Chân Kim
Chân Kim (chữ Hán: 真金, La-tinh hóa: jinggim, chữ Tây Lý Nhĩ: Чингим, 8 tháng 7 năm 1243 – 5 tháng 1 năm 1286)[1] là một Hoàng thái tử nhà Nguyên.
| Chân Kim 真金 | |
|---|---|
| Hoàng thái tử nhà Nguyên | |
| Tại vị | 1261 - 1286 |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 8 tháng 7 năm 1243 |
| Mất | 5 tháng 1 năm 1286 |
| Phối ngẫu | Khoát Khoát Chân |
| Hậu duệ | Đáp Lạt Ma Bát Lạt Nguyên Thành Tông |
| Thân phụ | Nguyên Thế Tổ |
| Thân mẫu | Hoàng hậu Sát Tất |
Ông là con trai của Nguyên Thế Tổ, thân phụ của Nguyên Thành Tông và Đáp Lạt Ma Bát Lạt, tổ phụ của Nguyên Vũ Tông và Nguyên Nhân Tông. Tất cả các hoàng đế nhà Nguyên trở về sau đều là hậu duệ trực hệ của ông.
Cuộc đời
Xuất thân
Ông sinh vào năm 1243 dưới thời kỳ nhiếp chính của Hoàng hậu Thoát Liệt Ca Na, chính cung của Oa Khoát Đài; là con trai thứ hai của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, sinh mẫu là Hoàng hậu Sát Tất thuộc dòng họ Hoàng Cát Lạt thị, kế thất của cha ông đồng thời cũng là người đầu tiên chính thức nhận sắc phong Hoàng hậu của triều đại nhà Nguyên. Trước khi ông sinh ra, Hốt Tất Liệt có một con trai cũng do Sát Tất sinh ra là Đóa Nhân Chỉ (朵儿只) nhưng chết yểu, vì vậy Chân Kim là con trai trưởng dòng đích của ông.
Hành trạng
Thời thiếu niên, Chân Kim đã theo các học giả người Hán là Diêu Khu và Đậu Mặc để đọc sách Khải Kinh. Năm 1260, Hốt Tất Liệt mở hội nghị Khố Lý Đài, qua đó tự phong làm Đại hãn Mông Cổ, lấy niên hiệu Trung Thống (中統). Năm Trung Thống thứ 2 (1261), ông được phong làm Yến vương (燕王), thống lĩnh Trung thư tỉnh. Đến năm Chí Nguyên thứ 10 (1273) thì được lập làm Hoàng thái tử, đồng thời giao quyền cai quản Trung thư tỉnh cho ông. Hiện tại sách văn ban phong của ông vẫn còn, cụ thể như sau:
Hoàng đế dụ rằng: Nghĩ đến Hoàng thái tử Chân Kim, kính cẩn suy xét di huấn của Thái Tổ Hoàng đế: Trong các con trai dòng Đích, người nào có khả năng kế thừa nghiệp thống thì định sẵn từ trước. Vì vậy mới lập Thái Tông Anh Văn Hoàng đế để nối nghiệp hưng thịnh. Từ đó về sau, do không lập đích trưởng công khai nên đã khơi mào tranh đoạt. Trẫm trên vâng theo quy chế lớn của tổ tông, dưới thuận theo lời nghị đồng lòng của các vương đệ, Bởi vậy từ thời ở phủ Yến đã lập ngươi làm Hoàng thái tử, tính đến nay đã nhiều ngày. Vừa qua các nho thần dâng sớ tâu rằng việc quốc gia lập trữ tự kế vị Nên có sách mệnh, đó chính là điển lễ vậy. Nay phái Nhiếp Thái úy, Tả thừa tướng Bá Nhan cầm tiết đến trao cho ngươi Ngọc sách Kim bảo. Than ôi! Mưu kế sâu xa của thánh vũ, ngươi hãy kính cẩn gánh vác. Hòa hợp cùng các vương đệ tông thân, ngươi hãy giữ lòng đồng thuận. Hãy khiến đức nhân hiếu hiển rõ qua hành động của bản thân, có như vậy mới gọi là không phụ lòng phó thác. Hãy kính cẩn răn đe điều đó, chớ làm trái mệnh của Trẫm.
