Vissel Kobe (ヴィッセル神戸 Visseru Kōbe?) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản, hiện đang thi đấu tại giải J1 League. Đội bóng này nằm ở Kobe, tỉnh Hyōgo. Sân nhà của đội là Sân vận động Kobe Wing, ở Hyōgo-ku, đôi khi một số trận đấu của đội được chơi tại sân vận động Kobe Universiade MemorialSuma-ku.

Vissel Kobe
ヴィッセル神戸
Logo
Tên đầy đủVissel Kobe
Biệt danhUshi (cows)
Thành lập1995; 31 năm trước (1995)
SânSân vận động Noevir Kobe
Hyōgo-ku, Kōbe, Hyōgo
Sức chứa30.134
Chủ sở hữuRakuten
Chủ tịch điều hànhKatsuya Ishiyama
Người quản lýTakayuki Yoshida
Giải đấuJ1 League
2025Thứ 5 trên 18
Websitehttp://www.vissel-kobe.co.jp/
Tập tin:Inside View of Kobe Wing Stadium.jpg
Sân nhà của Kobe

Lịch sử

Đội bóng được thành lập vào năm 1966 ở hạng bán chuyên nghiệp với cái tên Câu lạc bộ Bóng đá Thép KawasakiKurashiki, Okayama Prefecture.[1] Đội bóng được lên chơi ở hạng 2 giải Japan Soccer League vào năm 1986, và trụ lại tại đây cho đến khi giải này được thay thế bằng JSL vào năm 1992.[1]

Năm 1995, thành phố Kobe đạt được một thỏa thuận với công ty chủ quản của đội bóng Kawasaki Steel, để chuyển đội bóng về Kobe và tranh một suất ở giải J. League với cái tên Vissel Kobe. Vissel là một từ ghép giữa chữ "victory" và "vessel" trong tiếng Anh, nhằm ghi nhận lịch sử của thành phố cảng Kobe.[1] (Do tầm quan trọng của đội bóng đối với thành phố Kobe, Kawasaki Heavy Industries, công ty mẹ của Kawasaki Steel, vẫn là nhà bảo trợ chính cho Vissel Kobe. Kawasaki Steel sau đó được bán và trở thành một phần của JFE Holdings.)

Vissel Kobe bắt đầu chơi ở giải Japan Football League vào năm 1995, một giải hạng dưới J. League, và chuỗi siêu thị Daiei được đề cử làm nhà tài trợ chính cho câu lạc bộ. Tuy nhiên, kinh tế đi xuống sau động đất Great Hanshin buộc Daiei phải rút lui và thành phố Kobe trở thành nhà bảo trợ chính cho đội bóng.

Mặc dù kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai tại JFL vào năm 1996, Vissel vẫn được thăng hạng lên giải J. League (do đội bóng vô địch là Honda FC, từ chối thăng hạng và trở thành đội bóng chuyên nghiệp) và bắt đầu thi đấu ở giải bóng đá cao nhất của Nhật vào năm 1997. Tuy nhiên, do vấn đề quản lý kém vì họ không thể duy trì nguồn tài trợ ổn định, Vissel chưa bao giờ đủ khản năng tranh chức vô địch giải. Đến tháng 12 năm 2003, những thua lỗ tồn đọng khiến câu lạc bộ phải đề đơn xin quy chế bảo vệ phá sản.

Thánh 1 năm 2004, Vissel được bán cho Crimson Group, công ty mẹ của công ty thương mại trực tuyến Rakuten, với chủ sở hữu là người Kobe Hiroshi Mikitani. Cho đến thời điểm hiện tại, những nỗ lực của Mikitani nhằm tăng cường sức mạnh cho đội bóng đạt được ít kết quả. Hợp đồng đầu tiên của Vissel dưới thời ông Mikitani là İlhan Mansız, nhờ vào màn trình diễn của anh ở giải 2002 FIFA World Cup tổ chức ở Hàn Quốc và Nhật Bản, là một thất bại hoàn toàn – tiền đạo người Thổ Nhĩ Kỳ chỉ chơi có ba trận trước khi rời đội bóng vì chấn thương đầu gối. Mikitani cũng khiến cho ông không được người hâm mộ ưa thích vì quyết định đổi đồng phục đội bóng từ màu sọc đen trắng sang crimson, nhằm quảng cáo cho tập đoàn Crimson Group và giống với màu của trường ông đã tốt nghiệp, Harvard Business School. (Đội bóng chày Tohoku Rakuten Golden EaglesRakuten Monkeys của Đài Loan, cùng thuộc quyền sở hữu Rakuten nhưng đặt tại SendaiĐào Viên, có đồng phục cùng màu)

