
Địa lý
Tọa độ: 16°37′03″B 106°36′04″Đ / 16,617429°B 106,601136°Đ / 16.617429; 106.601136
Lao Bảo trên bản đồ Việt Nam
Lao Bảo
Lao Bảo
Vị trí xã Lao Bảo trên bản đồ Việt Nam
Diện tích83,04 km²
Dân số (2025)
Tổng cộng23.459 người
Mật độ282 người/km²
Dân tộcngười Kinh, Pa CôVân Kiều
Khác
Mã bưu chính48515
Biển số xeTừng có loại biển số đặc biệt được cấp cho các loại xe ô tô thuộc Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo là biển số : 74LB
Websitehttps://laobao.quangtri.gov.vn/home

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Địa lý

Xã Lao Bảo cách phường Đông Hà theo đường Quốc lộ 9 đi về hướng Nam Lào hơn 80 km. Xã có tuyến biên giới Việt Nam – Lào, trong đó có một đoạn là dòng sông Xê Pôn (một phụ lưu của sông Mê Kông), bên kia biên giới là huyện Seponh tỉnh Savannakhet.

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo

Địa hình tự nhiên của Lao Bảo có sông Xê Pôn ngăn cách biên giới giữa hai nước Lào- Việt.

Xã Lao Bảo có vị trí địa lý:

Địa mạo

Lao Bảo nằm ở phần thấp nhất của khối nâng Trường Sơn Tây, hình thành nên dạng địa mạo thung lũng - lòng chảo kéo dài dọc biên giới. Bao quanh lòng chảo Lao Bảo là các bề mặt tích tụ - xâm thực có độ cao từ 100 – 300 m và các bề mặt đồi lượn sóng kéo dài dọc thung lũng. Dọc theo hành lang sông Sê Pôn là bề mặt bằng phẳng phát triển liên tục dọc sông, tạo điều kiện thuận lợi nhất khu vực cho việc xây dựng hạ tầng đô thị và phát triển kinh tế.

Khác với vùng núi cao phía Bắc Hướng Hóa (có độ dốc >30° và độ cao >900–1500 m), địa mạo khu vực Lao Bảo chủ yếu là các trắc diện sườn thoải đến vừa (độ dốc phổ biến 8-15°), trắc diện sườn lồi lõm hoặc nghiêng thoải về phía sông Sê Pôn.

  • Khu vực Lao Bảo nằm trong đới ảnh hưởng của hệ thống đứt gãy địa mạo phương Tây Bắc - Đông Nam (kéo dài từ Khe Sanh qua Lao Bảo sang Lào).
  • Sự hiện diện của đứt gãy này là nhân tố chính định hình nên hướng chảy của sông Sê Pôn và tạo ra vùng sụt trũng tương đối (lòng chảo Lao Bảo) giữa lòng dãy Trường Sơn hùng vĩ.

Địa chất

Trầm tích trẻ sông - bãi bồi (Độ tuổi Đệ Tứ)

Phân bố tập trung dọc theo thung lũng sông Sê Pôn và các dải bãi bồi ven sông tại khu vực đô thị Lao Bảo.Chủ yếu là trầm tích sông - bãi bồi (cuội, sỏi, cát, bột, sét). Lớp trầm tích trẻ này có độ gắn kết yếu hoặc chưa gắn kết, tạo nên các thung lũng tích tụ ven sông tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho xây dựng công trình và sản xuất nông nghiệp.

Các tầng đá trầm tích - biến chất nội địa (Hệ tầng A Ngo & Long Đại)

Hệ tầng A Ngo: Phân hệ tầng dưới và giữa gồm cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết có màu tím đỏ đến đỏ. Đây là nguồn đá gốc phong hóa tạo nên dải thổ nhưỡng màu đỏ vàng đặc trưng ở vùng đồi xung quanh Lao Bảo.

Hệ tầng Long Đại (phân hệ tầng trên và giữa): Gồm cát kết, bột kết, đá phiến thạch anh - sericit, đôi khi có các thấu kính đá vôi. Các đá này có độ bền cơ học trung bình đến khá, tạo nên các dải đồi lượn sóng bao bọc lấy lòng chảo.

Đá magma xâm nhập & Đá bazan lân cận

Đá xâm nhập (Phức hệ Quế Sơn / Hải Vân / Bản Xang): Ở các khu vực núi phía Bắc và Đông Bắc Lao Bảo xuất hiện các khối đá xâm nhập granitoid (granit, diorite) tạo nên các khối núi cao chắc chắn.

Đá bazan (phát triển mạnh ở vùng Khe Sanh lân cận): Mặc dù khu vực trung tâm Lao Bảo chủ yếu là trầm tích thung lũng và đá trầm tích lục gợn sóng, nhưng lớp bazan olivin ở phần cao Khe Sanh cũng cung cấp vật liệu phong hóa theo các dòng suối đổ về bổ sung dinh dưỡng cho thổ nhưỡng lòng chảo Lao Bảo.

Hệ thống đứt gãy & Hoạt động kiến tạo

Khung địa chất Lao Bảo bị cắt xẻ bởi các đường đứt gãy địa chất phương Tây Bắc - Đông Nam (các đường nét đứt và nét liền màu đen/đỏ kéo dài xuyên qua Hướng Hóa sang đất Lào).

