Marlon Brando
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”.Bản mẫu:Template otherBản mẫu:Wikidata hình ảnh Marlon Brando Jr. (3 tháng 4 năm 1924 – 1 tháng 7 năm 2004) là một diễn viên người Mỹ. Ông được xem là một trong những diễn viên vĩ đại và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử điện ảnh.[1][2] Trong suốt sự nghiệp, Brando giành được nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm hai giải Oscar, hai giải Quả cầu Vàng, ba giải BAFTA, một giải thưởng tại Liên hoan phim Cannes và một giải Primetime Emmy. Ông cũng được ghi nhận là một trong những diễn viên đầu tiên đưa hệ thống diễn xuất Stanislavski cùng phương pháp diễn xuất nhập vai đến với khán giả đại chúng.
Trong thập niên 1940, Brando chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nữ huấn luyện diễn xuất Stella Adler và hệ thống Stanislavski. Ông khởi nghiệp trên sân khấu kịch và nhanh chóng được đánh giá cao nhờ khả năng hóa thân xuất sắc vào nhân vật. Năm 1944, ông có màn ra mắt trên sân khấu Broadway với vở I Remember Mama. Hai năm sau, ông giành giải Theater World Awards nhờ các vai diễn trong Candida và Truckline Cafe. Năm 1947, Brando trở lại Broadway trong vai Stanley Kowalski của vở kịch A Streetcar Named Desire do Tennessee Williams sáng tác; ông tiếp tục đảm nhận vai diễn này trong bản chuyển thể điện ảnh năm 1951 do Elia Kazan đạo diễn.
Brando ra mắt màn ảnh rộng với vai một cựu binh bị thương trong The Men (1950). Ông giành hai giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất với vai người bốc vác Terry Malloy trong On the Waterfront (1954) và ông trùm tội phạm Vito Corleone trong Bố già (1972). Ngoài ra, ông còn nhận thêm sáu đề cử Oscar cho các vai diễn: Stanley Kowalski trong Chuyến tàu mang tên dục vọng (1951), Emiliano Zapata trong Viva Zapata! (1952), Mark Antony trong Julius Caesar (1953), một phi công không quân trong Sayonara (1957), một người Mỹ sống tha hương trong Last Tango in Paris (1973) và một luật sư trong A Dry White Season (1989).
Brando nổi tiếng với hình tượng những nhân vật nổi loạn, về sau trở thành các biểu tượng văn hóa đại chúng, tiêu biểu là Johnny Strabler trong The Wild One (1953). Ông cũng được xem là biểu tượng của khoảng cách thế hệ trong xã hội Mỹ thời kỳ đó.[3][4] Bên cạnh đó, Brando còn tham gia nhiều tác phẩm đáng chú ý như Guys and Dolls (1955), The Young Lions (1958), The Fugitive Kind (1960), The Chase (1966), Burn! (1969), The Missouri Breaks (1976), Superman (1978), Apocalypse Now (1979) và The Freshman (1990). Năm 1961, ông có lần đầu tiên đảm nhận vai trò đạo diễn với bộ phim viễn Tây One-Eyed Jacks, đồng thời giữ vai chính, nhưng tác phẩm không đạt thành công về mặt doanh thu.
Trên truyền hình, Brando giành giải Primetime Emmy cho Nam diễn viên phụ xuất sắc trong phim ngắn tập hoặc phim truyền hình với vai diễn trong miniseries Roots: The Next Generations (1979) của ABC. Sau đó, ông tạm ngừng hoạt động diễn xuất trong chín năm trước khi trở lại điện ảnh với những tác phẩm đạt mức độ thành công khác nhau cả về doanh thu lẫn giới phê bình. Hai thập niên cuối đời của Brando gắn liền với nhiều tranh cãi; đời tư nhiều biến động của ông thu hút sự chú ý rộng rãi từ công chúng, bao gồm những vấn đề về rối loạn cảm xúc và các vụ việc pháp lý. Hai bộ phim cuối cùng trong sự nghiệp của ông là The Island of Dr. Moreau (1996) và The Score (2001).
Tiểu sử
Marlon Brando Jr. sinh ngày 3 tháng 4 năm 1924 tại Omaha, bang Nebraska, là con trai duy nhất của Marlon Brando Sr. và Dorothy Pennebaker.[5] Cha ông là một nhân viên bán hàng thường xuyên phải đi công tác xa, trong khi mẹ ông là một diễn viên sân khấu và cũng thường vắng nhà. Sự thiếu vắng của mẹ khiến Brando gắn bó với người giúp việc trong gia đình. Khi người này rời đi để kết hôn, Brando được cho là đã hình thành nỗi sợ bị bỏ rơi. Ông có hai chị gái là Jocelyn và Frances.