Vissel kết thúc giải đấu ở vị trí 11 vào năm 2004, cùng hạng với năm trước đó. Năm 2005, họ kết thúc giải ở vị trí thứ 18 và cũng là vị trí bét bảng, dẫn đến việc xuống chơi ở giải J2. Tron khoảng thời gian 2 năm, Vissel đã thay 5 vị huấn luyện viên khác nhau. 2006 là mùa giải đầu tiên Vissel chơi ở J2 sau 9 năm chơi ở giải bóng đá cao nhất Nhật Bản. Đội kết thúc mùa giải 2006 ở vị trí thứ 3 và được thăng hạng J1 sau khi đánh bại Avispa Fukuoka trong trận play-off giành quyền thăng hạng.

Trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 Vissel đều kết thúc mùa giải ở nửa dưới bảng xếp hạng. Vào năm 2012 họ kết thúc ở vị trí 16 và là thứ 3 từ dưới bảng xếp hạng tính lên. Kết quả là đội bóng bị xuống hạng thi đấu ở giải J2.

Năm 2013 Vissel kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai, thua 4 điểm so với đội Gamba Osaka, và giành quyền thăng hạng J1 cho mùa bóng 2014.

Ngày 6 tháng 12 năm 2014, Rakuten Inc. mua lại câu lạc bộ từ Crimson Group.[2]

Thành tích tại giải J. Leaguer

Mùa Giải Đội Vị trí Khán giả J. League Cup Emperor's Cup
1997 J1 17 16 6,567 Vòng bảng Vòng 4
1998 J1 18 17 7,686 Vòng bảng Vòng 3
1999 J1 16 10 7,691 Vòng 1 Vòng 3
2000 J1 16 13 7,512 Vòng 2 Bán kết
2001 J1 16 12 13,872 Vòng 2 Vòng 4
2002 J1 16 14 10,467 Vòng bảng Vòng 3
2003 J1 16 13 11,195 Vòng bảng Tứ kết
2004 J1 16 11 15,735 Vòng bảng Vòng 4
2005 J1 18 18 14,913 Vòng bảng Vòng 4
2006 J2 13 3 6,910 Vòng 3
2007 J1 18 10 12,460 Vòng bảng Vòng 5
2008 J1 18 10 12,981 Vòng bảng Vòng 5
2009 J1 18 14 13,068 Vòng bảng Vòng 4
2010 J1 18 15 12,824 Vòng bảng Vòng 3
2011 J1 18 9 13,233 Vòng 1 Vòng 3
2012 J1 18 16 14,638 Vòng bảng Vòng 2
2013 J2 22 2 11,516 Vòng 3
2014 J1 18 11 15,010 Tứ kết Vòng 2
2015 J1 18 12 16,265 Bán kết Tứ kết
2016 J1 18 7 17,018 Tứ kết Vòng 16 đội

Lịch sử thi đấu

Total (as of 2014): 16 seasons in the top tier, 11 seasons in the second tier, 2 seasons in the third tier and 8 seasons in the Regional Leagues.