Các đứt gãy này làm nứt nẻ đá gốc, thúc đẩy quá trình phong hóa bóc mòn, đồng thời khống chế sự hình thành lòng chảo sụt trũng Lao Bảo và định hướng cho dòng chảy sông Sê Pôn.[2]

Trầm tích sông thống Pleistocen thượng

Trầm tích sông thống Pleistocen thượng– phần trên (aQ1 3b): cấu tạo nên thềm sông bậc I dọc thung lũng sông Sê Pôn, Đakrông và thượng nguồn của một số thung lũng sông suối khác thành các dải có chiều rộng từ vài chục mét đến vài trăm mét. Thành phần mặt cắt thềm I sông Sê Pôn ở khu vực tây bắc Lao Bảo gồm 3 phần: dưới cùng là cuội sỏi cát lẫn tảng có ít sét bột xám xanh, nâu dày 2-3,5m; phần giữa là cát sỏi lẫn sét màu nâu xám phớt vàng, dày 2-5m; phần trên cùng là cát sét lẫn sỏi sạn và các đá tảng, dày 0,3-1,2m.[3]

Lao Bảo
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
21
 
 
23
17
 
 
14
 
 
25
18
 
 
37
 
 
28
19
 
 
114
 
 
29
20
 
 
196
 
 
27
21
 
 
228
 
 
27
22
 
 
296
 
 
26
20
 
 
235
 
 
24
21
 
 
533
 
 
25
20
 
 
270
 
 
24
19
 
 
222
 
 
22
18
 
 
109
 
 
22
16
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: [4]

Khí hậu

Nằm trong Tiểu vùng nóng, mưa vừa của sông Sê Pôn . Tổng nhiệt hàng năm trên 8500 °C. Tổng lượng mưa hàng năm 2000–2200 mm/năm.

Hành Chính

Năm 1975,Tân Phước hay (Lao Bảo) được chia thành 7 thôn:Duy Tân, Cao Việt, An Hà, Xuân Phước, Vĩnh Hoa, Tân Kim 1, Tân Kim 2 và 2 bản người đồng bào thiểu số là Ka Túp (xã Thuận) và bản Lệt (xã Hướng Tân).

Đến tháng 8/1980, Tân Phước nhập thêm bản Ka Tăng (xã Hướng Tân).đến năm 1985, xã Tân Phước (11 thôn/bản: Duy Tân, Cao Việt, An Hà, Tân Kim (bao gồm Tân Kim 1 và Tân Kim 2, Xuân Phước, Vĩnh Hoa, 9a (Đường QL9), 9b (Dân QL9), xóm Chợ, thôn K Túp, K Tăng)[5]năm 1992 hình thành thêm bản Khe Đá.

1/8/1994, khi Lao Bảo trở thành thị trấn, bản Lệt được chuyển giao cho xã Tân Thành quản lý. Các đơn vị thôn chuyển sang đơn vị khóm.

Năm 2005 toàn thị trấn có 12 khóm: Duy Tân, Cao Việt, An Hà, Tân Kim, Xuân Phước, Vĩnh Hoa, Đông Chín, Trung Chín, Tây Chín , Ka Tăng, Khe Đá và Ka Túp.[6]

Theo nghị quyết số 21/2019/NQ-HĐND từ ngày 20/7/2019, Thành lập khóm Vĩnh Đông (sáp nhập khóm Vĩnh Hoa và Khóm Đông Chín).

Trước sáp nhập: Thị trấn Lao Bảo được chia thành 11 khu phố (khóm): An Hà, Cao Việt, Duy Tân, Ka Tăng, Ka Túp, Khe Đá, Tân Kim, Tây Chín, Trung Chín, Vĩnh Đông, Xuân Phước

Xã Tân Thành được chia thành 7 thôn: An Tiêm, Bích La Đông, Bích La Trung, Cổ Thành, Hà Lệt, Nại Cửu, Nam Xuân Đức.

Xã Tân Long được chia thành 9 thôn: Làng Vây, Long An, Long Giang, Long Hợp, Long Phụng, Long Quy, Long Thành, Xi Núc, Yên Thuận.

Theo quy định tại Nghị quyết 60 chính thức bỏ cấp huyện từ 1/7/2025 , Thành lập xã Lao Bảo (trên cơ sở sáp nhập thị trấn Lao Bảo, Tân Thành, Tân Long)[7]

Sau sáp nhập, Xã Lao Bảo được chia thành 27 thôn:[7] Làng Vây, Long An, Long Giang, Long Hợp, Long Phụng, Long Quy, Long Thành, Xi Núc, Yên Thuận, An Hà, Cao Việt, Duy Tân, Ka Tăng, Ka Túp, Khe Đá, Tân Kim, Tây Chín, Trung Chín, Vĩnh Đông, Xuân Phước, An Tiêm, Bích La Đông, Bích La Trung, Cổ Thành, Hà Lệt, Nại Cửu, Nam Xuân Đức.

Theo phương án đã được sắp xếp vừa được UBND xã Lao Bảo xây dựng, địa phương trước kia có 27 thôn với hơn 23.700 nhân khẩu được tổ chức lại theo chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố của Chính phủ và tỉnh Quảng Trị.