Mặc dù đảm nhận một số vai diễn nổi tiếng mang gốc gác Ý,[6] Marlon Brando không có tổ tiên là người Ý. Nguồn gốc tổ tiên của ông chủ yếu là người Đức, Hà Lan, Anh và Ireland.Bản mẫu:Sfn[7]Bản mẫu:Sfn Tổ tiên theo dòng nội của Brando là Johann Wilhelm Brandau, một người nhập cư từ vùng Palatinate (Đức), đến thành phố New York vào đầu thế kỷ XVIII.Bản mẫu:Sfn Ông cũng là hậu duệ của Louis DuBois, một tín đồ Kháng Cách Huguenot người Pháp, đến New York vào khoảng năm 1660.Bản mẫu:Sfn Ông ngoại cố của Brando bên ngoại, Myles Joseph Gahan, là một người nhập cư Ireland từng phục vụ với vai trò quân y trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.[8] Năm 1995, trong một cuộc phỏng vấn tại Ireland, Brando chia sẻ: "Chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy hạnh phúc đến thế. Khi bước xuống máy bay, một cảm xúc mãnh liệt đã trào dâng trong tôi. Tôi chưa từng cảm thấy mình thuộc về một nơi nào như ở đây. Tôi đang nghiêm túc cân nhắc việc nhập quốc tịch Ireland."[9]
Năm 1930, khi Brando lên sáu tuổi, gia đình ông chuyển đến thành phố Evanston, bang Illinois. Tại đây, Brando thường bắt chước người khác, nổi tiếng với những trò nghịch ngợm và kết bạn với Wally Cox,Bản mẫu:Sfnm người sau này trở thành bạn thân của ông cho đến khi qua đời vào năm 1973.Bản mẫu:SfnNăm 1936, cha mẹ Brando ly thân và ông cùng hai chị gái chuyển đến Santa Ana, California, sống với mẹ.Bản mẫu:Sfn Hai năm sau, cha mẹ ông tái hợp và cha ông mua một trang trại tại Libertyville, Illinois. Brando theo học tại Trường Trung học Libertyville, nơi ông nổi bật ở các hoạt động thể thao và sân khấu nhưng lại học kém ở hầu hết các môn khác. Kết quả là ông phải học lại một năm. Với tiền sử thường xuyên vi phạm kỷ luật, Brando bị nhà trường đuổi học vào năm 1941.Bản mẫu:Sfn
Sau đó, cha của Brando gửi ông đến học tại Học viện Quân sự Shattuck, nơi ông cũng từng theo học. Tại đây, Brando tiếp tục thể hiện năng khiếu diễn xuất cho đến năm 1943, khi ông bị đưa vào diện quản chế vì có hành vi chống đối một sĩ quan trong một cuộc diễn tập. Ông bị cấm rời khỏi khuôn viên trường, nhưng đã lén vào thị trấn và bị phát hiện. Hội đồng giảng viên sau đó bỏ phiếu quyết định đuổi học Brando, mặc dù nhiều học viên cho rằng hình phạt này quá nghiêm khắc và lên tiếng ủng hộ ông. Brando được mời trở lại trường vào năm học tiếp theo, nhưng ông quyết định bỏ học. Sau đó, ông làm công việc đào mương trong một công việc thời vụ do cha sắp xếp, đồng thời tìm cách nhập ngũ. Tuy nhiên, trong đợt khám sức khỏe, các bác sĩ phát hiện chấn thương đầu gối mà ông gặp phải khi chơi bóng bầu dục tại Shattuck đã để lại di chứng, khiến ông không đủ điều kiện sức khỏe để phục vụ trong quân đội.Bản mẫu:Sfnm
Brando quyết định theo chân hai chị gái đến thành phố New York để theo đuổi con đường diễn xuất. Ông theo học tại American Theatre Wing Professional School, thuộc Dramatic Workshop của The New School, nơi ông được đào tạo dưới sự hướng dẫn của đạo diễn người Đức có tầm ảnh hưởng Erwin Piscator. Trong bộ phim tài liệu Marlon Brando: The Wild One (1988), chị gái của ông, Jocelyn Brando, nhớ lại: "Em ấy từng tham gia một vở kịch ở trường và thực sự yêu thích nó... Vì thế, em quyết định đến New York học diễn xuất, bởi đó là điều duy nhất em cảm thấy mình thực sự thích. Khi ấy em mới 18 tuổi." Trong tập phim về Brando của loạt Biography do A&E sản xuất, George Englund cho rằng Brando gắn bó với diễn xuất ở New York vì "ở đó, cậu ấy được chấp nhận. Cậu ấy không bị chỉ trích. Đó là lần đầu tiên trong đời cậu ấy được nghe những điều tốt đẹp về chính mình." Trong những tháng đầu sống tại New York, Brando thường ngủ nhờ trên ghế sofa của bạn bè. Có một thời gian, ông sống cùng Roy Somlyo, người sau này trở thành một nhà sản xuất sân khấu Broadway và bốn lần giành giải Primetime Emmy.[10]
Brando là một học trò tận tâm và cũng là người ủng hộ mạnh mẽ phương pháp giảng dạy của Stella Adler, từ người thầy này ông tiếp thu các kỹ thuật của hệ thống diễn xuất Stanislavski. Phương pháp này khuyến khích diễn viên khám phá cả đời sống nội tâm lẫn biểu hiện bên ngoài để xây dựng nhân vật một cách trọn vẹn. Khả năng quan sát sắc bén cùng tinh thần hiện thực trong diễn xuất của Brando đã bộc lộ từ rất sớm. Adler thường kể lại một giai thoại khi bà yêu cầu cả lớp diễn như những con gà, đồng thời thông báo rằng một quả bom hạt nhân sắp rơi xuống. Phần lớn học viên đều kêu quang quác và chạy tán loạn, trong khi Brando chỉ bình tĩnh ngồi xuống và giả vờ đẻ trứng. Khi được hỏi vì sao lại phản ứng như vậy, ông trả lời: "Tôi là một con gà mà—tôi biết gì về bom hạt nhân chứ?"Bản mẫu:Sfn Mặc dù thường được xem là một diễn viên theo trường phái Method Acting, Brando không đồng tình với cách phân loại này. Ông cho biết mình không tán thành những phương pháp giảng dạy của Lee Strasberg: Bản mẫu:Blockquote Brando được xem là người đầu tiên đưa lối diễn xuất tự nhiên vào điện ảnh. Theo lời diễn viên Dustin Hoffman trong khóa học trực tuyến MasterClass, Brando thường tiếp tục trò chuyện với người quay phim và các bạn diễn về những câu chuyện cuối tuần, ngay cả khi đạo diễn đã hô bắt đầu quay. Chỉ khi cảm thấy mình có thể nói lời thoại một cách tự nhiên như chính cuộc trò chuyện đó, ông mới bắt đầu diễn. Trong bộ phim tài liệu Listen to Me Marlon (2015), Brando cho biết trước thời của ông, nhiều diễn viên diễn xuất "như ngũ cốc ăn sáng", ý nói lối thể hiện của họ quá khuôn mẫu và dễ đoán. Về sau, một số nhà phê bình cho rằng cách làm việc này cho thấy Brando là một diễn viên khó hợp tác. Tuy nhiên, nhiều diễn viên từng làm việc cùng ông lại khẳng định đó đơn thuần là một phần trong kỹ thuật diễn xuất mà Brando theo đuổi.[11]
Sự nghiệp
Khởi nghiệp
Brando bắt đầu nghiệp diễn xuất bằng việc tham gia các vở kịch ở nhà hát mùa hè (summer-stock) tại Sayville, New York trên đảo Long Island. Cách cư xử kì quặc khiến Brando bị loại khỏi vở kịch của trường New School ở Sayville, tuy vậy ông đã kịp tìm được một vở kịch khác. Năm 1946 với vai diễn trong vở kịch của Sân khấu Broadway Truckline Café, Brando được đánh giá là diễn viên triển vọng nhất của sân khấu Broadway. Một năm sau đó, Marlon thực sự trở thành một ngôi sao mới của sân khấu Mỹ với vai diễn Stanley Kowalski trong vở kịch của Tennessee Williams, Chuyến tàu mang tên dục vọng (A Streetcar Named Desire), vở kịch này do đạo diễn nổi tiếng Elia Kazan thực hiện. Khi tìm được vai Stanley Kowalski, Brando đã lập tức lái xe lên Provincetown, Massachusetts, nơi Williams đang nghỉ hè, để xin được thử vai, Williams đã nhớ lại rằng ngay khi ông mở cửa và quan sát chàng thanh niên này, ông nhận ra mình "đã có Stanley Kowalski". Kỹ thuật diễn có tính đột phá của Brando sau này đã trở thành hình mẫu cho nghệ thuật diễn xuất Mỹ.