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến 9 tháng 4 năm 2026[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM   Maekawa Daiya
2 TV   Iino Nanasei
3 HV   Matheus Thuler
4 HV   Yamakawa Tetsushi (đội trưởng)
5 TV   Goke Yuta
6 TV   Ogihara Takahiro
7 TV   Ideguchi Yosuke
10   Osako Yuya
11   Muto Yoshinori
13   Sasaki Daiju (đội phó)
14 TV   Inui Takashi
15 HV   Diego
16 HV   Caetano
18 TV   Ide Haruya
19   Mitsuta Makoto (cho mượn từ Gamba Osaka)
21 TM   Arai Shota
23 HV   Hirose Rikuto
24 HV   Sakai Gōtoku (đội phó)
25 TV   Kuwasaki Yuya
26   Jean Patric
28 TV   Hamasaki Kento
29   Komatsu Ren
Số VT Quốc gia Cầu thủ
30 TV   Yamauchi Kakeru
31 HV   Iwanami Takuya
32 TM   Richard Monday Ubong
33 TV   Hashimoto Rikuto
35   Tominaga Niina
38 TV   Ura Juzo
39 TM   Takayama Shioki
40   Uchino Kōtarō (cho mượn từ Brøndby IF)
41 HV   Nagato Katsuya
42 HV   Homma Justin
43 HV   Yamada Kaito
44 TV   Hidaka Mitsuki
45   Aizawa David
46   Ito Sota Type 2
51 TV   Seguchi Taiga Type 2
53   Hayato Watanabe Type 2
55   Miyahara Yuta
56 TV   Satomi Tafuku Type 2
57 HV   Irie Ryosuke
58 TV   Onishi Sota Type 2
71 TM   Gonda Shūichi
80 HV   Nduka Boniface

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV   Ozaki Yusei (tại RB Omiya Ardija)
HV   Motoyama Haruka (tại Fagiano Okayama)
HV   Terasaka Shogo (tại Zweigen Kanazawa)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV   Adachi Shuto (tại Thespa Gunma)
  Miyashiro Taisei (tại   UD Las Palmas)

Quản lý

Quản lý Quốc tịch. Thời gian làm việc
Stuart Baxter   Scotland 1997
Hiroshi Kato   Nhật Bản 1997
Benito Floro   Tây Ban Nha 1998
Harumi Kori   Nhật Bản 1998
Ryoichi Kawakatsu   Nhật Bản 1999–02
Hiroshi Matsuda   Nhật Bản tháng 1 năm 2002–tháng 12, 02
Hiroshi Soejima   Nhật Bản 2003
Ivan Hašek   Séc tháng 1 năm 2003–tháng 12, 04
Hiroshi Kato   Nhật Bản 2004
Hideki Matsunaga   Nhật Bản tháng 1 năm 2005–tháng 4, 05
Émerson Leão   Brasil tháng 5 năm 2005–tháng 6, 05
Pavel Řehák   Séc 2005
Stuart Baxter   Scotland tháng 1 năm 2006–tháng 12, 06
Hiroshi Matsuda   Nhật Bản tháng 1 năm 2007–tháng 12, 08
Caio Júnior   Brasil tháng 12 năm 2008–tháng 1, 09
Masahiro Wada (interim)   Nhật Bản tháng 7 năm 2009–tháng 8, 09
Toshiya Miura   Nhật Bản tháng 3 năm 2009–tháng 9, 10
Masahiro Wada   Nhật Bản tháng 9 năm 2010–tháng 4, 12
Ryo Adachi (interim)   Nhật Bản tháng 4 năm 2012–tháng 5, 12
Akira Nishino   Nhật Bản 22 tháng 5 năm 2012 – 8 tháng 11 năm 2012
Ryo Adachi (interim)   Nhật Bản 9 tháng 11 năm 2012 – 31 tháng 12 năm 2012
Ryo Adachi   Nhật Bản 1 tháng 1 năm 2013 – 11 tháng 12 năm 2014
Nelsinho Baptista   Brasil 12 tháng 12 năm 2014–

Câu lạc bộ liên kết

Tham khảo

  1. ^ a b c Jリーグ – ヴィッセル神戸 [J. League – Vissel Kobe] (bằng tiếng Nhật). J. League. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013.
  2. ^ "Rakuten Acquires Football Club Vissel Kobe and Joins the J-League". Rakuten Official Website.
  3. ^ "選手/スタッフ". Vissel-Kobe.co.jp (bằng tiếng Nhật). Vissel Kobe. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2025.
  4. ^ "J-League's Vissel Kobe announces business partnership with Thailand's Chonburi FC". goal.com. ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Rakuten