Cụ thể, thôn Duy TânCao Việt hợp nhất thành thôn Triệu Phước; thôn Tân Kim sáp nhập với Ka Túp giữ tên gọi Tân Kim; thôn An HàXuân Phước hợp nhất thành thôn Tân Phước; thôn Ka Tăng sáp nhập với Khe Đá lấy tên Ka Tăng.

Các thôn Bích La Trung, Hà Lệt, Nam Xuân ĐứcAn Tiêm được sáp nhập thành thôn Tân Thành. Thôn Cổ Thành, Nại CửuBích La Đông hợp nhất thành thôn Triệu Thành. Các thôn Yên Thuận, Long AnLong Quy sáp nhập thành thôn Tân Long.

Ngoài ra, thôn Long HợpLong Thành hợp nhất thành thôn Triệu Long. Ba thôn Long Giang, Xi Núc, Làng Vây cùng với Long Phụng sẽ được sáp nhập thành thôn mới mang tên Làng Vây.[8]

Đến hiện tại Lao Bảo có 12 thôn: Vĩnh Đông, Trung Chín, Tây Chín, Triệu Phước, Tân Kim, Tân Phước, Ka Tăng, Tân Thành, Triệu Thành, Tân Long, Triệu Long, Làng Vây

Lịch sử

Con người xuất hiện ở Lao Bảo rất sớm, một số dấu vết của cư dân Lao Bảo thời đồ đá cũ. Phát hiện một số dụng cụ bằng đá cuội, mảnh tước được phát hiện tại Sông Sê Pôn. Thuộc nền văn hoá Sơn Vi cách đây 1,5 triệu - 3 vạn năm trước. Hiện vật đang được trưng bày tại bảo tàng tỉnh Quảng Trị (cơ sở 2)

Lao Bảo cũng là một vùng đất thuộc châu Ô dưới thời Champa là vùng đất từ đèo Lao Bảo đến lưu vực sông Thạch Hãn (Đèo Lao Bảo là các đồi núi xung quanh thung lũng Lao Bảo)

Thời Lâm Ấp, Chăm Pa Tuyến đường buôn bán, trao đổi hàng hóa sầm uất nhất ở Quảng Trị thời Chămpa là tuyến đường Cửa Việt - Cam Lộ - Ai Lao. Luồng thương mại này chủ yếu là tuyến đường bộ và đường thủy.[9]

Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân sai sứ dâng chiếu cầu hôn công chúa Huyền Trân đến vua Trần Anh Tông của Đại Việt. Vua Trần bằng lòng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và nhận hai châu Ô và Lý mà Chế Mân đã dâng làm vật sính lễ. Nhà Trần đổi châu Ô làm Thuận Châu, và châu Lý làm Hoá Châu. Từ lúc đó Khu vực Lao Bảo thuộc Thuận Châu thời điểm đó.

Thời Trần - Hồthuộc Minh, vùng đất Hướng Hoá bao gồm Lao Bảo thuộc huyện Thạch Lan thuộc châu Thuận, trấn Thuận Hóa

Trên bản đồ, phía tây Quảng Trị, Ai Lao hay Lao Bảo thuộc tổng Làng Hạ (trên ghi thành Làng Hà), gồm Làng Hạ, làng Phường(hay bản Phường), Bản Katang, làng Phát Lạt

Thời Lê - Mạc, từ khi châu Thuận được cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng và Vũ Xương cùng với 2 châu: Sa Bôi và Thuận Bình. Trong đó cùng Khu vực Lao Bảo thuộc châu Thuận Bình, phủ Triệu Phong, Thừa Tuyên Thuận Hoá.

Năm 1491( năm Hồng Đức thứ 21) thuộc triều Lê định lại bản đồ cả nước. Lúc đó vùng đất Lao Bảo(còn tên gì chưa rõ) thuộc châu Thuận Bình, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá.Châu Thuận Bình là đơn vị hành chính và cũng là “nơi cư trú của các làng bản thổ dân” thuộc nguồn Viên Kiều ở trên địa bàn huyện Hải Lăng. Nguồn Viên Kiều là nguồn của sông Thạch Hãn, tức là thuộc lưu vực sông Đakrông, thượng nguồn Thạch Hãn/sông Cái. Số lượng các đơn vị cư trú của các tộc Man (tức người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi/Tôi Ôi) thuộc châu Thuận Bình được biên chép một cách khái lược trong mục thuế khóa của sách “Ô châu cận lục” có 19 sách, 10 động. Nhưng theo bản đồ Hồng Đức thì châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã. Khảo cứu về đơn vị hành chính châu này thời Lê - Mạc cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ.Bộ máy quan lại thuộc 2 châu Sa Bôi và Thuận Bình mỗi châu có 2 viên Tri châu và Đồng Tri châu. Ngoài ra còn có thêm 1 viên Tuần kiểm Kinh lược (viên võ quan tuần tra lưu động) ở Ải Viên Cảo (Lao Bảo ngày nay)[10]

Tập tin:QuangTriTinh.jpg
Bản đồ tỉnh Quảng Trị (廣治) của nhà Nguyễn Việt Nam in trong Đại Nam nhất thống chí. Phía Tây có chép: 堡牢 (tức Lao Bảo). * "堡" (bảo): đồn lũy, thành ốc, pháo đài nhỏ. * "牢" (lao): bền chắc, chuồng trại hoặc ngục tù (trong quân sự chỉ nơi phòng thủ kiên cố).
Ai Lao Đồn thuộc tỉnh Quảng Trị ghi trên bản đồ An Nam đại quốc họa đồ . Bản đồ đã ghi: Ai Lao Đồn locus exilii. locus exilii dịch từ tiếng Latinh là "nơi lưu đày"