Bộ phim điện ảnh đầu tiên của Brando là The Men (1950). Theo đúng phong cách diễn của mình, Brando đã dành 2 tháng trong bệnh viện dành cho các cựu chiến binh để vào vai một thương binh bị liệt cả hai chân. Sau thành công của Chuyến tàu mang tên dục vọng, Marlon Brando được hãng Warner Bros. mời thử vai cho bộ phim Rebel Without A Cause,[12] vai diễn này sau đó đã thuộc về James Dean.
Vươn tới đỉnh cao
Nhân vật đưa Brando lên vị trí một ngôi sao màn bạc một lần nữa lại là Stanley Kowalski khi ông tham gia bộ phim Chuyến tàu mang tên dục vọng (1951) cũng do Elia Kazan làm đạo diễn, người đóng cặp với Brando là nữ diễn viên huyền thoại Vivien Leigh (người thủ vai Scarlett O'Hara trong Cuốn theo chiều gió). Với vai diễn này, Brando lần đầu tiên được đề cử Giải Oscar Vai nam chính xuất sắc nhất. 3 năm liên tiếp sau đó Brando đều được đề cử cho hạng mục này với các vai diễn trong Viva Zapata! (1952), Julius Caesar (1953) và On the Waterfront (1954). Trong số 4 lần liên tiếp được đề cử này thì Brando đã một lần mang về tượng vàng Oscar với vai Terry Malloy trong On the Waterfront (cũng được đạo diễn bởi Kazan). Ngoài ra ông cũng 3 lần liên tiếp giành Giải BAFTA Nam diễn viên chính nước ngoài xuất sắc nhất từ năm 1951 đến 1953.
Năm 1953, Marlon Brando bên cạnh hai bộ phim điện ảnh còn tham gia vở kịch Arms and the Man của Lee Falk, ông đã từ chối một vở diễn ở Broadway với thù lao 10.000 USD một tuần để cộng tác với Falk trong tác phẩm này (được diễn ở Boston) với chỉ 500 USD một tuần. Đây cũng là lần cuối cùng Brando tham gia một tác phẩm sân khấu. Hai bộ phim Brando đóng năm 1953 là Julius Caesar (vai Mark Antony) và The Wild One (vai Johnny Strabler). Hình tượng tay lái moto nổi loạn Johnny Strabler do Brando tạo nên đã trở thành hình mẫu cho thế hệ trẻ Mỹ những năm 1950, rất nhiều ca sĩ rock-and-roll đã bắt chước phong thái và cách ăn mặc của nhân vật này, trong đó có Elvis Presley.
Với chỉ 5 bộ phim Brando đã trở thành ngôi sao lớn của Hollywood. Thành công này được tiếp nối bằng các vai diễn của ông trong Guys and Dolls, The Teahouse of the August Moon, The Young Lions và Sayonara. Bộ phim cuối đem lại cho Marlon đề cử Oscar thứ 5 trong sự nghiệp tuy vậy có vẻ ngôi sao lớn đã mất đi nguồn năng lượng diễn xuất dồi dào trong các bộ phim đầu tay. Trong thập niên 1960 tuy vẫn tham gia một số bộ phim thành công như Mutiny on the Bounty (1962) nhưng vị trí ngôi sao của Marlon Brando dần mờ nhạt vì tính khí kì quặc trong quá trình quay phim cũng như "thành tích" kéo các bộ phim phải chi tiêu vượt ngân sách hoặc khó bán vé của ông.
Bố già
Năm 1972 Brando lại chói sáng với vai diễn trong bộ phim Bố già (The Godfather) của đạo diễn Francis Ford Coppola. Coppola đã phải đấu tranh với hãng sản xuấn để Brando có thể vào vai Bố già Vito Corleone vì Paramount Pictures lo sợ "thành tích" tham gia các bộ phim thua lỗ và sự khó tính của Marlon sẽ làm ảnh hưởng tới việc sản xuất Bố già. Quyết định của Coppola đã tỏ ra đúng đắn khi Brando đã khắc họa cực kì thành công hình tượng của một trùm mafia đầy mưu mô xảo quyệt nhưng cũng sống rất tình cảm với gia đình. Nhân vật Vito Corleone của Brando đã đi vào huyền thoại và mang lại cho ông Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất thứ hai. Tuy nhiên Marlon Brando đã từ chối giải thưởng này (ông là người thứ hai sau George C. Scott từ chối giải Oscar), Brando tẩy chay buổi lễ trao giải khi không tham dự mà chỉ gửi diễn viên da đỏ ít tên tuổi Sacheen Littlefeather tới tuyên bố lý do từ chối tượng vàng, theo đó Brando phản đối việc Hollywood và các hãng truyền hình thường xuyên miêu tả lệch lạc hình tượng những người thổ dân bản địa như những kẻ dã man.
