Bước tới nội dung

Hướng Hóa

16°42′B 106°42′Đ / 16,7°B 106,7°Đ / 16.7; 106.7
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hướng Hóa
Huyện
Tập tin:Biểu trưng huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.svg
Biểu trưng
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
TỉnhQuảng Trị
Trung tâm hành chínhThị trấn Khe Sanh
Trụ sở UBND148 Lê Duẩn, khối 2, thị trấn Khe Sanh
Phân chia hành chính2 thị trấn, 19 xã
Lịch sử hình thành
Thành lập30/6/1989
Giải thể1/7/2025
Tổ chức lãnh đạo
Bí thư Huyện ủyLê Minh Tuấn
Chủ tịch UBNDĐặng Trọng Vân
Chủ tịch HĐNDLê Minh Tuấn
Chủ tịch UBMTTQHồ Ngọc Tình
Chánh án TANDTrần Văn Phương
Viện trưởng VKSNDNguyễn Văn Thuận
Địa lý
Tọa độ: 16°42′B 106°42′Đ / 16,7°B 106,7°Đ / 16.7; 106.7
Bản mẫu:MaplinkBản đồ huyện Hướng Hóa
Hướng Hóa trên bản đồ Việt Nam
Hướng Hóa
Hướng Hóa
Vị trí huyện Hướng Hóa trên bản đồ Việt Nam
Diện tích1.151 km2
Dân số (2019)
Tổng cộng90.918 người
Thành thị24.282 người
Nông thôn66.636 người
Mật độ79 người/km²
Dân tộcKinh, Vân Kiều, Pa Cô (Tà Ôi)...
Khác
Mã hành chính465[1]
Biển số xe74-H1
Websitehuonghoa.quangtri.gov.vn

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Hướng Hóa là một huyện miền núi biên giới cũ nằm ở phía tây tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.[2]

Địa lý

Huyện Hướng Hóa cách thành phố Đông Hà khoảng 65 km về phía tây,[3][4] có vị trí địa lý:

Nơi đây có Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nằm trên trục Quốc lộ 9A thông thương với Lào. Đường mòn Hồ Chí Minh xuyên suốt từ phía bắc đến đông nam của huyện, sang Thừa Thiên – Huế. Huyện có biên giới dài 156 km thuộc 11 xã tiếp giáp với Lào. Trong đó con sông Sêpôn là biên giới tự nhiên với gần 100 km giữa huyện với nước Lào tại phía tây nam của huyện.

Diện tích tự nhiên toàn huyện 1151 km², dân số 90.920 ng­ười (2019). Huyện nằm hoàn toàn trên dãy Trường Sơn nên địa hình phần lớn vùng núi cao ở phía bắc, với đỉnh cao nhất 1617 m, vùng núi đông bắc và tây nam thấp hơn; xen kẽ là dải đất thấp theo đường QL9 từ Đa Karông đến biên giới Việt - Lào.

Huyện Hướng hóa có hệ thống sông suối đa dạng và rất đặc biệt. Ngoài sông Sêpôn là biên giới tự nhiên Việt - Lào, Hướng Hóa có hàng trăm con suối, hàng chục con sông nhỏ, đều bắt nguồn tại chính địa bàn huyện mình (hầu như không có sông suối bắt nguồn từ huyện khác chảy vào Hướng Hóa) rồi chảy ngược miền núi Quảng Bình, sang Gio Linh, Cam Lộ, Đakrông; nhiều sông nhỏ là chi lưu sông Sê Pôn. Trong đó sông Rào Quán là sông dài và quan trọng nhất, là một trong hai nhánh lớn đầu nguồn, dồi dào nguồn nước của sông Thạch Hãn; với một hồ nước nổi tiếng giữa trung tâm huyện. (Sông Rào Quán hợp lưu với sông Đakrông thành đoạn sông Ba Lòng)

Các dân tộc sinh sống ở huyện Hướng Hóa gồm: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô (Tà Ôi).

Hành chính

Tập tin:Chợ Lao Bảo.jpg
Chợ thị trấn Lao Bảo, thuộc huyện Hướng Hóa

Huyện Hướng Hóa có 21 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Khe Sanh (huyện lỵ), Lao Bảo và 19 xã: A Dơi, Ba Tầng, Húc, Hướng Lập, Hướng Linh, Hướng Lộc, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Tân, Hướng Việt, Lìa, Tân Hợp, Tân Lập Tân Liên, Tân Long, Tân Thành, Thanh, Thuận, Xy.