Trong thời gian đóng thủ phủ ở Quảng Trị, chúa Tiênchúa Sãi với chính sách cai trị khoan hòa “việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng để răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu, tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp” [11]. Ngoài ra, để giữ yên miền biên viễn phía tây, chống lại nạn xâm lấn, cướp phá thường xuyên của các bộ lạc Lục Hoàn (Ai Lao) theo đường sông Hiếu.Thời Chúa Nguyễn (năm 1622), Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho rằng ” Sông Hiếu ở xã Cam Lộ thuốc huyện Đăng Xương, giáp với đất Ai Lao, các bộ lạc Man, Hoàn, Vạn, Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp đều có đường thông đến đấy, bèn sai đặt đinh, mộ dân chia làm sáu thuyền quân để coi giữ, gọi là dinh Ai Lao[12] để trấn giữ việc mua bán.

Năm 1815, vua Gia Long đổi dinh Ai Lao thành đạo Ai Lao, lập cai đội Nguyễn Văn Xiêm làm trưởng đạo.[13]

Đến năm 1883, tại tổng Làng Hạ ,vua Minh Mạng hạ lệnh đắp dinh Ai Lao và đổi thành Bảo Trấn Lao với chu vi chín mươi trượng, cao sáu thước, mở hai cửa có năm mươi lính đóng quân. Tên địa danh Lao Bảo đã được giản lược từ Bảo Trấn Lao và đảo từ đó thành Trấn Lao Bảo lấy từ tên của cái đồn biên giới này. Theo Đồng Khánh dư địa chí, Tổng Làng Hạ có 9 ấp

Địa điểm lập dinh nằm ngay trên làng Bảo, làng người Vân Kiều, chỉ vẻn vẹn chục ngôi nhà đơn sơ với những rẫy sắnlúa. Những cây vông đồng mọc tự nhiên bên dinh canh phòng thuở Chúa Nguyễn được giữ lại và phát triển. Từ đó đến nay gần 400 năm, những cây vông đồng nảy chồi, lan dần tạo nên một rừng cây như ngày nay.[14]

Tờ Đông Pháp thời báo số 755 ra ngày 11.8.1928 có bài bàn về "Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Lôn (Côn Đảo)" của Phan Khôi trong đó ông cắt nghĩa hai chữ "bị’ hay ‘được’. “Hai ông Bửu Đình và Hồ Đắc Hiến ở Lao Bảo được dời vô Côn Lôn chứ không phải bị dời vô Côn Lôn". Bởi vì đày đi Lao Bảo là nơi gần hơn song không có ngày về, còn Côn Lôn là nơi xa hơn nhưng còn có ngày về.[14]

Phía Tây tỉnh Quảng Trị có ghi là Ai Lao Đồn

Trong tờ trình ngày 18/1/1896, Khâm sứ Trung Kỳ tại Huế gửi Toàn quyền Đông Dương, trong đó nõi rõ: “Việc thiết lập nhà ngục Ai Lao tại một địa điểm thuộc tả ngạn sông Mê Kông, cần thiết phải đặt ở Quảng Trị và Ai Lao nhiều trạm gác dân sự đủ đảm bảo chắc chắn cho việc giám thị tù nhân và sự đi lại của các đoàn xe dành cho Lào”. Theo thông tin này, thì nhà tù Lao Bảo có thể được xây dựng ngay sau đó là năm 1896.[15][16]

Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định ngày 21/11/1898 lập cơ sở hành chánh (Poste administratif) Lao Bảo theo đề nghị ngày 31/10/1898 của Công sứ Quảng Trị, hoạt động trong vùng người Kha ở cao nguyên Tchépon và dãy Trường Sơn. Odenh hal được cử làm trưởng cơ sở, trực thuộc Công sứ Quảng Trị.

Nhà thám hiểm người Pháp bà Isabelle Massịieu đã đến thăm nơi này một mình vào năm 1897.[17]

Năm 1930 , Pháp xây dựng Tuyến đường thuộc địa số 9 (nay là Quốc lộ 9) đi qua Lao Bảo nhằm mục đích khai thác thuộc địa.

Năm Duy Tân thứ 7 (1913), theo Nghị định ngày 27/12/1913 của Toàn quyền Đông Dương, một Hội đồng được thành lập để ấn định biên giới Việt Lào. Sau 3 tháng làm việc,Hội đồng này mới đúc kết bản đề nghị và được phủ Toàn quyền Đông Dương phê chuẩn bằng Nghị định ngày 12/10/1916.Theo Nghị định này, ranh giới giữa tỉnh Quảng Trị của Việt Nam và tỉnh Savanakhét của Lào được ấn định như sau: Từ điểm 1221m giáp Quảng Bình đến điểm 1.020,82m của động Ta Puc.Từ đó đi thẳng đến đồn Lao Bảo. Đồn này thuộc về Quảng Trị, phân chia làng P Atal Bắc về Lào và P Atal Nam về Việt Nam. Từ Lao Bảo đường ranh giới cắt ngang qua sông Tchépon, phân về Lào Bản Phường. Từ Bản Phường đến Ta Tcha đường ranh theo sông Tchépon, rời sông ở hợp lưu Khe Lang, cắt Ta Tcha về Lào, rồi theo đường phân thuỷ giữa Tà Riệp và Khe Kang, nối với đỉnh Mo Pat ở toạ độ 18'40 vĩ tuyến bắc và 16 kinh tuyến đông, giáp Thừa Thiên. Từ đó phần đất Cửu châu kymi trả về Lào .[10]