Thập niên 1970 còn chứng kiến hai vai diễn ấn tượng nữa của Brando, đầu tiên là vai nam chính trong bộ phim Last Tango in Paris của đạo diễn Ý Bernardo Bertolucci. Marlon được đề cử giải Oscar Vai nam chính thứ 7 cho vai diễn này, tuy nhiên thành công về mặt diễn xuất của ông đã bị phủ bóng bởi những tranh cãi xung quanh các cảnh quay tình dục lộ liễu trong phim giữa nhân vật của Brando và nhân vật do Maria Schneider diễn. Vai diễn đáng chú ý thứ hai của Brando là vai đại tá Kurtz trong bộ phim về Chiến tranh Việt Nam Apocalypse Now (1979) của Francis Ford Coppola. Brando một lần nữa gây ra rắc rối khi thân hình ông trở nên quá khổ so với nhân vật, vì lý do này phần lớn cảnh quay miêu tả đại tá Kurtz thường là cái bóng của ông này. Cuối cùng để thực hiện cảnh quay cận gương mặt của Brando thốt lên câu thoại "The horror, the horror", Coppola đã phải trả thêm cho Brando 75.000 USD chỉ để ông này luyện tập giảm cân. Sau Apocalypse Now Brando lại tăng cân và việc này đã làm hạn chế rất nhiều các vai diễn mà ông có thể nhận.
Giai đoạn cuối sự nghiệp
Năm 1978 Brando vào vai Jor-El, cha của Superman trong bộ phim cùng tên. Điều kiện nhận vai của Brando khá rắc rối, ông đòi được nhận thù lao cao dù chỉ xuất hiện trong phim với thời gian rất ngắn, Brando cũng yêu cầu không phải thuộc thoại mà được nhìn bản nhắc thoại từ bên ngoài. Brando cũng tham gia phần 2 của bộ phim này, Siêu nhân II (Superman II) nhưng khi nhà sản xuất không đồng ý trả khoản tiền tương ứng như phần I, Marlon đã không cho phép sử dụng các cảnh có sự xuất hiện của ông trong phim. Những cảnh này chỉ xuất hiện trong bản dựng lại của bộ phim, Superman II: The Richard Donner Cut, được phát hành năm 2006. Cũng năm 2006, 2 năm sau khi Brando qua đời (ông qua đời năm 2004), ngôi sao này đã "tái xuất" với vai Jor-El trong bộ phim Siêu nhân trở lại (Superman Returns), các nhà làm phim đã tái tạo vai diễn của Brando bằng cách sử dụng các đoạn quay trong hai phần trước cũng như phần thoại được thu âm trước đó của Marlon.
Mặc dù gần như rời bỏ nghiệp diễn từ những năm 1980, Marlon Brando vẫn có được những thành công nhất định trong các vai phụ, điển hình là vai diễn trong bộ phim A Dry White Season (1989), vai diễn này đã giúp ông có được đề cử Oscar đầu tiên ở hạng mục Vai nam phụ. Bộ phim cuối cùng Brando tham gia là The Score (2001), trong đó ông đóng chung với Robert De Niro, người cũng thủ vai Vito Corleone trong loạt phim Bố già.
Đời tư
Brando được biết đến với đời sống cá nhân nhiều biến động, cách đối xử gây tranh cãi với phụ nữ, cùng số lượng lớn bạn đời và con cái. Ông có ít nhất 11 người con, trong đó ba người là con nuôi.[13][14] Brando công khai thừa nhận mình là người song tính.[15][16][17] Trong một cuộc phỏng vấn với một nhà báo Pháp vào năm 1976, ông chia sẻ:
"Đồng tính luyến ái giờ đây đã trở nên quá phổ biến đến mức không còn là tin tức nữa. Giống như rất nhiều người đàn ông khác, tôi cũng từng có những trải nghiệm đồng tính, và tôi không hề xấu hổ về điều đó. Tôi chưa bao giờ quá bận tâm đến việc người khác nghĩ gì về mình. Còn nếu có ai tin rằng Jack Nicholson và tôi là người yêu của nhau thì cứ để họ tiếp tục tin như vậy. Tôi thấy điều đó khá thú vị."Bản mẫu:SfnBản mẫu:Sfn
Trong quá trình dàn dựng vở kịch A Streetcar Named Desire năm 1947, Marlon Brando nảy sinh tình cảm với bạn diễn Sandy Campbell,[18] người đảm nhận vai phụ là chàng trai thu tiền trẻ tuổi. Brando từng ngỏ ý muốn Campbell có một mối quan hệ tình cảm với mình, và cả hai thường được bắt gặp đứng sau cánh gà nắm tay nhau.[19]Theo nhà văn Truman Capote, cả Campbell lẫn Brando đều thừa nhận rằng họ từng có quan hệ tình dục với nhau.[20] Capote kể lại: "Tôi hỏi Marlon, và anh ấy thừa nhận. Anh ấy nói mình cũng từng lên giường với nhiều người đàn ông khác, nhưng không xem bản thân là người đồng tính. Anh ấy bảo tất cả họ đều bị anh ấy cuốn hút. 'Tôi chỉ nghĩ rằng mình đang giúp họ một việc thôi,' anh ấy nói."[21]
Trong bài phỏng vấn Brando đăng trên The New Yorker năm 1957, Capote viết rằng lần đầu ông gặp Brando là tại một buổi tập của Chuyến tàu mang tên dục vọng, khi Brando đang nằm ngủ trên một chiếc bàn đặt giữa sân khấu trong khán phòng vắng người.[22] Tuy nhiên, về sau người ta xác nhận rằng câu chuyện này thực chất được Capote mượn từ lời kể của Sandy Campbell, điều đã được bạn đời của Campbell là Donald Windham xác nhận.[23][24]
Trong cuốn hồi ký Songs My Mother Taught Me, Marlon Brando viết rằng ông gặp Marilyn Monroe tại một buổi tiệc, nơi bà ngồi chơi đàn dương cầm nhưng hầu như không được những người có mặt để ý. Theo lời Brando, hai người sau đó bắt đầu một mối quan hệ tình cảm và duy trì sự gắn bó đứt quãng cho đến khi Monroe qua đời vào năm 1962. Ông cũng kể rằng mình đã nhận được một cuộc điện thoại từ Monroe chỉ hai hoặc ba ngày trước khi bà qua đời. Ngoài ra, Brando còn đề cập đến nhiều mối tình khác trong cuộc đời mình. Tuy nhiên, trong cuốn tự truyện này, ông không bàn đến các cuộc hôn nhân, những người vợ hay các con của mình.Bản mẫu:Sfn