Cùng năm đó vào ngày 13 tháng 3, Nguyên Thế Tổ phái Đồng tri Khu mật viện sứ Bá Nhan (伯顏) đến giao kim sách kim bảo cho Chân Kim[2]
Năm Chí Nguyên thứ 22 (1285), có ngự sử dâng sớ nói rằng Nguyên Thế Tổ nên nhượng vị lại cho Thái tử. Đồng đảng còn sót lại của A Hợp Mã là Tháp Tức Cổ biết chuyện liền mượn danh nghĩa kiểm toán để niêm phong tấu chương của Ngự sử đài rồi trình báo lên Nguyên Thế Tổ, kết quả Hoàng đế đùng đùng nổi giận. Từ đó Chân Kim rơi vào trạng thái lo sợ u sầu khôn nguôi, tích u uất lâu ngày hóa thành trọng bệnh. Sang năm sau (1286), ông qua đời. Nguyên Thế Tổ khi này mới biết con trai bị oan, trong niềm hối hận muộn màng đã hết lòng hậu đãi các hậu duệ của ông. Đến năm Chí Nguyện thứ 30 (1293), tặng thụy hiệu Minh Hiếu Thái tử (明孝太子), đồng thời lập con trai thứ của ông là Thiết Mộc Nhĩ làm Hoàng thái tôn. Năm thứ 31 (1294), Thiết Mộc Nhĩ đăng cơ tức Nguyên Thành Tông, truy phong thân phụ làm Hoàng đế, miếu hiệu Dục Tông (裕宗), thụy hiệu là Văn Huệ Minh Hiếu Hoàng đế (文惠明孝皇帝)[3]
Gia quyến
Cha mẹ
- Thân phụ: Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt
- Thân mẫu: Chiêu Duệ Thuận Thánh Hoàng hậu Sát Tất
Thê thiếp
- Thái tử phi Khoát Khoát Chân (阔阔真, 1240 - 1300), Hoằng Cát Lạt thị, hậu duệ của Án Trần - anh trai Hoàng hậu Bột Nhi Thiếp của Thành Cát Tư Hãn. Thái tử phi đầu tiên của nhà Nguyên, lập năm 1260, sau khi Thành Tông đăng cơ sách lập Hoàng thái hậu, thụy hiệu đầy đủ là Huy Nhân Dụ Thánh Hoàng hậu (徽仁裕聖皇后)[4].
- Cung phi An Chân Mê Thất (安真迷失), được ghi chép trong phần Hậu phi biểu của Nguyên sử.
- Cung phi Phổ Yến Khiếp Lý Mê Thất (普顏怯里迷失), chưa thành hôn đã qua đời, vì vậy được tái giá với Cam Ma Lạt.
Hậu duệ
Vương tử
- Trưởng tử Cam Ma Lạt (甘麻剌, 1263 - 1302), mẹ là Khoát Khoát Chân. Được phong Yên vương (梁王), sau cải thành Tấn vương (晉王), sau tặng Nguyên Hiến Tông (元顯宗).
- Đích thê: Phổ Yến Khiếp Lý Mê Thất (普顏怯里迷失), Hoằng Cát Lạt thị, tặng Tuyên Ý Thục Thánh Hoàng hậu (宣懿淑聖皇后).
- Tử:
- Tùng Sơn (松山), phong Lương vương (梁王).
- Dã Tôn Thiết Mộc Nhĩ (也孫鐵穆耳), sau là Nguyên Thái Định Đế.
- Diệc Lý Ca Nhi Bất Hoa (迭里哥兒不花), phong Bắc Ninh vương (北寧王), cải phong Tương Ninh vương (湘寧王).
- Nữ:
- Bảo Tháp Thực Liên, còn gọi Phục Đáp Thất Lý (卜答失里), phong Kế Quốc công chúa (薊國公主), sau thăng Đại trưởng công chúa, hạ giá Cao Ly Trung Tuyên vương.