Tập tin:PT-76 monument.jpg
Chiếc xe tăng PT-76 số hiệu 268 tại Tượng đài chiến thắng Làng Vây

Trong kháng chiến chống Pháp, vùng Hướng Hoá, Ba Lòng là khu vực tự do của lực lượng kháng chiến.

Chưa đầy một tháng sau ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945), tháng 10/1945, khoảng 1 tiểu đoàn bộ binh Pháp chạy qua Lào sau ngày 9/3/1945 được sự chi viện quân dù và phản động nội địa, theo Đường 9 mở cuộc tiến công vào miền Tây Quảng Trị nhằm chiếm những vị trí mà quân Nhật đang chốt giữ. Tỉnh ủy điều động một bộ phận lực lượng của Chi đội Nguyễn Thiện Thuật cùng với quân dân Hướng Hóa, nhanh chóng tước vũ khí quân Nhật, đẩy lùi quân Pháp về bên kia biên giới. Tiếp theo, tháng 11/1945, Ban Chỉ huy Mặt trận Đường 9 thành lập, do đồng chí Nguyễn Thụ chỉ huy, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy, kết hợp với một đơn vị của Chi đội Lê Trực (Quảng Bình) và lực lượng Lào yêu nước tỉnh Savannakhet thành “Liên minh chiến đấu Việt - Lào”. Liên quân liên tục tiến công địch ở Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan, Thà Khống, … gây cho chúng nhiều thiệt hại, đập tan ý đồ nối hành lang Đà Nẵng - Huế - Đông Hà - Lao Bảo - Savannakhet của Pháp. Thắng lợi bước đầu trên mặt trận phía tây thúc đẩy phong trào cách mạng ở miền núi Quảng Trị phát triển.[18]

Đầu tháng 1/1947, quân Pháp bắt đầu tiến công biên giới Việt - Lào, âm mưu theo Đường 9 đưa quân về giải vây mặt trận Huế. Ngày 10/1/1947, khoảng 500 quân Pháp vượt sông Sê Pôn, đánh vào Tổng Làng Thuận (nam Lao Bảo). Một đơn vị thuộc Tiểu đoàn 13 chặn đánh quyết liệt, buộc chúng phải rút lui. Ngày hôm sau, với sự yểm trợ của máy bay và trọng pháo, địch vượt được sông. Dù vậy, chúng cũng phải trả giá đắt, 30 tên bị loại khỏi vòng chiến. Ngày 12/1/1947, một cánh quân Pháp khác vượt biên giới, đánh chiếm Lao Bảo. Tiểu đoàn 13 cùng quân dân địa phương kiên cường chiến đấu, làm chậm bước tiến của chúng. Cùng thời gian này, một cánh quân thứ ba của Pháp từ Lào đánh vào Tà Rụt (gần giáp với Thừa Thiên) rồi tiến xuống Ba Lòng. Như vậy, trên toàn tuyến biên giới phía tây, quân dân Quảng Trị cùng lúc đối phó với 3 cánh quân của Pháp. Việc trải rộng địa bàn tác chiến cho thấy quân Pháp muốn ta phải dàn mỏng lực lượng ra để đối phó nhằm lợi dụng ưu thế về hỏa lực để dễ dàng chọc thủng các tuyến phòng ngự, nhanh chóng đưa quân về cứu nguy cho mặt trận Huế.[19]

Sau hiệp định Geneva, Trong thời Việt Nam Cộng Hoà, địa phương này thuộc xã Hướng Mỹ , Quận Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị

Những năm 1960 của Chiến tranh Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã biến nơi đây thành cơ sở cách mạng của quân đội trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (năm 1967).

Lao Bảo (Quảng Trị) là địa danh có vị trí chiến lược đặc biệt trên Đường 9, từng là nơi diễn ra các trận đánh có ý nghĩa quyết định trong Chiến tranh Việt Nam. Năm 1968, tại đây đã diễn ra trận Làng Vây (nay thuộc thôn Làng Vây, Xã Lao Bảo), nơi Quân Giải phóng lần đầu tiên sử dụng xe tăng (PT-76) tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm của lực lượng đặc biệt Mỹ, phá vỡ mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng ngự biên giới.

Trong chiến tranh Việt Nam, Lao Bảo là căn cứ địa cách mạng, góp phần quan trọng vào chiến thắng Khe Sanh – giải phóng Hướng Hóa vào 9/7/1968.