Brando gặp nữ diễn viên kiêm vũ công người Mỹ gốc Nhật Reiko Sato vào đầu thập niên 1950. Mặc dù mối quan hệ tình cảm giữa họ dần phai nhạt theo thời gian, cả hai vẫn duy trì tình bạn cho đến cuối đời của Sato. Trong những năm cuối đời, Sato chia thời gian sinh sống giữa Los Angeles và đảo Tetiʻaroa.[25][26]
Brando phải lòng nữ diễn viên người Mexico Katy Jurado sau khi xem bà trong bộ phim High Noon. Hai người gặp nhau khi Brando đang quay Viva Zapata! tại Mexico. Brando từng nói với Joseph L. Mankiewicz rằng ông bị cuốn hút bởi "đôi mắt đầy bí ẩn của cô ấy, đen thẳm như địa ngục, hướng về anh như những mũi tên rực lửa".[27] Buổi hẹn hò đầu tiên của họ đã mở đầu cho một mối tình kéo dài nhiều năm, đạt đến giai đoạn gắn bó nhất khi cả hai cùng tham gia One-Eyed Jacks (1961) - bộ phim do chính Brando đạo diễn.[27]
Brando gặp nữ diễn viên Rita Moreno vào năm 1954, và cả hai nhanh chóng bắt đầu một mối quan hệ tình cảm. Trong cuốn hồi ký của mình, Moreno tiết lộ rằng khi bà mang thai với Brando, ông đã sắp xếp để bà phá thai. Sau khi ca phá thai gặp biến chứng và Brando đem lòng yêu Tarita Teriipaia, Moreno đã cố gắng tự sát bằng cách uống quá liều thuốc ngủ của Brando.[28] Nhiều năm sau khi chia tay, Moreno vẫn vào vai người yêu của Brando trong bộ phim The Night of the Following Day.[29] Sau khi mối quan hệ kết thúc, Moreno cáo buộc Brando đã có hành vi bạo hành tinh thần nghiêm trọng đối với bà. Bà cũng kể rằng ông từng nổi cơn ghen dữ dội đến mức ném ghế sau khi biết bà từng hẹn hò với Elvis Presley trong quá khứ.[30][31]
Brando từng đính hôn trong thời gian ngắn với nữ diễn viên người Pháp 19 tuổi Josanne Mariani, người ông gặp vào năm 1954. Tuy nhiên, hai người đã hủy hôn sau khi Brando phát hiện bạn gái khác của mình là Anna Kashfi đang mang thai. Sau đó, ông kết hôn với Kashfi vào năm 1957.[32][33][34] Brando và Kashfi có một con trai là Christian Brando, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1958. Hai người ly hôn vào năm 1959.[35]
Năm 1960, Brando kết hôn với nữ diễn viên người Mỹ gốc Mexico Movita Castaneda. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này bị tòa án tuyên hủy vào năm 1968 sau khi người ta phát hiện Castaneda về mặt pháp lý vẫn đang trong quan hệ hôn nhân với người chồng đầu tiên của bà, Jack Doyle.[36] Castaneda từng tham gia phiên bản đầu tiên của Cuộc nổi loạn trên tàu Bounty vào năm 1935, tức 27 năm trước khi bộ phim được làm lại vào năm 1962 với Brando thủ vai Fletcher Christian. Hai người có với nhau hai người con: Miko Castaneda Brando (sinh năm 1961) và Rebecca Brando (sinh năm 1966).[37]
Trong thập niên 1960 và đầu những năm 1970, nữ diễn viên người Pháp Tarita Teriipaia, người đóng vai người yêu của Brando trong Mutiny on the Bounty, là bạn đời lâu năm của ông. Khi bắt đầu mối quan hệ, Teriipaia mới 20 tuổi, kém Brando 18 tuổi. Theo nhiều nguồn ghi nhận, Brando đặc biệt bị cuốn hút bởi sự hồn nhiên của bà.[38] Mặc dù gắn bó trong nhiều năm, Brando và Teriipaia không kết hôn. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1970, Teriipaia cũng từng chia sẻ quan điểm của mình về khả năng kết hôn với Brando.[39] Do Teriipaia là người nói tiếng Pháp bản ngữ, Brando đã học và sử dụng thành thạo ngôn ngữ này. Sau đó, ông thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn bằng tiếng Pháp.[40][41] Brando và Teriipaia có với nhau hai người con: Simon Teihotu Brando (sinh năm 1963) và Tarita Cheyenne Brando (1970–1995). Ngoài ra, Brando còn nhận con gái của Teriipaia là Maimiti Brando (sinh năm 1977) và cháu gái của bà là Raiatua Brando (sinh năm 1982) làm con nuôi.[42]
Sau khi Brando qua đời, con gái của nữ diễn viên Cynthia Lynn tuyên bố rằng Brando từng có một mối quan hệ tình cảm ngắn ngủi với mẹ cô trong thời gian cả hai cùng tham gia bộ phim Bedtime Story, và mối quan hệ đó đã dẫn đến sự ra đời của cô vào năm 1964.[43] Từ cuối thập niên 1960 đến đầu những năm 1980, Brando cũng duy trì một mối quan hệ tình cảm kéo dài nhưng nhiều sóng gió với nữ diễn viên Jill Banner.[44]
Brando có mối quan hệ gắn bó lâu dài với Maria Cristina Ruiz, người từng làm quản gia cho ông. Hai người có với nhau ba người con: Ninna Priscilla Brando (sinh ngày 13 tháng 5 năm 1989), Myles Jonathan Brando (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1992) và Timothy Gahan Brando (sinh ngày 6 tháng 1 năm 1994). Ngoài ra, Brando còn nhận Petra Brando-Corval (sinh năm 1972) làm con nuôi. Petra là con gái của Caroline Barrett, trợ lý của Brando, và tiểu thuyết gia James Clavell.[45]Bản mẫu:Sfn