Lịch sử

Dấu vết tiêu biểu về sự tụ cư của con người được các nhà khảo cổ phát hiện trên địa bàn Hướng Hóa là những công xưởng chế tác công cụ đá tập trung ở xã Hướng Lập, Hướng Linh với các di chỉ Cù Bai, Tà Păng, Sê Pu, Bản Rạc, Bản Hong cho thấy đây là các “di chỉ - xưởng” (hay gọi là công xưởng chế tác công cụ đá) của một bộ phận người nguyên thủy có số lượng đáng kể thuộc thời đại đồ đá mới - sơ kỳ kim khí từng cư trú trên vùng núi rừng Quảng Trị và có mối quan hệ về giao lưu trao đổi thông qua “con đường công cụ” theo chiều tây đông trên con đường thượng đạo xuyên sơn nối biển với rừng, nối nội địa với khu vực rộng lớn ở đông nam Á.

Dưới thời vương quốc Chămpa, vùng đất Hướng Hóa thuộc các tộc người MônKhơme sinh sống mà hậu duệ của họ là thuộc 2 tộc người Bru - Vân KiềuTà Ôi ngày nay. Họ tồn tại một cách độc lập theo tổ chức xã hội tự quản làng bản và không bị lệ thuộc vào nhà nước. Thời Trần - Hồthuộc Minh, vùng Hướng Hóa ngày nay nằm trong huyện Thạch Lan (1 trong 4 huyện của châu Thuận), thuộc châu Thuận, trấn Thuận Hóa.[5]

Thời - Mạc, từ khi châu Thuận được cải đặt thành hai huyện: Hải Lăng và Vũ Xương cùng với 2 châu: Sa Bôi và Thuận Bình[6] thì vùng đất Hướng Hóa hiện nay nằm trong châu Sa Bôi, phủ Triệu Phong, Thừa tuyên Thuận Hóa. Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì: “Thuận Bình và Sa Bôi nguyên là đất Ai Lao, từ đời Lê về trước gọi là nguồn Cam Lộ. Châu Sa Bôi có 11 trang, 60 sách, châu Thuận Bình có 19 sách, 10 động. Đời Hồng Đức có lệ cống thổ sản; sau Thuận Bình đổi tên là Tĩnh Yên”[7] Châu Sa Bôi là đơn vị hành chính và cũng là “nơi cư trú của các làng bản thổ dân” thuộc nguồn Cảo Cảo ở trên địa bàn huyện Vũ Xương[8] .Nguồn Cảo Cảo là thuộc lưu vực thượng nguồn của sông Hiếu/Hiếu Giang. Số lượng các đơn vị cư trú của các tộc Man (tức người Bru - Vân KiềuTà Ôi/Tôi Ôi) thuộc châu Sa Bôi được biên chép một cách khái lược trong mục thuế khóa của sách Ô châu cận lục có 11 trang, 68 sách, 8 động[8] . Nhưng theo bản đồ Hồng Đức thì châu Sa Bôi có 10 tổng, 68 xã . Khảo cứu về đơn vị hành chính 2 châu này thời Lê - Mạc cho đến nay vẫn còn bỏ ngõ.

Thời chúa Nguyễn, châu Sa Bôi thuộc huyện Vũ Xương. Các bộ lạc gọi là châu hoặc tổng, châu thì có sách Man, tổng thì có sách nguồn. Thời Nguyễn, khi lập dinh Quảng Trị, vùng phía tây đặt đạo Cam Lộ; mọi việc cống Man, thuế Man đều thuộc dinh Quảng Trị. Đời Gia Long vẫn đặt 2 châu Thuận Bình và Sa Bôi và 2 loại cống Man và thuế Man; cống Man gọi là châu Mường, thuế Man gọi là châu Bạn. Theo danh hiệu khảo được từ Đại Nam nhất thống chí thì châu Sa Bôi có 2 mường là: Na Bôn (T’chepone) và Thượng Kế (Mường Nòng); châu Tĩnh Yên (tên cũ là Thuận Bình) có 3 mường là: Tá Bang (Pha Bang), Xương Thịnh (Xiêng Hem) và Tầm Bồn (Mường Phong). Ngoài ra có 8 sách là: Ba Lan (Pha Lan), Mường Bổng (Nam Nan), Làng Thìn (Mường Phìn), Làng Tổng, Làng Liên, Làng Tán, Lá Mít, A Di và 4 nguồn là: Viên Kiệu, Tầm Linh, Ô Giang, Cổ Lâm; 6 tộc là: Làng Hạ, Tầm La, Làng Khống, Kỳ Tháp, Hương Bạn, Làng Lục. Trên cơ sở này, nên đến năm 1822, Minh Mạng mới lấy 4 sách Viên Kiệu, Tầm Linh, Làng Tổng và Làng Liên đặt làm châu Hướng Hóa (tức là vùng đất Hướng Hóa, Đakrông ngày nay), lệ vào đạo Cam Lộ; đến năm 1827, khi sa trưởng (tù trưởng, già làng) các châu dâng sổ đinh điền và xin cho đứng vào hàng châu huyện mới đem 1 đạo Mường Vang, 7 châu: Sa Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng và 1 sách Làng Thìn, cả thảy 9 cống man, đổi làm 9 châu (tức cửu châu kymi - vùng đất hoàn toàn nằm trên đất Lào hiện nay), còn 4 nguồn, 5 sách và 6 tộc thuế man thì đổi làm 15 tổng, đều thuộc châu Hướng Hóa; 15 tổng sau hợp lại làm 9 tổng thuộc Đạo Cam Lộ[7] Số lượng sách, trang của cửu châu kymi không khảo cứu được vì nhà Nguyễn cũng không thể thiết lập chính quyền cơ sở của vùng này. Sách Đồng Khánh địa dư chí cho biết vào thời này, người Thượng (thổ dân) ở 9 châu xiêu dạt ở ngoài, 3 châu là Tầm Bồn, Ba Lan và Mường Bổng; hiện chỉ còn 6 châu là Mường Vang, Na Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Làng Thìn, Xương Thịnh. Nhưng 9 tổng người Thượng thì được biên chép rành rẽ, trong đó, trên địa bàn huyện Hướng Hóa ngày nay bao gồm ít nhất là 6 tổng, gồm: Tầm Linh (6 xã, ấp), A Nhi (8 ấp), Làng Hạ (9 ấp), Tầm Thanh (5 xã, ấp), La Miệt (5 xã, ấp) và Ô Giang (4 ấp)[9]

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), đổi đạo Cam Lộ làm phủ Cam Lộ kiêm lý châu Hướng Hóa và thống hạt 9 châu. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), đổi châu Hướng Hóa làm huyện Hướng Hóa. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đổi tên huyện Hướng Hóa thành huyện Thành Hóa, huyện lỵ Thành Hoá đặt tại thành Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Cam Thành, huyện Cam Lộ). Năm Tự Đức thứ 6 (1852), bỏ phủ Cam Lộ, huyện Thành Hóa và Cửu Châu do đạo quản lý. Năm Tự Ðức thứ 29 (1876), đặt lại phủ Cam Lộ kiêm lý huyện Thành Hoá như trước[10] Đến thời Thành Thái, huyện Thành Hóa đổi lại thành huyện Hướng Hóa; huyện nha đóng tại xã Húc Thượng, tổng Viên Kiều (sau dời đến Mai Lĩnh). Thời gian này, huyện Hướng Hóa bao gồm cả phần đất của huyện Hướng Hóa, huyện Đakrông (trừ vùng Ba Lòng) và cả huyện Cam Lộ hiện tại.[11]

Thời Duy Tân bỏ phủ Cam Lộ đặt thành huyện Cam Lộ và đặt lại huyện Hướng Hóa (1908). Huyện nha cũng đặt tại xã Húc Thượng tổng Viên Kiều[11][12] . Lúc này, huyện Hướng Hóa chỉ bao gồm vùng đất huyện Hướng Hóa và Đakrông ngày nay. Theo danh mục xã ấp các tổng của huyện Hướng Hóa chép trong Đồng Khánh địa dư chí thì trên địa bàn huyện Hướng Hóa hiện nay lúc bấy giờ có các xã, ấp sau:

- Tổng Tầm Linh, 6 xã, ấp, gồm: Xã Tầm Linh, xã Phú Bồn, ấp Làng Ô, ấp Chu Lai, xã Chiếu Chúc, ấp Hạ Ðường.

- Tổng A Nhi, 8 ấp, gồm: Ấp A Nhi Thượng, ấp A Nhi Hạ, ấp Làng Triện, ấp Làng Tiếp, ấp Mai Thái, ấp Ðồi Mồi, ấp A Lai, ấp Phủ Trinh.