Trong chiến tranh Việt Nam, vùng đất Lao Bảo là hành lang của các cuộc hành quân càn quét của Mỹ - VNCH, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 (chiến dịch Hạ Lào) của địch những năm 1970; 1971 đánh chiếm Đường 9 - Khe Sanh, bản Đông và vùng Trung, Hạ Lào. Thời điểm này, Lao Bảo là mặt trận ác liệt nhất.[20]

Trụ sở UBND Lao Bảo, nơi đây hơn nửa thế kỷ trước là căn cứ pháo binh của Mỹ trong chiến dịch Lam Sơn 719. Cuộc chiến đấu khốc liệt của quân dân ta ở Đường 9 Nam Lào. Đầu năm 1970, Bộ quốc phòng Mỹ vạch kế hoạch mang tên Dewey Canyon II, nhằm cắt đứt đường Hồ Chí Minh từ Lao Bảo đến Sê Pôn (Lào), chặn sự tiếp viện của miền Bắc vào chiến trường miền Nam.[21]

Đến đầu năm 1971, Lao Bảo trở thành địa bàn trọng điểm trong Chiến dịch Lam Sơn 719. Tại đây, Quân Giải phóng đã triển khai thế trận phản công, sử dụng Trung đoàn 24 chốt chặn đoạn Đường 9 giữa Bản Đông và Lao Bảo để khóa chặt đường rút lui của đối phương. Chiến thắng tại khu vực này đã gây thiệt hại nặng nề, Quân Giải phóng đã chặn đánh hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp. Lực lượng tăng thiết giáp này đã mất 60% số xe tăng và một nửa số xe bọc thép, địch tháo chạy không còn tổ chức nên đã bỏ lại nguyên vẹn 54 khẩu lựu pháo 105mm và 28 khẩu pháo 155mm. Nhưng sau đó thì máy bay Mỹ quay lại ném bom phá hủy số vũ khí này.[21]

Sau năm 1975, xã Tân Phước(Lao Bảo) thuộc tỉnh Bình Trị Thiên

Tháng 9 năm 1975, thực hiện chủ trương di dân dân số theo Nghị quyết số 136/NQTU ngày 22/8/1975 của Tỉnh Ủy Quảng Trị về việc điều chỉnh mật độ dân số và di dân lên vùng núi của huyện Hướng Hóa, một bộ phận nhân dân của xã Triệu Phước,Triệu Thành, Triệu Long huyện Triệu Phong đã di dân lên xây dựng kinh tế mới tại vùng núi huyện Hướng Hóa, Quảng Trị (trong đó có xã Tân Phước, Tân Thành, Tân Long)

Tập tin:Cửa khẩu Lao Bảo 2004.png
Cửu khẩu Quốc tế Lao Bảo năm 2004

Ngày 1/8/1994, theo Nghị định số 79-CP của Chính phủ, thành lập thị trấn Lao Bảo thuộc huyện Hướng Hoá trên cơ sở xã Tân Phước (trừ bản Lệch (Bản Lệt) giao cho xã Tân Thành và một phần vùng rừng núi giao cho xã Hướng Phùng)[10][22][23]

Năm 2001, trên địa bàn xã Tân Long(Lao Bảo) phát hiện được Trống đồng Đông Sơn trong khi đào bới phế liệu. Theo kết luận: Đó là một trống đồng Đông Sơn, loại Heger I được làm cách đây khoảng 2.500-3.000 năm trước.

Tập tin:Lao Bảo 2004.png
Quốc lộ 9 . Đoạn vào Lao Bảo năm 2004

Hình dạng của trống còn tương đối nguyên vẹn. Đường kính đế là 1,27 m. Phần còn lại nguyên vẹn của đế và thân cao 72 cm. Tang trống đã bị vỡ nhưng các mảnh vỡ còn đầy đủ. Mặt trống, theo khai nhận của nguời phát hiện là đã bị hư hỏng, nhưng thực tế các cán bộ chức năng không tìm thấy một dấu vết còn lại nào trên mặt trống. Toàn bộ thân trống

Tập tin:Chợ Lao Bảo.jpg
Trung tâm thương mại Lao Bảo. Từng là nơi mua bán sầm uất nhất phía Tây Quảng Trị

được trang trí bằng các mảng hoa văn với mật độ dày đặc, diễn tả cảnh sinh hoạt của cư dân Đông Sơn.

Khu vực phát hiện trống đồng Heger I cũng là nơi mà giới khảo cổ học Pháp và Việt Nam đã nghiên cứu nhiều năm, tìm thấy nhiều di chỉ khảo cổ học thời tiền sử, sơ sử quan trọng. Đây chính là vùng đệm, giao lưu giữa hai nền văn hoá Đông Sơn và Sa Huỳnh thời hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí.[24]

Theo quy định tại Nghị quyết 60 chính thức bỏ cấp huyện từ 1/7/2025 , Thành lập xã Lao Bảo (sáp nhập thị trấn Lao Bảo, Tân Thành, Tân Long)[25]

Kinh tế

Ngày 12 tháng 11 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định 219/1998/QĐ-TTg về Quy chế khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo.[26] Quy chế này được sửa đổi, bổ sung vào ngày 11 tháng 1 năm 2002 theo Quyết định số 08/2002/QĐ-TTg.[27]

Sau đó, ngày 12 tháng 1 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg về Quy chế Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo.[28]