Tình bạn thân thiết giữa Brando và Wally Cox từ lâu đã là chủ đề của nhiều lời đồn đoán. Trong một cuộc phỏng vấn, Brando từng nói với một nhà báo: "Nếu Wally là phụ nữ, tôi đã cưới cậu ấy và chúng tôi sẽ sống hạnh phúc mãi mãi về sau."Bản mẫu:Sfn Nhà văn kiêm biên tập viên Beauregard Houston-Montgomery kể rằng, trong một lần chịu ảnh hưởng của cần sa, Brando đã nói với ông rằng Cox là tình yêu lớn nhất trong cuộc đời mình.[46] Tuy nhiên, Milagros Tirado "Millie" Beck, người vợ thứ hai của Cox, và Patricia Cox Shapiro, người vợ thứ ba của ông, đều bác bỏ suy đoán rằng tình cảm giữa Brando và Cox vượt quá mức tình bạn. Sau khi Cox qua đời vào năm 1973, Brando tìm đến người vợ góa Patricia Cox Shapiro và xin phép được rải tro cốt của Cox tại những cung đường leo núi mà hai người từng thường xuyên lui tới. Shapiro đã đồng ý. Thế nhưng khoảng 20 năm sau, bà bàng hoàng phát hiện Brando thực ra vẫn giữ hũ tro cốt ở gần mình thay vì thực hiện lời hứa. Sau khi Brando qua đời, theo đúng di nguyện của ông, gia đình đã rải tro cốt của cả hai người cùng nhau tại Thung lũng Chết, nơi họ từng nhiều lần đến để tìm và sưu tầm đá.[47][48]
Năm 2018, Quincy Jones cho rằng Brando từng có quan hệ tình dục với James Baldwin, Richard Pryor và Marvin Gaye.[49] Jennifer Lee, góa phụ của Pryor, xác nhận rằng Pryor và Brando từng có mối quan hệ như vậy, trong khi con gái của Pryor là Rain Pryor lại bác bỏ khẳng định này.[50][51] Tháng 2 năm 2024, nam diễn viên Billy Dee Williams cho biết Brando từng ngỏ ý muốn có quan hệ với ông trong một bữa tiệc tại nhà Brando, nhưng ông đã từ chối.[52]
Cháu ngoại của Brando, Tuki Brando (sinh năm 1990), con trai của Cheyenne Brando, là một người mẫu thời trang. Các cháu khác của ông còn có Prudence Brando và Shane Brando, là con của Miko C. Brando; các con của Rebecca Brando;[53] cùng ba người con của Teihotu Brando, trong số những người khác.[54]
Stephen Blackehart từng được một số nguồn cho là con trai của Brando,[55][56] tuy nhiên chính Blackehart đã bác bỏ thông tin này.[57]
Lối sống
Brando nổi tiếng với hình tượng một "bad boy" nhờ những phát ngôn và hành động gây tranh cãi trước công chúng. Theo Los Angeles, "Brando là hiện thân của rock and roll trước cả khi người ta biết đến khái niệm rock and roll."[58] Trong quá trình thực hiện bộ phim Mutiny on the Bounty (1962), cách làm việc của Brando càng củng cố danh tiếng là một ngôi sao khó hợp tác. Ông bị quy trách nhiệm cho việc thay đổi đạo diễn và tình trạng đội chi phí sản xuất, mặc dù Brando phủ nhận cả hai cáo buộc. Ngày 12 tháng 6 năm 1973, Brando đã đấm gãy xương hàm của tay săn ảnh Ron Galella. Trước đó, Galella liên tục bám theo Brando và người dẫn chương trình Dick Cavett sau buổi ghi hình The Dick Cavett Show tại thành phố New York. Vụ việc được giải quyết ngoài tòa với khoản bồi thường 40.000 USD do Brando chi trả; trong lúc xô xát, ông cũng bị nhiễm trùng ở bàn tay.[59][60] Trong lần tiếp theo chụp ảnh Brando tại một buổi dạ tiệc gây quỹ cho American Indians Development Association vào năm 1974, Galella đã đội mũ bảo hiểm bóng bầu dục để tự bảo vệ mình.[61]
Việc tham gia quay Mutiny on the Bounty đã tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc đời Brando khi ông đem lòng yêu mến Tahiti và con người nơi đây. Sau đó, ông mua đảo san hô vòng Tetiaroa gồm 12 hòn đảo nhỏ. Năm 1970, Brando thuê kiến trúc sư Bernard Judge ở Los Angeles thiết kế ngôi nhà cùng một khu làng sinh thái trên đảo, với mục tiêu hạn chế tối đa tác động đến môi trường tự nhiên.[62] Tuy nhiên, cơn bão năm 1983 đã phá hủy nhiều công trình trên đảo, trong đó có khu nghỉ dưỡng của Brando. Năm 2014,[63] khu nghỉ dưỡng mang tên The Brando Resort chính thức đi vào hoạt động trên đảo Tetiaroa.[64]
Ngoài sự nghiệp diễn xuất, Brando còn có nhiều sở thích cá nhân. Ông là một người đam mê vô tuyến nghiệp dư (ham radio), sử dụng các tín hiệu gọi (call sign) KE6PZH và FO5GJ, trong đó FO5GJ được đăng ký khi ông hoạt động từ đảo Tetiaroa. Để bảo vệ quyền riêng tư, tên của ông được ghi trong hồ sơ của Ủy ban Truyền thông Liên bang Hoa Kỳ (FCC) dưới tên Martin Brandeaux.Bản mẫu:Sfn[65] Brando cũng là một người chơi trống conga ở trình độ cơ bản. Bên cạnh đó, ông còn tự thiết kế một cơ cấu lên dây trống mới và được cấp bằng sáng chế cho phát minh này. [66][67][68]
Trong tập phim về Marlon Brando của loạt Biography do A&E thực hiện, nhà viết tiểu sử Peter Manso nhận xét: "Ở một khía cạnh nào đó, việc trở thành người nổi tiếng cho phép Marlon trả đũa thế giới đã làm tổn thương và để lại những vết sẹo tinh thần sâu sắc trong ông. Nhưng ở khía cạnh khác, ông lại căm ghét sự nổi tiếng ấy, bởi ông biết nó chỉ là thứ giả tạo và phù du." Trong cùng chương trình, nhà phê bình và nhà viết tiểu sử điện ảnh David Thomson cho rằng: Bản mẫu:Blockquote