- Tổng Làng Hạ, 9 ấp, gồm: Ấp Làng Hạ, ấp Kỳ Tháp Thượng, ấp Kỳ Tháp Hạ, ấp Làng Khóng Thượng, ấp Làng Khóng, ấp Làng Lục, ấp Hương Bạn Ðông, ấp Hương Bạn Tây, ấp Sung Ngu.

- Tổng Tầm Thanh, 5 xã, ấp, gồm: Ấp Tầm Thanh, xã Tầm Thanh, ấp A Ðôn, ấp Phù Tôn, ấp Phù Dung.

- Tổng La Miệt, 5 xã, ấp, gồm: Xã La Miệt Thượng, xã La Miệt Hạ, ấp Tầm La Thượng, ấp Tầm La Hạ, ấp Làng Tán[13]

Tập tin:Map by the US Army Map Service - Huong Hoa - - laos - huong hoa-6342-3.pdf
Bản đồ quân đội Mỹ, Hướng Hoá

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, từ sau Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ II (tháng 2 năm 1950), huyện Hướng Hóa có 14 đơn vị hành chính cấp xã được phân chia thành hai khu vực: Khu vực bắc Đường 9 gồm các xã: Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập, Hướng Tân, Hướng Linh. Khu vực nam Đường 9 có các xã: Hướng Sơn, Tà Long, Hướng Điền, Hướng Học, Hướng Khai, Hướng Phong, Hướng Vân, Hướng Minh, Hướng Lâm[14] .Trên địa bàn huyện Hướng Hóa hiện nay có các xã: Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập, Hướng Tân, Hướng Linh, Hướng Vân, Hướng Minh, Hướng Lâm.Sau Hiệp định Genève (20/7/1954), từ năm 1955, chính quyền VNCH chưa quản lý được vùng phía tây Quảng Trị. Theo Nghị định số 4245-NĐ-PC ngày 8/12/1955 của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Trị phía nam sông Bến Hải gồm có 6 quận, 65 xã và 395 thôn; trong đó vùng đất thuộc Hướng Hóa ngày nay, tức quận Hướng Hóa chỉ thấy ghi được 1 xã, 3 thôn[15] . Điều đó cho thấy chính quyền VNCH chưa thiết lập được các đơn vị hành chính ở khu vực này. Mãi đến năm 1958, Theo bản “Danh sách các xã với tình hình phong hoá, an ninh trật tự, kinh tế nhân vật biệt xứ có uy tín” của Tỉnh trưởng Quảng Trị Nguyễn Văn Đông lập ngày 22/1/1958[16]. thì quận Hướng Hóa vẫn chỉ có 1 xã là xã Hướng Văn với 2 thôn là Trung Thuận và Thượng Văn.

Từ ngày 17/5/1958, theo Nghị định 215-HC/P6 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hoà, quận Hướng Hóa (bao gồm cả huyện Đakrông ngày nay) có 14 xã, gồm: Hướng Văn, Hướng Trung, Hướng An, Hướng Mỹ, Hướng Thuận, Hướng Thọ, Hướng Quảng, Hướng Mai, Hướng Lộc, Hướng Vinh, Hướng Phúc, Hướng Bình, Hướng Chính, Hướng Thạnh. Quận lỵ đóng tại xã Hướng Văn[17] Đến tháng 6/1965, quận Hướng Hoá chỉ còn lại 9 xã: Hướng Văn, Hướng Trung, Hướng An, Hướng Mỹ, Hướng Thuận, Hướng Thọ, Hướng Lộc, Hướng Vinh, Hướng Phúc với 56 ấp. Quận lỵ đóng tại thôn Khe Sanh, xã Hướng Văn [18] . 5 xã: Hướng Quảng, Hướng Mai, Hướng Bình, Hướng Chính, Hướng Thạnh không rõ sáp nhập vào xã nào, nhưng không còn nữa.[19]

Về phía chính quyền cách mạng, sau khi huyện Hướng Hóa được giải phóng (9/7/1968), hệ thống chính quyền của VNCH bị xóa bỏ. Chính quyền giải phóng chia huyện Hướng Hóa thành 2 huyện: Nam Hướng HóaBắc Hướng Hóa. Tuy nhiên, phải đến sau khi tỉnh Quảng Trị được giải phóng (1/5/1972), các UBND lâm thời của 2 huyện mới được thành lập[20] . Các xã cụ thể của 2 huyện này đến nay chưa khảo cứu được.[21]

Sau năm 1975, huyện Hướng Hóa thuộc tỉnh Bình Trị Thiên, bao gồm thị trấn Khe Sanh và 27 xã: A Bung, A Dơi, A Ngo, A Túc, A Vao, A Xing, Ba Nang, Ba Tầng, Húc, Húc Nghì, Hướng Linh, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Tân, Kỳ Nơi, Tà Long, Tà Rụt, Tân Độ, Tân Hợp, Tân Lập, Tân Liên, Tân Long, Tân Phước, Tân Thành, Thành, Thuận Thành, Xy.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, chuyển xã Hướng Lập thuộc huyện Vĩnh Linh về huyện Hướng Hóa quản lý.[22] Huyện Hướng Hóa bao gồm thị trấn Khe Sanh và 28 xã: A Bung, A Dơi, A Ngo, A Túc, A Vao, A Xing, Ba Nang, Ba Tầng, Húc, Húc Nghì, Hướng Lập, Hướng Linh, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Tân, Kỳ Nơi, Tà Long, Tà Rụt, Tân Độ, Tân Hợp, Tân Lập, Tân Liên, Tân Long, Tân Phước, Tân Thành, Thành, Thuận Thành, Xy.

Ngày 18 tháng 5 năm 1981, thành lập xã Đakrông trên cơ sở sáp nhập các thôn Tà Linh, Ba Từng, Chân Rò tách từ xã Tà Long, và các thôn Ba Ngao, Tà Cu, Làng Cát và Vùng Kho tách từ xã Húc; sáp nhập xã A Túc và xã Kỳ Nơi thành xã A Túc.[23]

Ngày 17 tháng 9 năm 1981, chuyển 2 xã Mó Ó và Hướng Hiệp của huyện Bến Hải về huyện Hướng Hóa quản lý. Huyện Hướng Hóa có thị trấn Khe Sanh và 30 xã: A Bung, A Dơi, A Ngo, A Túc, A Vao, A Xing, Ba Nang, Ba Tầng, Đakrông, Húc, Húc Nghì, Hướng Hiệp, Hướng Lập, Hướng Linh, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Tân, Mò Ó, Tà Long, Tà Rụt, Tân Độ, Tân Hợp, Tân Lập, Tân Liên, Tân Long, Tân Phước, Tân Thành, Thành, Thuận Thành, Xy.[24]

Ngày 6 tháng 1 năm 1983, chia xã Thuận Thành thành 2 xã: Thuận và Hướng Lộc.[25]

Ngày 12 tháng 1 năm 1984, sáp nhập xã Tân Độ vào thị trấn Khe Sanh.[26]

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Trị được tái lập từ Bình Trị Thiên cũ, huyện Hướng Hóa trực thuộc tỉnh Quảng Trị.[27]

Ngày 1 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Tân Phước thành thị trấn Lao Bảo.[28]

Đến cuối năm 1995, huyện Hướng Hóa bao gồm 2 thị trấn: Khe Sanh (huyện lị), Lao Bảo và 29 xã: A Bung, A Dơi, A Ngo, A Túc, A Vao, A Xing, Ba Nang, Ba Tầng, Đakrông, Húc, Húc Nghì, Hướng Hiệp, Hướng Lập, Hướng Linh, Hướng Lộc, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Tân, Mò Ó, Tà Long, Tà Rụt, Tân Hợp, Tân Lập, Tân Liên, Tân Long, Tân Thành, Thanh, Thuận, Xy.

Ngày 17 tháng 12 năm 1996, tách 10 xã: Mò Ó, Hướng Hiệp, Đakrông, Tà Long, Húc Nghì, Tà Rụt, A Vao, A Ngo, A Bung và Ba Nang để thành lập huyện Đakrông. Huyện Hướng Hóa còn lại 2 thị trấn và 19 xã.[29]

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, thành lập xã Hướng Việt trên cơ sở 6.520 ha diện tích tự nhiên và 1.208 nhân khẩu của xã Hướng Lập.[30]

Ngày 1 tháng 1 năm 2020, sáp nhập xã A Xing và xã A Túc thành xã Lìa.[31]

Huyện Hướng Hóa có 2 thị trấn và 19 xã.

Theo quy định tại Nghị quyết 60 chính thức bỏ cấp huyện từ 1/7/2025 . Sau sáp nhập địa bàn huyện Hướng Hóa cũ còn 7 xã, gồm Hướng Lập (sáp nhập xã Hướng Lập, Hướng Việt); Hướng Phùng (sáp nhập Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh); Khe Sanh (sáp nhập thị trấn Khe Sanh, Tân Hợp, Húc, Hướng Tân); xã Tân Lập (sáp nhập Tân Lập, Tân Liên, Hướng Lộc); Lao Bảo (sáp nhập thị trấn Lao Bảo, Tân Thành, Tân Long); Lìa (sáp nhập Lìa, Thanh, Thuận); A Dơi (sáp nhập A Dơi, Ba Tầng, Xy).[32]

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ "Tổng cục Thống kê". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2022.
  2. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  3. ^ Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 tờ E-48-82-C. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, 2004.
  4. ^ Thông tư 06/2014/TT-BTNMT ngày 12/02/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Danh mục địa danh dân cư... phục vụ lập bản đồ phần đất liền tỉnh Quảng Trị. Thuvien Phapluat Online, 2016. Truy cập 10/08/2019.
  5. ^ Phù Biên Tạp Lục. Lê Quý Đôn. tr. 37–38.
  6. ^ Phủ biên tạp lục. Lê Quý Đôn. tr. 41.
  7. ^ a ă Quốc sử Quán triều Nguyễn. Đại Nam Nhất Thống chí. NXB Huế. tr. 102.
  8. ^ a ă Ô Châu Cận Lục.
  9. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn. Đồng Khánh dư địa chí. NXB Huế. tr. 1394–1395.
  10. ^ Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Đại Nam Nhất thống chí, Tập I. tr. 103.
  11. ^ a ă Địa chí Quảng Trị. tr. 112.
  12. ^ Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. tr. 99.
  13. ^ Quốc sử quán triều nguyễn. Đồng Khánh dư địa chí. tr. 1394–1395.
  14. ^ Huyện Uỷ Hướng Hoá (1993). Lịch sử đảng bộ huyện Hướng Hoá (1930-1975). tr. 78.
  15. ^ Nghị định số 4245-NĐ-PC ngày 8/12/1955 và Nghị định số 1884-NĐ-PC ngày 1/10/1956 của Chính phủ VNCH tại Trung Việt. Dẫn theo Nguyễn Đình Tư, Non nước Quảng Trị, Sđd, tr. 109.
  16. ^ “Danh sách các xã với tình hình phong hoá, an ninh trật tự, kinh tế nhân vật biệt xứ có uy tín” của tỉnh Quảng Trị thời Việt Nam Cộng hoà, Tài liệu đánh máy lưu trữ tại TTLTQG II.
  17. ^ Nghị định 215-HC/P6 ngày 17/5/1958 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hoà. Dẫn theo Nguyễn Quang Ân, Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997, Sđd, tr. 102 - 103.
  18. ^ . Việt Nam Cộng hoà, Địa phương chí tỉnh Quảng Trị, Toà Hành chánh tỉnh Quảng Trị ấn hành, 1966, tr. 38 - 39.
  19. ^ Địa chí Quảng Trị. tr. 114–115.
  20. ^ . Huyện ủy Hướng Hóa, Lịch sử Đảng bộ huyện Hướng Hóa (1930 - 1975), Sđd, tr. 207.
  21. ^ Địa chí Quảng Trị, tr.114
  22. ^ Quyết định số 62-CP năm 1977
  23. ^ Quyết định 187-CP điều chỉnh địa giới xã, thị trấn thuộc tỉnh Bình Trị Thiên
  24. ^ Quyết định 73-HĐBT phân vạch địa giới xã thuộc tỉnh Bình Trị Thiên
  25. ^ Quyết định 03-HĐBT phân vạch địa giới xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Bình Trị Thiên
  26. ^ Quyết định 7-HĐBT phân vạch địa giới xã, thị trấn thuộc tỉnh Bình Trị Thiên
  27. ^ Nghị quyết phân vạch địa giới hành chính của các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên
  28. ^ Quyết định 79-CP thành lập và đổi tên một số xã, thị trấn thuộc các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa.
  29. ^ Nghị định 83-CP thành lập huyện Đakrông thuộc tỉnh Quảng Trị
  30. ^ Nghị định 08/2004/NĐ-CP thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Đakrông, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
  31. ^ "Nghị quyết số 832/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Quảng Trị".
  32. ^ "Tên gọi dự kiến của 37 đơn vị hành chính cấp xã ở Quảng Trị sau sáp nhập".. laodong.vn https://laodong.vn/thoi-su/ten-goi-du-kien-cua-37-don-vi-hanh-chinh-cap-xa-o-quang-tri-sau-sap-nhap-1493667.ldo. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Liên kết ngoài trong |last= (trợ giúp); templatestyles stripmarker trong |last= tại ký tự số 1 (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)

Liên kết ngoài