Một trong những điểm nhấn của hoạt động thương mại tại Lao Bảo là Trung tâm Thương mại Lao Bảo đi vào hoạt động từ năm 2003 với diện tích xây dựng hơn 10.000 m2. Hiện nay, trung tâm có khoảng 350 tiểu thương kinh doanh các mặt hàng đa dạng như quần áo, giày dép, bia rượu, gốm sứ, dịch vụ ăn uống… chủ yếu nhập khẩu từ Thái LanLào.[29]

Hướng đến 2045, Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo trở thành cực tăng trưởng kinh tế năng động, bền vững của tỉnh Quảng Trị, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế cửa khẩu quốc gia, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng đời sống người dân khu vực biên giới; trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch, logistics và công nghiệp chế biến, chế tạo; đầu mối giao thông quan trọng kết nối hành lang kinh tế Đông - Tây từ Myanmar, Thái Lan, Lào ra Biển Đông, góp phần thúc đẩy giao thương quốc tế và phát triển kinh tế khu vực.[30]

Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo được quy hoạch với tính chất là khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, hướng tới hình thành khu kinh tế thương mại qua biên giới chung Lao Bảo (Việt Nam) - Densavan (Lào), tiến tới khu thương mại tự do trong tương lai. Khu vực này sẽ được áp dụng các cơ chế ưu đãi cao đối với hoạt động thương mại biên giới, đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu sinh sống, làm việc của người dân, nhà đầu tư và du khách.[30]

Văn hóa - du lịch

Lao Bảo có nhiều di tích lịch sử, văn hóa như: Nhà tù Lao Bảo, , căn cứ làng Vây, suối La La, sông Xê Pôn, Các điểm bí mật vượt Đường 9 của đường dây 559, Địa điểm chiến thắng Khe Sanh - Làng Vây ...nhiều bản làng dân tộc, nơi hội tụ các dân tộc Pa Cô, Vân Kiều cùng với cảnh quan thiên nhiên đẹp như: hồ Tân Độ, hồ Rào Quán, hồ Khe Sanh, hồ công viên Lao Bảo, suối La La, thác Ồ Ồ, Sông Sê Pôn. Tổ chức một số hoạt động như:Chợ phiên biên giới Lao Bảo,[31] Phố đi bộ Nguyễn Huệ[32] . Mua sắm như Chợ Tân Phước, Trung tâm thương mại Lao Bảo, Siêu thị Mukdahan,... Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, Chùa Phước Bảo.

Tập tin:Nhà tù Lao Bảo th5n2023 (cây cối) (36).jpg
Đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ và phần mộ của Hồ Bá Kiện tại Nhà tù Lao Bảo

Nhà Tù Lao Bảo được công nhận là di tích đã được xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 154/BVHTT, ngày 25 tháng 1 năm 1991. Các điểm bí mật vượt Đường 9 của đường dây 559 đã được Bộ VHTT xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 236/ QĐ-VH ngày 12 tháng 12 năm 1986, nằm trong hệ di tích Đường Hồ Chí Minh - trên đất Quảng Trị .Địa điểm chiến thắng Khe Sanh - Làng Vây đã được Bộ VHTT&DL xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 319/QĐ- BVHTTDL ngày 26 tháng 01 năm 2011. Tại đây, Đặc biệt là Hệ thống đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Cụm du lịch này còn chứa đựng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của hai dân tộc Bru-Vân Kiều và Tà Ôi/Pa Cô. Với độ cao trung bình so với mực nước biển từ 400 đến 500 mét, Khe Sanh - Lao Bảo là “ốc đảo” trù phú nhờ sự hòa hợp hai vùng khí hậu Đông và Tây Trường Sơn, vừa có tính chất ôn đới vừa có nhiệt đới. Ở đây phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, xây dựng các biệt thự, khách sạn, nhà hàng gắn với cảnh quan thiên nhiên, mang kiểu dáng dân tộc với các món ăn đặc sản địa phương, kết hợp với du lịch biên mậu, du lịch quá cảnh, sẽ thu hút được nhiều du khách đến tham quan.[33]

Giao Thông

Đến thời vua Đồng Khánh, hệ thống giao thông của qua Trấn Lao Bảo được mô tả như sau:

"Một đường nhỏ từ tuần sông Hiếu đi về phía tây, qua miền thổ dân (người thiểu số) ở hai tổng Viên Kiều và Làng Thìn, đến trấn Lao Bảo, đi 2 ngày đường."

"Một đường nhỏ từ trấn Lao Bảo đi về phía bắc, qua châu Mường Vênh, chuyển sang phía tây đến châu Làng Thìn, đi 4 ngày đường"[34]

Đường 9 được khởi công xây dựng từ năm 1904 sau đó được Vantin (Valentin) - Công sứ Quảng Trị tiếp tục cho sửa sang từ Đông Hà đến Mai Lĩnh và từ Mai Lĩnh đi Lao Bảo. Đường 9 đi qua Quảng Trị dài 84 km, mặt đường hẹp có nhiều khúc cua ngoặt và đèo dốc khá nguy hiểm.

1975-1985: Tuyến Quốc lộ 9: đoạn từ Đầu Mầu đến Lao Bảo, nền đường được mở rộng, cải tạo các đoạn cua ngoặt, dốc lớn, toàn bộ mặt đường được rải nhựa rộng 7 m; hệ thống cầu cống được xây dựng vĩnh cửu hoặc bán vĩnh cửu.