- A Lạt Đích Nạp Bát Lạt (阿剌的納八剌), phong Triệu Quốc công chúa (趙國公主), sau thăng Đại trưởng công chúa, hạ giá Cao Đường vương Chú An (注安), con trai của Đường vương Khoát Lý Cát Tư (阔里吉思) và Triệu Quốc Đại trưởng công chúa Ái Nha Thất Lý (爱牙失里), con gái Nguyên Thành Tông.
- Tam nữ, phong Thọ Ninh công chúa (壽寧公主), lấy người thuộc tộc Nãi Mã Chân, sinh ra Bát Bất Sa - kế thất Hoàng hậu của Nguyên Minh Tông.
- Nhị tử Đáp Lạt Ma Bát Lạt, mẹ là Khoát Khoát Chân. Được phong làm Hoàng thái tôn, qua đời trước ông nội, sau tặng Nguyên Thuận Tông (元順宗).
- Đích thê: Đáp Kỷ (答己), Hoằng Cát Lạt thị, sau được lập làm Hoàng thái hậu, khi mất tặng Chiêu Hiến Nguyên Thánh Hoàng hậu (昭献元圣皇后).
- Thiếp: Quách thị (郭氏), người Hán, do Hốt Tất Liệt ban cho.
- Tử:
- A Mộc Ca (阿木哥), Quách thị sinh. Được phong Ngụy vương (魏王), sau do liên lụy mưu phản nên bị lưu đày.
- A Lỗ (阿魯), phong Tây Tĩnh vương (西靖王).
- Bột La Thiếp Mộc Nhĩ (孛羅帖木兒), phong Ngụy vương (魏王), bị quân Khăn Đỏ sát hại.
- Hải Sơn (海山), Đáp Kỷ sinh, sau là Nguyên Vũ Tông, là thân phụ của Nguyên Minh Tông và Nguyên Văn Tông.
- Ái Dục Lê Bạt Lực Bát Đạt (愛育黎拔力八達), Đáp Kỷ sinh, sau là Nguyên Nhân Tông, là thân phụ của Nguyên Anh Tông.
- A Mộc Ca (阿木哥), Quách thị sinh. Được phong Ngụy vương (魏王), sau do liên lụy mưu phản nên bị lưu đày.
- Nữ: Tường Ca Lạt Cát (祥哥剌吉), Quách thị sinh, phong Lỗ Quốc Đại trưởng công chúa (魯國大長公主), hạ giá Lỗ vương Điêu A Bất Lạt (碉阿不拉), sinh ra Bốc Đáp Thất Lý - chính cung Hoàng hậu của Nguyên Văn Tông.
- Tam tử Thiết Mộc Nhĩ (鐵穆耳), mẹ là Khoát Khoát Chân, sau là Nguyên Thành Tông.
Vương nữ
- Trưởng nữ Hốt Đáp Điệp Mê Thất (忽答迭迷失), mẹ là An Chân Mê Thất. Được phong Triệu Quốc công chúa (趙國公主), hạ giá Triệu vương Khoát Lý Cát Tư (阔里吉思).
- Nhị nữ Nam A Bất Lạt (南阿不剌), mẹ là Khoát Khoát Chân. Được phong Lỗ Quốc công chúa (魯國公主), sau thăng Đại trưởng công chúa, lấy Kiến Ninh vương Man Tử Đài (蛮子台).
Chú thích
- ^ 洪金富. 〈元《析津志•原廟•行香》篇疏證〉 (PDF). 《中央研究院歷史語言研究所集刊》 (中華民國: 中央研究院歷史語言研究所). 2008年3月, 第79卷 (第1期): 第1頁-第40頁. (原始内容存档 (PDF)于2023-02-04).
15.裕宗皇帝,愍忌,白塔寺,大小官,〔六月〕二十日。
- ^ 《元史·裕宗传》. [2011-10-06]. (原始内容存档于2011-11-27).
- ^ 《元史·成宗本紀一》. [2011-10-04]. (原始内容存档于2020-09-19).
- ^ D.Ider (2016). "Đại Nguyên Hoàng hậu". Ulaanbaatar, 2016. tr. 144