Hoạt động xã hội và chính trị
Năm 1946, Brando tham gia biểu diễn trong vở kịch theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionist) A Flag Is Born của Ben Hecht. Trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1960, ông tham dự các buổi gây quỹ ủng hộ John F. Kennedy. Đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, Brando tiếp tục bày tỏ sự ủng hộ đối với Lyndon B. Johnson.[69]
Đầu thập niên 1960, Brando quyên góp hàng nghìn đô la Mỹ cho Southern Christian Leadership Conference (SCLC) và một quỹ học bổng được thành lập dành cho con em của Medgar Evers, lãnh đạo Hiệp hội Quốc gia vì Sự Tiến bộ của Người Da màu (NAACP) tại bang Mississippi, người bị ám sát. Cùng thời kỳ này, ông tham gia nhiều bộ phim mang thông điệp về quyền con người, như Sayonara (1957), đề cập đến tình yêu khác chủng tộc, và The Ugly American (1963), phản ánh cách hành xử của các quan chức Hoa Kỳ ở nước ngoài cũng như những tác động tiêu cực đối với người dân các quốc gia sở tại. Tháng 8 năm 1963, Brando tham gia Cuộc tuần hành đến Washington cùng nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như Harry Belafonte, James Garner, Charlton Heston, Burt Lancaster và Sidney Poitier. Ông cũng tham gia các Freedom Rides cùng diễn viên Paul Newman nhằm phản đối nạn phân biệt chủng tộc trong hệ thống giao thông liên bang. Trong một thời gian, Brando còn quyên góp tài chính cho Đảng Báo Đen và tự xem mình là bạn của Bobby Seale, người đồng sáng lập tổ chức này.[70] Ông cũng đọc điếu văn tại tang lễ của Bobby Hutton sau khi thành viên Đảng Báo Đen này bị cảnh sát bắn chết.[71]
Vào mùa thu năm 1967, Brando đến Helsinki, Phần Lan để tham dự một buổi dạ tiệc từ thiện do UNICEF tổ chức tại Nhà hát Thành phố Helsinki. Sự kiện được truyền hình tới 13 quốc gia. Chuyến thăm của ông xuất phát từ nạn đói mà ông từng chứng kiến tại bang Bihar, Ấn Độ. Tại buổi dạ tiệc, Brando trình chiếu bộ phim do chính ông thực hiện về thảm họa này trước giới báo chí và các khách mời. Ông cũng lên tiếng ủng hộ quyền trẻ em và hoạt động viện trợ phát triển dành cho các quốc gia đang phát triển.[72]
Sau vụ ám sát Martin Luther King Jr. năm 1968, Brando tuyên bố rút khỏi vai chính trong bộ phim The Arrangement (1969), khi tác phẩm đang chuẩn bị bấm máy, để dành thời gian tham gia phong trào đấu tranh vì quyền dân sự. Trong chương trình trò chuyện khuya The Joey Bishop Show của đài ABC, ông phát biểu: "Tôi nghĩ mình cần phải đi tìm hiểu xem điều đó thực sự là gì; cảm giác là một người da đen ở đất nước này như thế nào; và cơn phẫn nộ ấy bắt nguồn từ đâu." Trong tập phim về Brando của loạt Biography do A&E thực hiện, diễn viên Martin Sheen, bạn diễn của Brando, nhớ lại: "Tôi sẽ không bao giờ quên đêm Mục sư King bị ám sát. Tôi bật bản tin lên và thấy Marlon đang đi bộ qua khu Harlem cùng Thị trưởng Lindsay. Khi ấy có các tay súng bắn tỉa, tình hình rất hỗn loạn, nhưng ông ấy vẫn tiếp tục đi và trò chuyện với người dân trong những khu phố đó cùng Thị trưởng Lindsay. Đó là một trong những hành động can đảm phi thường nhất mà tôi từng chứng kiến. Nó có ý nghĩa rất lớn và đã tạo ra ảnh hưởng sâu rộng."[73]
Brando cũng là người ủng hộ quyền của người Mỹ bản địa và Phong trào Người Da đỏ Mỹ. Năm 1964, ông bị bắt giữ khi tham gia một cuộc biểu tình kiểu "fish-in" gần Tacoma, bang Washington. Cuộc biểu tình được tổ chức nhằm phản đối việc chính quyền không thực hiện các điều khoản trong một hiệp ước đã cam kết bảo đảm quyền đánh bắt cá của người Mỹ bản địa tại vùng vịnh Puget Sound.[74] Cuộc biểu tình đã giúp Brando nhận được sự kính trọng từ các thành viên của bộ tộc Puyallup. Theo nhiều nguồn ghi nhận, họ đã đặt tên nơi ông bị bắt giữ là "Brando's Landing" để ghi nhớ sự kiện này.[75][76] Tại lễ trao giải Oscar lần thứ 45 năm 1973, Brando từ chối nhận tượng vàng Oscar dành cho vai diễn trong Bố già, bộ phim đã đánh dấu sự hồi sinh trong sự nghiệp của ông. Thay mặt Brando tham dự buổi lễ, Sacheen Littlefeather xuất hiện trong trang phục truyền thống của người Apache và tuyên bố rằng, do "cách đối xử tồi tệ đối với người Mỹ bản địa trong ngành công nghiệp điện ảnh", Brando sẽ không nhận giải thưởng này.[77] Sự việc diễn ra trong bối cảnh cuộc đối đầu tại Wounded Knee vẫn đang tiếp diễn. Hành động từ chối nhận giải của Brando đã thu hút sự chú ý rộng rãi của truyền thông Hoa Kỳ và quốc tế. Đối với những người ủng hộ và tham gia phong trào đấu tranh vì quyền của người Mỹ bản địa, đây được xem là một sự kiện mang tính bước ngoặt và là một thắng lợi có ý nghĩa biểu tượng.
