"Mirotic" (tiếng Hàn: 주문, Jumun; tiếng Nhật: 呪文, Jumon, nghĩa là "Câu thần chú") là một bài hát do nhóm nhạc nam Hàn Quốc TVXQ thu âm. Ca khúc được SM Entertainment phát hành tại Hàn Quốc vào ngày 26 tháng 9 năm 2008, nằm trong album phòng thu cùng tên thứ tư của nhóm - Mirotic (2008). Bản tiếng Nhật được phát hành vào ngày 15 tháng 10 năm 2008, là đĩa đơn thứ ba trích từ album phòng thu tiếng Nhật thứ tư của họ - The Secret Code (2009).

"Mirotic"
Bìa đĩa đơn tiếng Nhật
Bìa đĩa đơn tiếng Nhật
Đĩa đơn của TVXQ
từ album Mirotic / The Secret Code
Phát hành26 tháng 9 năm 2008 (2008-09-26) (KR)
15 tháng 10 năm 2008 (2008-10-15) (JP)
Thu âm2008
Thể loại
Thời lượng3:28
Hãng đĩa
Soạn nhạc
Viết lời
Sản xuấtYoo Young-jin
Thứ tự đĩa đơn của TVXQ
"Balloons"
(2006)
"Mirotic"
(2008)
"Wrong Number"
(2008)
Thứ tự đĩa đơn của Tohoshinki
"Dōshite Kimi o Suki ni Natte Shimattandarō?"
(2008)
"Mirotic"
(2008)
"Bolero / Kiss the Baby Sky / Wasurenaide"
(2009)
Video âm nhạc
"Mirotic" trên YouTube

Bài hát do Mikkel Sigvardt, Lucas Secon, Thomas TroelsenYoo Young-jin cùng sáng tác, riêng Yoo còn sản xuất bài hát. Phần lời tiếng Hàn được viết bởi Yoo Young-jin, còn lời tiếng Nhật do Sonoda Ryoji chuyển ngữ.

"Mirotic" đã đạt được thành công lớn cả về mặt thương mại lẫn chuyên môn, giành vị trí đầu bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia. Đĩa đơn này đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Oricon Singles Chart của Nhật Bản và được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) chứng nhận Vàng cho cả doanh số bán kỹ thuật số và vật lý. "Mirotic" được giới phê bình âm nhạc ca ngợi là một trong những bài hát vĩ đại nhất trong lịch sử K-pop. Cả Billboard lẫn Rolling Stone đều vinh danh đây là một trong những ca khúc hay nhất mọi thời đại của các nhóm nhạc nam (boy band). Bài hát được cho là đã nhận được hơn 4,1 triệu lượt tải nhạc số tại Hàn Quốc, trở thành đĩa đơn được tải xuống nhiều nhất của nhóm tại quốc gia này. Hai video âm nhạc đi kèm đã được phát hành để hỗ trợ cho việc phát hành đĩa đơn tại cả hai thị trường.

Hoàn cảnh ra đời và phát hành

"Mirotic" được chọn làm bài tiêu đề cho album phòng thu thứ tư cùng tên nhóm, phát hành ngày 26 tháng 9 năm 2008 thông qua SM Entertainment. Tại Nhật Bản, đĩa đơn "Jumon: Mirotic" được phát hành vào ngày 15 tháng 10 năm 2008 thông qua Rhythm Zone (chi nhánh của hãng thu âm Avex Trax). Đĩa đơn này được phân phối vật lý dưới ba phiên bản: CD tiêu chuẩn, CD phiên bản đặc biệt dành cho fanclub và bộ CD + DVD phiên bản giới hạn. Ấn phẩm bao gồm phiên bản nhạc khí (instrumental) của bài hát cùng một phiên bản phối lại của ca khúc "Dōshite Kimi o Suki ni Natte Shimattandarō".[1]

Vào ngày 16 tháng 10 năm 2008, một sự kiện fanclub có tên "Mirotic Party" đã được tổ chức để kỷ niệm việc phát hành đĩa đơn. Sự kiện diễn ra tại một câu lạc bộ ở Tokyo và chỉ dành riêng cho các thành viên của fanclub chính thức của Tohoshinki (TVXQ).[2][3]

Sau khi "Mirotic" được phát hành, một tranh cãi đã nổ ra do bài hát gần như giống hệt ca khúc "Under My Skin" của nữ ca sĩ người Đức Sarah Connor. Ngay sau đó SM Entertainment đã tiết lộ rằng nhóm tác giả nguyên tác của hai ca khúc đã bán bản quyền cho cả TVXQ và Sarah Connor vào tháng 1 năm 2008.[4]

Đánh giá chuyên môn

"Mirotic" đã đạt được thành công thương mại ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản. Bài hát được cho là đã thu về hơn 4,1 triệu lượt tải nhạc số ở Hàn Quốc, trở thành đĩa đơn bán chạy nhất của nhóm tại quốc gia này.[5] Trong tuần đầu phát hành tại Nhật Bản, nhạc phẩm đã ghi nhận doanh số 71.000 bản và đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon trong số ra ngày 27 tháng 10 năm 2008, trở thành đĩa đơn quán quân thứ tư của họ.[6] Bài hát được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản (RIAJ) chứng nhận Vàng cho doanh số vật lý vượt 100.000 đơn vị vào tháng 12 năm 2008 và cho lượt tải kỹ thuật số vào tháng 7 năm 2014. Trên bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100, "Jumon: Mirotic" đạt vị trí cao nhất là số bảy trong tuần ngày 22 tháng 10 năm 2008.[7]

"Mirotic" trong các danh sách của giới phê bình
Ấn phẩm Danh sách Hạng CT
Billboard 100 nhóm nhạc nam vĩ đại nhất lịch sử 41 [8]
Dong-a Ilbo Bài hát thần tượng nam xuất sắc nhất trong 20 năm qua 4 [9]
The Forty-Five 45 bài hát K-pop hay nhất lịch sử 10 [10]
Melon Top 100 bài hát K-pop hay nhất lịch sử 10 [11]
Marie Claire 35 bài hát K-pop thiết yếu [12]
Music Y 120 bài hát nhạc dance xuất sắc nhất lịch sử 20 [13]
Rolling Stone 75 nhóm nhạc nam vĩ đại nhất lịch sử 39 [14]
100 bài hát vĩ đại nhất trong lịch sử nhạc pop Hàn Quốc 25 [15]

Video âm nhạc

Video âm nhạc được ghi hình vào cuối tháng 8 năm 2008 tại khu vực lân cận Seoul, Hàn Quốc, do Cho Soo-hyun (조수현) làm đạo diễn và ra mắt vào ngày 21 tháng 9 năm 2008, sau năm ngày đoạn teaser được công bố.[16][17] Sau đó, phiên bản tiếng Nhật đã được ra mắt vào ngày 27 tháng 9 năm 2008, với một số cảnh quay thay thế so với video gốc. Ngoài ra còn có các phiên bản video khác: phiên bản vũ đạo và các phiên bản solo của từng thành viên.

Trong video, tất cả các thành viên đang bước đi thì bị một phù thủy mặc trang phục đỏ và trắng lôi kéo. Sau đó, họ lần lượt xuất hiện trong những tình huống khác nhau: Hero Jaejoong bị trói bằng còng tay dây thừng trên tường, U-Know Yunho bị những dải ruy-băng quấn quanh cổ tay, Micky Yoochunbị nhốt trong khối thủy tinh, Xiah Junsu bị mắc kẹt giữa các tia laser và Max Changmin ở trong nước. Video cũng có cảnh vũ đạo tập thể trong một căn phòng với một chiếc đèn tròn lớn ở trung tâm trần nhà. Ở phần kết, các thành viên lần lượt phá vỡ và thoát khỏi sự trói buộc, rồi đuổi theo phù thủy - người đã mất hết phép thuật. Phù thủy cố gắng chạy trốn trong khi cơ thể dần tan chảy rồi biến mất hoàn toàn khi họ tiến lại gần. Đôi mắt của các thành viên bắt đầu phát ra ánh sáng trắng xanh lúc video kết thúc.

Danh sách ca khúc

Đĩa đơn CD tại Nhật
  1. "Jumon: Mirotic" (呪文: Mirotic lit. Magic Spell: Mirotic?)
  2. "Dōshite Kimi o Suki ni Natte Shimattandarō: The Level Remix" (どうして君を好きになってしまったんだろう?:The Level Remix?)
  3. "Jumon: Mirotic (karaoke)" (呪文: Mirotic (Less Vocal)?)
Danh sách bài hát trên DVD tại Nhật
  1. "Jumon: Mirotic (Video Clip)" (呪文: Mirotic (Video Clip)?)
  2. "Off Shot Movie"

Đội ngũ sản xuất

Dưới đây là thông tin những người tham gia vào sản xuất bài hát, lấy từ các dòng ghi chú của album.

Phòng thu

Đội ngũ chính

Giải thưởng

Đề cử và giải thưởng
Năm Tổ chức Giải thưởng Kết quả CT
2008 Liên hoan âm nhạc Mnet KM Bài hát của năm Đề cử [18]
Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Đề cử
Trình diễn vũ đạo xuất sắc nhất Đề cử
2009 Giải thưởng Âm nhạc Melon Giải Ngôi sao Đoạt giải
Giải thưởng âm nhạc Seoul Giải Điện thoại di động Đại chúng Đề cử [19]
2023 Đại sảnh Danh vọng văn hóa âm nhạc Hàn Quốc Đại sảnh Danh vọng Ghi danh [20]
Các giải thưởng chương trình âm nhạc
Chương trình Ngày
Inkigayo của SBS 12 tháng 10 năm 2008
19 tháng 10 năm 2008
26 tháng 10 năm 2008
M Countdown của Mnet 16 tháng 10 năm 2008
23 tháng 10 năm 2008
30 tháng 10 năm 2008
Music Bank của KBS2 31 tháng 10 năm 2008
26 tháng 12 năm 2008


Bảng xếp hạng

Doanh số và chứng nhận

Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Nhật Bản (RIAJ)[23]
Đĩa đơn vật lý
Vàng 100.000^
Nhật Bản (RIAJ)[24]
Đĩa đơn nhạc số
Vàng 100.000*

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.

Lịch sử phát hành

Khu vực Ngày Định dạng Hãng thu âm CT
Hàn Quốc 19 tháng 9 năm 2008 (2008-09-19) SM Entertainment [25]
Nhật Bản 15 tháng 10 năm 2008 (2008-10-15) Rhythm Zone [1]
Đài Loan 10 tháng 12 năm 2008 (2008-12-10) Avex Taiwan [26][27]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a b "呪文-MIROTIC-[CD+DVD]". tower.jp (bằng tiếng Nhật). ngày 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ "東方神起、ファンに公開生告白「黙って俺について来い」". Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 16 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  3. ^ "東方神起:ジュンス、ファンに恋の呪文も玉砕… ユンホは「手紙で告白します」". Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). ngày 16 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  4. ^ "동방신기 '미로틱', 사라 코너 리메이크?...논란의 진실은" ["Bài hát 'Mirotic' của TVXQ có phải là bản remake từ Sarah Connor? ... Sự thật đằng sau cuộc tranh cãi"]. Edaily (bằng tiếng Hàn). ngày 30 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2023.
  5. ^ "東方神起、ファンに公開生告白「黙って俺について来い」". Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 16 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  6. ^ "東方神起、2008年トップとなる4作目のシングル首位!". Oricon (bằng tiếng Nhật). ngày 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
  7. ^ a b "Billboard Japan Hot 100 – October 27, 2008". Billboard Japan. ngày 27 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  8. ^ "The 100 Greatest Boy Band Songs of All Time: Critics' Picks". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  9. ^ "New survey ranks top K-pop artists & songs of the past 20 years". SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  10. ^ Daly, Rhian (ngày 11 tháng 5 năm 2023). "The 45 best K-pop songs of all-time". The Forty-Five (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2023.
  11. ^ Hicap, Jonathan (ngày 29 tháng 8 năm 2021). "Top 100 K-pop songs of all time revealed". Manila Bulletin. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2021.
  12. ^ LeGardye, Quinci (ngày 8 tháng 11 năm 2021). "35 Essential K-Pop Songs Every Fan Should Know". Marie Claire Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  13. ^ Lee, Jeong-hee (ngày 28 tháng 7 năm 2014). "Dance Track 120 20위: 동방신기 『주문:Mirotic』". Music Y (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  14. ^ "75 Greatest Boy Band Songs of All Time". Rolling Stone. ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  15. ^ "The 100 Greatest Songs in the History of Korean Pop Music". Rolling Stone (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2023.
  16. ^ "동방신기 컴백곡 '주문' 뮤비 21일 서울시청앞 광장 공개". Newsen.com (bằng tiếng Hàn). ngày 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
  17. ^ "東方神起、ファンに公開生告白「黙って俺について来い」". Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 16 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
  18. ^ "2008 Mnet KM Music Festival Part1". MAMA. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2026.
  19. ^ '불참' 동방신기, '서울가요대상' 본상 수상 (bằng tiếng Hàn). Edaily. ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013.
  20. ^ Kim, Soo-hyun (ngày 27 tháng 12 năm 2023). "데뷔 20주년 맞은 동방신기, 한국세계 음악문화 명예의 전당 제3차 헌액 Induction 아티스트 선정" [TVXQ, celebrating its 20th debut anniversary, selected as the 3rd Induction artist for the Korean World Music Culture Hall of Fame]. Financial News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
  21. ^ "Tohoshinki Japanese Discography on Oricon Style" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2009.
  22. ^ "RIAJ Digital Track Chart". April 1–7, 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2014.
  23. ^ "Chứng nhận đĩa đơn Nhật Bản – TVXQ – Jumon: Mirotic" (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Chọn 2008年12月 ở menu thả xuống
  24. ^ "Chứng nhận đĩa đơn kỹ thuật số Nhật Bản – TVXQ – Jumon: Mirotic" (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Nhật Bản. Chọn 2014年07月 ở menu thả xuống
  25. ^ "'컴백' 동방신기, 온오프라인 벌써 '장악'". star.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). ngày 22 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
  26. ^ "魔咒 -MIROTIC- (CD ONLY)". Avex Taiwan (bằng tiếng Trung). ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.
  27. ^ "魔咒 -MIROTIC- (CD+DVD)". Avex Taiwan (bằng tiếng Trung). ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2021.

Liên kết ngoài