Năm 2002, đầu tư xây dựng bãi đỗ xe Lao Bảo. năm 2004 tỉnh có 25 tuyến vận tải hành khách, có 1 tuyến vận tải hành khách chất lượng cao và 3 tuyến đi các tỉnh bạn Lào, bảo đảm nhu cầu đi lại thuận lợi cho nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa; trong đó mở mới 5 tuyến vận tải hành khách đến vùng sâu, vùng xa: Đông Hà - Hướng Phùng, Triệu An - Lao Bảo và Triệu Lăng - Lao Bảo, Đông Hà - Tà Rụt, Đông Hà - Lìa, chất lượng dịch vụ vận tải hành khách ngày một tốt hơn .

2011-2016: Mở thêm tuyến Hồ Xá đi Lao Bảo

Xã có quốc lộ 9 đi qua. Dự kiến sẽ có đường cao tốc Cam Lộ - Lao Bảo, tuyến đường sắt Savannakhet – Lao Bảo, đường sắt Lao Bảo - Mỹ Thuỷ.[35].

Hình ảnh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă "thông tin xã Lao Bảo (cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Trị". Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2026.
  2. ^ Phân tích dựa trên bản đồ địa chất, địa mạo tỉnh Quảng Trị
  3. ^ Địa chí Quảng Trị tr.203
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên nasa
  5. ^ Địa chí Quảng Trị tr.116
  6. ^ "PHẦN I- Giới thiệu khái quát về Thị trấn Lao Bảo".
  7. ^ a ă "Giới thiệu về xã Lao Bảo".
  8. ^ Việt, Báo Dân (ngày 13 tháng 6 năm 2026). "Sáp nhập thôn, tổ dân phố mới nhất ở Quảng Trị, xã Lao Bảo sẽ còn mấy thôn?". vietnam.vn. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
  9. ^ Địa chí Quảng Trị tr.420
  10. ^ a ă â Địa chí Quảng Trị.
  11. ^ Phù Biên Tạp Lục tr.50
  12. ^ Đại Nam thực lục thư tiền biên, tập I. Hà Nội: NXB Sử học. 1962. tr. 50.
  13. ^ Đại Nam thực lục thư chính biên, tập IV. Hà Nội: NXB Sử học. 1963. tr. 349.
  14. ^ a ă laodong.vn https://laodong.vn/phong-su/lao-bao-thanh-pho-cua-mot-nua-dong-se-pon-603165.ldo. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  15. ^ Yên mã sơn; (Trang 59- 60) (2025). Còn chút phong hương. Nhà xuất bản Thuận Hoá.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  16. ^ Yên Mã Sơn. "Tên gọi Lao Bảo có từ khi nào?".
  17. ^ "Isabelle Massieu", Wikipédia (bằng tiếng Pháp), ngày 12 tháng 11 năm 2025, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2026
  18. ^ Địa chí Quảng Trị tr.524
  19. ^ Địa chí Quảng Trị tr.525
  20. ^ Congluan, Thuonghieu &. "Về Lao Bảo, xúc động với sự hồi sinh của vùng đất miền biên viễn". Báo điện tử Thương hiệu và Công luận - Cơ quan trung ương của Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2026.
  21. ^ a ă laodong.vn https://laodong.vn/phong-su/ky-2-lao-bao-khuc-khai-hoan-cua-co-603167.ldo. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  22. ^ Quyết định 79-CP thành lập và đổi tên một số xã, thị trấn thuộc các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa
  23. ^ "Kỷ niệm 20 năm thành lập thị trấn Lao Bảo". Cổng thông tin điện tử huyện Hướng Hóa. ngày 4 tháng 8 năm 2014.[liên kết hỏng]
  24. ^ "Trống đồng 3.000 tuổi trong lòng đất Quảng Trị".
  25. ^ Nghị quyết số 1680/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Quảng Trị năm 2025
  26. ^ "Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg về Quy chế khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị do Thủ tướng Chính phủ ban hành".
  27. ^ "Quyết định số 08/2002/QĐ-TTg về việc sửa đổi Quy chế khu thương mại Lao Bảo tỉnh Quảng Trị kèm theo Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành".
  28. ^ "Quyết định số 11/2005/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị".
  29. ^ "Khu kinh tế - Thương mại Lao Bảo: Phát huy vai trò đầu mối giao thương (Báo tin tức)".
  30. ^ a ă "Bộ Xây dựng thẩm định Nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị đến năm 2045". www.moc.gov.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2026.
  31. ^ baoquangtri.vn (ngày 31 tháng 12 năm 2024). "Độc đáo, hấp dẫn Chợ phiên biên giới Lao Bảo". Báo Quảng Trị. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
  32. ^ "Phố đi bộ Nguyễn Huệ tại thị trấn vùng biên Lao Bảo có gì mới lạ?". Báo điện tử Thương hiệu và Công luận - Cơ quan trung ương của Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
  33. ^ Địa chí Quảng Trị. Phụ lục: HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ DANH LAM THẮNG CẢNH TIÊU BIỂU
  34. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh dư địa chí, Sách điện tử, tr. 1397
  35. ^ . Sở Giao thông vận tải Quảng Trị, Giao thông vận tải Quảng Trị 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015), Sđd. tr. 150 - 151

Liên kết ngoài