Bên ngoài lĩnh vực điện ảnh, Brando cũng tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Năm 1963, ông điều trần trước Nghị viện bang California để ủng hộ một dự luật về nhà ở công bằng, đồng thời trực tiếp tham gia các cuộc biểu tình phản đối tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực phát triển nhà ở.[78]
Brando cũng là một nhà hoạt động phản đối chính sách phân biệt chủng tộc Nam Phi.[79] Năm 1964, Brando ủng hộ việc tẩy chay các bộ phim có ông tham gia tại Nam Phi nhằm ngăn chúng được trình chiếu trước những khán giả bị phân biệt chủng tộc theo chính sách apartheid. Năm 1975, ông tham gia một cuộc biểu tình phản đối các khoản đầu tư của Hoa Kỳ vào Nam Phi, đồng thời kêu gọi trả tự do cho Nelson Mandela.[80] Đến năm 1989, Brando góp mặt trong bộ phim phản đối chế độ apartheid A Dry White Season, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn André Brink.[81]
Các phim đã tham gia
Sự nghiệp diễn xuất và giải thưởng
Trong suốt sự nghiệp diễn xuất, Marlon Brando đã nhận được nhiều giải thưởng và đề cử danh giá. Ông giành hai giải Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất với vai người bốc vác Terry Malloy trong bộ phim chính kịch On the Waterfront (1954) do Elia Kazan đạo diễn và vai Vito Corleone trong bộ phim tội phạm The Godfather (1972) của Francis Ford Coppola. Bên cạnh đó, Brando còn giành ba giải BAFTA, năm giải Quả cầu Vàng và một giải Primetime Emmy.
Trong suốt sự nghiệp kéo dài của mình, ông đã được Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh ghi nhận với những đề cử cho các vai diễn sau:
- Giải Oscar lần thứ 24 (1952): Đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất, với Chuyến tàu mang tên dục vọng (1951).
- Giải Oscar lần thứ 25 (1953): Đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất với Viva Zapata! (1952).
- Giải Oscar lần thứ 26 (1954): Đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất với Julius Caesar (1953).
- Giải Oscar lần thứ 27 (1955): Đoạt giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất với On the Waterfront (1954).
- Giải Oscar lần thứ 30 (1958): Đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất với Sayonara (1957).
- Giải Oscar lần thứ 45 (1973): Đoạt giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất với Bố già (1972).
- Giải Oscar lần thứ 46 (1974): Đề cử nam diễn viên chính xuất sắc nhất với Last Tango in Paris (1973).
- Giải Oscar lần thứ 62 (1990): Đề cử nam diễn viên phụ xuất sắc nhất với A Dry White Season (1989).
- Giành giải: Nam diễn viên chính nước ngoài xuất sắc nhất, Viva Zapata! (1953)
- Giành giải: Nam diễn viên chính nước ngoài xuất sắc nhất, Julius Caesar (1954)
- Giành giải: Nam diễn viên chính nước ngoài xuất sắc nhất, On the Waterfront (1955)
- Đề cử: Nam diễn viên chính nước ngoài xuất sắc nhất, The Young Lions (1959)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, The Nightcomers (1973)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Bố già (1973)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Last Tango in Paris (1974)
- Đề cử: Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất, A Dry White Season (1990)
- Giành giải: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, On the Waterfront (1955)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim hài hoặc phim ca nhạc, The Teahouse of the August Moon (1957)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, Sayonara (1958)
- Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, The Ugly American (1964)
- Giành giải: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, Bố già (1973)
- Đề cử: Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất - Phim chính kịch, A Dry White Season (1990)
- Giành giải: Vai nam phụ xuất sắc nhất trong loạt chương trình ngắn hoặc đặc biệt, Roots: The Next Generations (1979)
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Brando." Bản mẫu:Webarchive The New Yorker, Volume 81, Issues 43–46, p. 39.
- ^ Susan L Mizruchi, Brando's Smile: His Life, Thought and Work (New York: W. W. Norton & Company, 2014), p. 2
- ^ Robert Tanitch, Brando (New York: Barnes & Noble Books, 2005), p. 189
- ^ "Marlon Brando", A&E Biography episode.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lost Brando Screen Test for Rebel Surfaces - But It's Not for the Rebel We Know and Love 28 tháng 3 năm 2006
- ^ Sancton, Julian. "Thou Shalt Not Take Marlon Brando's Name in Vain." Bản mẫu:Webarchive. Vanity Fair, April 20, 2009. Retrieved December 23, 2017.
- ^ Barnes, Mike. "Anna Kashfi, Actress and First Wife of Marlon Brando, Dies at 80." Bản mẫu:Webarchive. The Hollywood Reporter, August 25, 2015. Retrieved December 23, 2017.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên:12 - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Porter, Darwin. Brando Unzipped, p.394
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Cite AV media
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Citation
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Motion Picture,1961.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "institut nationale de l'audiovisuel archivepourtous " (in French). www.ina.fr. Retrieved April 5, 2015.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Heller, Matthew. "Brando Will Left Zilch For 2 Kids." Bản mẫu:Webarchive Daily News, July 10, 2004. Retrieved September 20, 2012.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Welkos, Robert W. When the wild one met the mild one, October 17, 2004, Los Angeles Times; Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Bản mẫu:Dead link
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Brando". Bản mẫu:Webarchive Los Angeles, Vol. 49, No. 9, September 2004. Bản mẫu:Ẩn khi inBản mẫu:Chỉ khi inLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “check isxn”..
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Sancton, Julian."Last Tango on Brando Island". Bản mẫu:WebarchiveMaxim, November 2010.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Amateur License – KE6PZH-Brandeaux, Martin." Bản mẫu:Webarchive Federal Communications Commission: Universal Licensing System. Retrieved October 29, 2012.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Cite AV media
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Jet, October 1, 1964
- ^ "Archival footage of Marlon Brando with Bobby Seale in Oakland, 1968." Bản mẫu:Webarchive Diva.sfsu.edu. Retrieved: June 10, 2012.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Peltonen, Timo: Brando Suomessa ja šeriffinä Bản mẫu:Webarchive (in Finnish). Helsingin Sanomat, December 17, 2011, page D 7. (Retrieved January 1, 2023.)
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênA&E2 - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Trim Bản mẫu:Thay thế trên YouTubeLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. The Academy. Retrieved August 6, 2013.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
Bản mẫu:Dự án liên quan Bản mẫu:Dự án liên quan
- Trang web chính thức của Marlon Brando Bản mẫu:Webarchive
- Marlon Brando trên IMDb
- Marlon Brando trên TCMDb Bản mẫu:Webarchive
- Marlon Brando trên IBDb
- Marlon Brando: Diễn viên của các diễn viên Bản mẫu:Webarchive
- Premiere: Tưởng nhớ Brando Bản mẫu:Webarchive
- Cáo phó về Marlon Brando trên The Washington Post
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”. Bản mẫu:Giải BAFTA cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất