Án lệ 76/2025/AL
Án lệ 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên là án lệ thứ 76 thuộc lĩnh vực hình sự của hệ thống pháp luật Việt Nam, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, Chánh án Nguyễn Văn Quảng ra quyết định công bố ngày 25 tháng 12 năm 2025,[2] và có hiệu lực cho tòa án các cấp trong cả nước nghiên cứu, áp dụng trong xét xử từ ngày 1 tháng 2 năm 2026.[3] Án lệ dựa trên nguồn là Bản án hình sự phúc thẩm số 282/2021/HS-PT ngày 6 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về vụ án "Cướp tài sản", "Bắt giữ người trái pháp luật" đối với bị cáo Bùi Thị Tú và đồng phạm, nội dung xoay quanh việc mua xe ô tô nhưng chưa làm thủ tục sang tên, sử dụng xe ô tô làm công cụ, phương tiện phạm tội, tịch thu sung phương tiện phạm tội vào ngân sách nhà nước. Cơ quan ban hành bản án là Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai là đơn vị đề xuất lựa chọn bản án này làm án lệ và là án lệ thứ 21 về lĩnh vực hình sự của Việt Nam.
| Án lệ 76/2025/AL | |
|---|---|
| Tòa án | Hội đồng Thẩm phán thông qua nguồn từ Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai |
| Tên đầy đủ | Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên |
| Phán quyết | ngày 6 tháng 12 năm 2021 |
| Trích dẫn | Bản án hình sự phúc thẩm số 282/2021/HS-PT ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về vụ án "Cướp tài sản", "Bắt giữ người trái pháp luật" đối với bị cáo Bùi Thị T và đồng phạm; Quyết định công bố án lệ 399a/2023/QĐ-CA |
| Lịch sử vụ án | |
| Lịch sử trước đó | Sơ thẩm: tuyên các bị cáo phạm tội "Cướp tài sản", "Bắt giữ người trái pháp luật", tịch thu phương tiện phạm tội là ô tô sung ngân sách nhà nước |
| Lịch sử sau này | Các bị cáo kháng cáo đề nghị giảm án và không tịch thu ô tô |
| Kết luận cuối cùng | |
| Bị cáo mua xe ô tô nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, người bán xác nhận đã bán xe ô tô cho bị cáo và không tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Sau đó, bị cáo sử dụng xe ô tô này làm công cụ, phương tiện phạm tội. Trường hợp này, Tòa án phải xác định xe ô tô là tài sản của bị cáo và tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Tòa phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm về tịch thu phương tiện phạm tội, giảm án cho chủ mưu, y án cho đồng phạm.[1] | |
Tại Đồng Nai, Bùi Thị Tú và Nguyễn Hồng Thành là bạn làm ăn mua bán đất. Sau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do Hồng Thành kéo dài thời gian trả nợ. Bùi Tú bèn chủ mưu, kết hợp với các đồng phạm, trong đó có Mai Thị Hạnh và sử dụng chiếc xe của Mai Hạnh — ô tô đứng tên người khác trong giấy tờ — để lên kế hoạch và tổ chức thực hiện, xuất phát điểm đi từ hẹn gặp Hồng Thành ở quán nước ngoại thành, yêu cầu trả nợ cho đến đem Hồng Thành vào rừng cao su, hành hung, buộc Hồng Thành phải ký và điểm chỉ một giấy nợ mới, đồng thời cướp tiền mặt. Sau đó, Hồng Thành tố giác, Công an tỉnh Đồng Nai tiến hành khởi tổ, bắt toàn bộ nhóm của Bùi Tú, điều tra và chuyển hồ sơ Viện kiểm sát truy tố. Vụ án lần lượt qua sơ thẩm, kháng cáo, phúc thẩm, kết thúc với kết luận các bị cáo phạm tội "Cướp tài sản", "Bắt giữ người trái pháp luật", kết án tù và tịch thu chiếc xe của Mai Hạnh vào ngân sách nhà nước.
Nội dung vụ án
Đồng Nai có nhóm 4 người là Bùi Thị Tú, Lê Thị Tuyết H (gọi tắt là Lê Thị), Mai Thị Hạnh và Nguyễn Hồng Thành có quan hệ làm ăn chung trong việc mua bán đất đai. Quá trình làm ăn chung thì phát sinh mâu thuẫn trong việc nợ nần tiền bạc.[1][4] Ngày 24 tháng 10 năm 2019, Bùi Thị Tú gặp Nguyễn Văn K nhờ Văn K đòi tiền nợ giùm, Văn K đồng ý. Do Nguyễn Hồng Thành đã chặn số điện thoại của Bùi Tú nên Bùi Tú không liên lạc được với Hồng Thành, vì vậy Bùi Tú bàn bạc với Văn K giả vờ gọi điện thoại cho Hồng Thành để nhờ làm giấy tờ đất, Văn K đồng ý và gọi điện cho Hồng Thành giả vờ nói nhờ làm giấy tờ đất, Hồng Thành tin tưởng nên nhận lời và hẹn gặp nhau tại quán nước Na Na (thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).[5] Sau khi đã hẹn gặp Hồng Thành, Văn K rủ thêm Phạm Văn L đi cùng, Văn L đồng ý. Lúc này Bùi Tú thuê xe ô tô của vợ chồng Nguyễn Văn T2 và Mai Thị Hạnh để đi đến địa điểm trên gặp Nguyễn Hồng Thành.[a] Khi đến quán nước Na Na, Văn K và Văn L xuống xe đi vào quán trước, còn vợ chồng Văn T2, Mai Hạnh và Bùi Tú ngồi trên xe ô tô, khi Hồng Thành đến quán gặp Văn K thì Bùi Tú và Mai Hạnh đi vào. Lúc này Bùi Tú đưa tờ giấy mượn nợ mà Hồng Thành viết mượn Lê Thị Tuyết H số tiền 211 triệu đồng và yêu cầu Nguyễn Thị trả cho Bùi Tú số tiền 60 triệu đồng (vì trước đó Bùi Tú đã ứng ra số tiền 60 triệu đồng trả cho khách mua đất trong số tiền 211 triệu đồng mà Nguyễn Thị thiếu Lê Thị). Hồng Thành cầm tờ giấy mượn nợ xem và nói rằng "Nguyễn Hồng Thành nợ Lê Thị chứ không nợ Bùi Thị Tú", do đó Bùi Tú gọi điện thoại cho Lê Thị đến. Trong lúc chờ Lê Thị đến thì Hồng Thành cầm giấy nợ đi vào nhà vệ sinh xé bỏ. Khi Lê Thị đến, Bùi Tú phát hiện Hồng Thành đã xé bỏ giấy mượn nợ nên yêu cầu Hồng Thành viết lại giấy mượn tiền với nội dung: "Nguyễn Hồng Thành nợ Bùi Thị Tú số tiền 60 triệu đồng và nợ Lê Thị số tiền 151 triệu đồng", đồng thời Bùi Tú nói Mai Hạnh lấy giấy để Hồng Thành viết thì Mai Hạnh ra xe lấy giấy, nhưng nhiều lần Hồng Thành cố tình viết sai nội dung nên bị Văn K đấm vào mặt. Xong Văn K và Văn L kéo Hồng Thành ra xe ô tô đang đợi ở ven đường và ép buộc Hồng Thành lên xe.[6]
Khi lên xe, Mai Hạnh ngồi ghế đầu bên phải cạnh chồng lái xe, Nguyễn Thị ngồi giữa Văn K và Văn L ở hàng ghế thứ hai, Bùi Tú ngồi hàng ghế phía sau cùng còn Lê Thị điều khiển xe mô tô đi theo phía sau ô tô. Trên đường đi khi đến khu vực ngã tư thành phố Biên Hòa, Hồng Thành thấy nhiều người đi đường thì la lên để nhờ người giải cứu, thì bị Văn L đấm một cái vào bụng. Do sợ bị đánh nên Hồng Thành không dám tiếp tục kêu cứu. Khi đến lô cao su ngoài thành phố, Văn K, Văn L và Bùi Tú ép Hồng Thành viết giấy nợ Bùi Tú số tiền 60 triệu đồng. Trong lúc đang viết giấy nợ, Hồng Thành thấy một xe ô tô bồn chạy ngang qua liền bỏ chạy để cầu cứu thì bị Văn K lấy đoạn gỗ cao su đánh vào người và nói "Giờ còn tờ giấy cuối cùng mày có viết không thì nói?". Do sợ bị đánh nên Hồng Thành đã viết giấy nợ theo yêu cầu của Bùi Tú với nội dung: "Nguyễn Hồng Thành mượn Bùi Thị Tú số tiền 60 triệu đồng, trong đó thế chấp xe mô tô với giá 30 triệu đồng còn lại 30 triệu đồng". Sau khi viết giấy nợ xong, Bùi Tú ép Hồng Thành ký vào giấy nợ, đồng thời Bùi Tú nói Lê Thị đưa thỏi son màu đỏ của Lê Thị để Bùi Tú thoa vào ngón tay của Hồng Thành và bắt Hồng Thành điểm chỉ vào giấy nợ, đồng thời Mai Hạnh và Lê Thị ký xác nhận vào giấy với vai trò người làm chứng. Xong Bùi Tú lục túi quần của Hồng Thành lấy ví đựng tiền, thấy có số tiền 1,4 triệu đồng nên Bùi Tú lấy 1 triệu đồng trả tiền thuê xe cho vợ chồng Mai Hạnh, còn Bùi Tú giữ lại 400 nghìn đồng, trả lại cho Hồng Thành 100 nghìn đồng để Hồng Thành tự gọi xe về. Sau đó, cả nhóm lên xe ô tô đi về còn Hồng Thành đã đến Công an phường Bình Đa trình báo sự việc. Sau khi nhận trình báo của Hồng Thành, Công an tỉnh Đồng Nai đã triển khai điều tra, truy tìm về camera ở quán nước Na Na, camera hành trình ô tô Kia, bắt tạm giam nhóm người liên quan, tịch vụ vật chứng,[b] đồng thời khởi tố vụ án.[6]
Sơ thẩm
Ngày 2 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên hình sự sơ thẩm tại trụ sở ở thị trấn Long Thành (nay là phường Long Thành, Đồng Nai). Kết thúc xét xử, Tòa án Long Thành xử phạt bị cáo Bùi Tú phạm tội "Cướp tài sản" 6 năm tù, tội "Bắt người trái pháp luật" 8 tháng tù, tổng hợp hình phạt của hai tội là 6 năm 8 tháng tù; bị cáo Văn K 2 tội tương tự bị cáo Bùi Tú, tổng hợp 6 năm 2 tháng tù; bị cáo Văn L 2 tội tương tự và thêm 1 tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" lĩnh án 2 năm tù, tổng hợp 7 năm 8 tháng tù. Về biện pháp tư pháp, Tòa sơ thẩm tuyên tịch thu, tiêu huỷ hung khí là đoạn gỗ cao su, trả cho bị hại Hồng Thành xe mô tô cùng với giấy đăng ký xe và số tiền 1, 4 triệu đồng, tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước xe ô tô hiệu Kia.[7][8]
Phúc thẩm
Ngày 8 tháng 4 năm 2021, các bị cáo Bùi Tú, Văn K và Văn L có đơn kháng cáo đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 16 tháng 4 cùng năm, bị cáo Mai Hạnh có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên trả lại chiếc xe ô tô Kia cho bị cáo. Tiếp nhận kháng cáo, ngày 6 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai mở phiên hình sự phúc thẩm tại trụ sở ở 310 Cách Mạng Tháng 8, Trấn Biên, Đồng Nai.
Quan điểm của Viện kiểm sát
Tại phiên phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng hành vi của các bị cáo Bùi Tú, Văn K và Văn L đã phạm vào tội "Cướp tài sản" và tội "Bắt người trái pháp luật" quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).[9][10] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Bùi Tú 6 năm 8 tháng tù, bị cáo Văn K 6 năm 2 tháng tù, bị cáo Văn L 7 năm 8 tháng tù (bổ sung tội "Tàng trữ trái phép chất ma tùy".[c][11] Viện kiểm sát xét thấy mức án trên là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác, ngoài bị cáo Bùi Tú có cung cấp thêm giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, có cha mẹ là người có công với cách mạng. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.[12]
Đối với bị cáo Mai Hạnh kháng cáo xin được trả lại chiếc xe ô tô Kia, Viện kiểm sát xét thấy, chiếc xe ô tô này là phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh của cơ quan điều tra, chiếc xe ô tô này có tên chủ sở hữu là Phạm Thụy Anh Đ. Ngày 10 tháng 4 năm 2018, Phạm Thị đã bán chiếc xe trên cho Lê Thành N hình thức là hợp đồng ủy quyền, đến ngày 20 tháng 3 năm 2019, Lê Thành N bán chiếc xe trên lại cho bị cáo Mai Hạnh theo hình thức là hợp đồng ủy quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định. Mặc dù về mặt pháp lý chiếc xe trên vẫn đứng tên Phạm Thị nhưng thực tế đã bán cho bị cáo Mai Hạnh. Căn cứ vào hợp đồng ủy quyền đều xác nhận đã bán, không thắc mắc gì đối với chiếc xe trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước xe ô tô do vợ chồng bị cáo Mai Hạnh làm phương tiện phạm tội là phù hợp, đúng quy định pháp luật, kháng cáo của bị cáo Mai Hạnh là không có cơ sở chấp nhận. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Mai Hạnh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.[12]
Quan điểm của Luật sư bào chữa về tịch thu tài sản
Tại phiên tòa, Luật sư Phạm Quốc Việt bào chữa cho bị cáo Mai Hạnh trình bày quan điểm xác định rằng bị cáo Mai Hạnh hoàn toàn không có ký hợp đồng mua bán xe nào với chủ sở hữu Phạm Thị, Lê Thành N. Hiện nay, bị cáo Mai Hạnh đã nộp đơn khởi kiện Lê Thành N tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để tranh chấp "Hợp đồng ủy quyền", yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2019 giữa Mai Hạnh và Lê Thành N, yêu cầu Lê Thành N trả lại 340 triệu đồng và bị cáo Mai Hạnh sẽ trả lại chiếc xe Kia. Vì vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét trả lại chiếc xe ô tô trên cho bị cáo Mai Hạnh là phù hợp và để đảm bảo thi hành án cho vụ án đang khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.[13][14]
Nhận định của tòa án
Hội đồng xét xử, nội dung nhận định.[15]
Hội đồng xét xử Tòa phúc thẩm nhận định rằng, 3 bị cáo Bùi Tú, Mai Hạnh, Lê Thị có mối quan hệ quen biết do làm ăn chung với bị hại Nguyễn Hồng Thành. Trong quá trình làm ăn chung phát sinh mâu thuẫn về vấn đề nợ nần tiền bạc, theo đó Hồng Thành còn nợ tiền của bị cáo Bùi Tú, Lê Thị, bị cáo Bùi Tú đã nhiều lần yêu cầu Hồng Thành phải trả nhưng Hồng Thành cố tình không trả nợ và chặn điện thoại của bị cáo Bùi Tú, nên bị cáo Bùi Tú nhờ bị cáo Văn K giúp hẹn gặp để đòi nợ Hồng Thành. Sau đó, Bùi Tú, Văn K, Văn L, Lê Thị, vợ chồng Mai Hạnh cùng đến gặp Hồng Thành tại quán Na Na, dùng vũ lực buộc Hồng Thành viết lại giấy nợ mà Hồng Thành đã xé bỏ trước đó. Sau đó, Bùi Tú lục túi quần của Hồng Thành lấy ví đựng tiền, trong ví có số tiền 1,4 triệu đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt của bị hại Hồng Thành là 61,4 triệu đồng. Với hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo Bùi Tú, Văn K và Văn L đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội "Cướp tài sản" theo điểm d "sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác", điểm đ "chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng" khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội "Bắt người trái pháp luật" theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.[16]
Xét kháng cáo của các bị cáo Bùi Tú, Văn K và Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng, hành vi của các bị cáo này là nguy hiểm cho xã hội, đã không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp, quyền tự do thân thể của người khác, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Bùi Tú có vai trò chính, không những bị cáo là người chủ động lên kế hoạch, lôi kéo bị cáo Văn K tham gia, thuê xe làm phương tiện phạm tội, mà bị cáo còn trực tiếp chiếm đoạt số tiền 1,4 triệu đồng của bị hại; 2 bị cáo Văn K, Văn L tham gia với vai trò đồng phạm, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực như đánh, đe dọa, lôi, ép bị hại phải lên xe đi nơi khác, ép bị hại viết giấy nợ trái với ý muốn của bị hại (bị cáo Văn K dùng cây cao su đánh bị hại khi bị hại có ý định bỏ chạy, bị cáo Văn L giơ tay đe dọa đánh nếu bị hại không làm theo yêu cầu, khiến bị hại Hồng Thành lo sợ, lâm vào tình trạng không thể chống cự và buộc phải làm theo yêu cầu của các bị cáo). Do đó, bị cáo Bùi Tú phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Văn K và bị cáo Văn L và cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.[17]
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có một phần lỗi (tự ý xé giấy nợ) và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),[18] mặc dù cấp sơ thẩm nhận định nhưng không áp dụng trong phần quyết định đối với bị cáo Văn K và bị cáo Văn L là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm về cách tuyên; riêng bị cáo Bùi Tú đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Tú là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).[19] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)[20] cho các bị cáo để xét xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, đồng thời áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)[21] tổng hợp hình phạt chung của hai tội là đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo theo từng hình phạt tù tại bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật.[17]
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Văn K và Văn L xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác chưa được xem xét. Bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới, do đó kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận. Bị cáo Bùi Tú xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp đơn xác nhận gia đình hoàn cảnh khó khăn (được chính quyền địa phương xác nhận)[d] là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa được cấp sơ thẩm xem xét, ngoài ra Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo là nữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế (lớp 9/12); quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo còn bị bệnh Covid-19, do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Bùi Tú nhằm tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, có thể chăm sóc bản thân và phụng dưỡng cha mẹ già là thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.[22]
Đối với kháng cáo của bị cáo Mai Hạnh, Hội đồng xét xử thấy rằng, xe ô tô Kia do các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, do chính vợ chồng bị cáo Mai Hạnh điều khiển, có chủ sở hữu là Phạm Thị, đã bán cho Lê Thành N qua hình thức hợp đồng ủy quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định. Sau đó, Lê Thành N bán xe trên lại cho bị cáo Mai Hạnh, tiếp tục theo hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định. Mặc dù về pháp lý, chiếc xe trên vẫn đứng tên Phạm Thị nhưng thực tế đã bán cho bị cáo Mai Hạnh và bị cáo là chủ sở hữu, bởi lẽ căn cứ vào phạm vi ủy quyền của 02 hợp đồng ủy quyền nêu trên thì bị cáo Mai Hạnh có đủ 3 quyền của chủ sở hữu gồm chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (cầm cố, tặng cho, cho thuê hoặc bán...). Việc này cũng được các bên xác nhận đã bán xe, đã nhận tiền đầy đủ, giao xe. Từ phân tích trên, đủ cơ sở xác định chiếc xe ô tô là của bị cáo Mai Hạnh. Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)[23] tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe ô tô do vợ chồng bị cái Mai Hạnh sử dụng làm phương tiện phạm tội là phù hợp, đúng quy định pháp luật.[24]
Quyết định
Căn cứ hồ sơ vụ án và nhận định tại phiên phúc thẩm,[25][26] Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định không chấp nhận kháng cáo của Văn K và Văn L, y án sơ thẩm lần lượt 6 năm 2 tháng tù và 7 năm 8 tháng tù,[27][28] chấp nhận kháng cáo của Bùi Tú, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, theo đó, xử phạt Bùi Tú 5 năm tù về tội "Cướp tài sản", giảm 1 năm so với bản án sơ thẩm, tổng hợp hình phạt là 5 năm 8 tháng tù, tính từ ngày bị bắt, tức ngày 12 tháng 3 năm 2020. Ngoài ra, Tòa phúc thẩm y án Tòa sơ thẩm về tịch thu, tiêu hủy tang vật, sung vào ngân sách nhà nước xe ô tô Kia.[29]
Hình thành án lệ
Năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đề xuất Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn bản án hình sự phúc thẩm do cơ quan mình ban hành làm án lệ nhằm xác định rõ tài sản mặc dù chưa hoàn tất việc thực hiện thủ tục sang tên nhưng bản chất thuộc sở hữu trên thực tế, đủ căn cứ để tịch thu sung ngân sách nhà nước do là phương tiện được sử dụng để phạm tội.[30] Bản án này vượt qua vòng chọn lựa ban đầu và được đưa vào danh mục 22 dự thảo án lệ, trong đó có 6 án về hình sự, 11 dân sự, kinh doanh, thương mại, 2 hành chính, 2 lao động, 1 dân sự, trình Tòa tối cao. Các dự thảo án lệ được đăng tải lấy ý kiến cả nước và lấy ý kiến các chuyên gia thông qua nhiều hội thảo, phiên họp tại Đắk Lắk, Bình Định trong năm[31][32]. Ngày 24 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn án lệ để cho ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ và giao Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học của Tòa tối cao chỉnh lý, biên soạn tiếp thu ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức trong cả nước.[33] Qua các vòng tuyển chọn, Hội đồng thẩm phán Tòa tối cao đã biểu quyết chọn bản án hình sự phúc thẩm này làm án lệ, chính thức trở thành Án lệ 76/2025/AL và là án lệ hình sự thứ 21 trong hệ thống án lệ Việt Nam cùng với các án lệ hình sự gồm Án lệ 73/2025/AL, Án lệ 74/2025/AL, Án lệ 75/2025/AL được công bố cùng đợt năm 2025.[34][35][36][37]
Ghi chú
- ^ Ô tô 7 chỗ hãng Kia Motors, biển số 60A-242.93.
- ^ Vật chứng thu giữ gồm: 1 giấy cam đoan vay nợ; 1 xe mô tô biển số 60F2-858.45 kèm theo giấy đăng ký xe; 1 xe ô tô biển số 60A-242.93 kèm theo giấy đăng ký xe; 1 thẻ nhớ thu trên camera hành trình của xe ô tô biển số 60A-242.93; 1 USB ghi lại camera tại quán nước Na Na; 1 đoạn gỗ cao su dài 30cm đường kính 2,5cm.
- ^ Bị cáo Văn L còn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và bị xét xử bởi Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa vào tháng 3 năm 2020.
- ^ Huy chương kháng chiến hạng nhất của mẹ bị cáo và Huy chương kháng chiến hạng nhì của cha bị cáo.
Tham khảo
Chú thích
- ^ a b Án lệ 76/2025/AL, tr. 1.
- ^ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng, Quyết định 399a/QĐ-CA về việc công bố án lệ.
- ^ Quyết định 399a/QĐ-CA, Điều 2:
"Các Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ nêu tại Điều 1 của Quyết định này trong xét xử kế từ ngày 01 tháng 02 năm 2026". - ^ Hải Thư (ngày 21 tháng 2 năm 2026). "Không sang tên đổi chủ để lách luật, ôtô vẫn bị tịch thu". VnEpress. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2026.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 1-2.
- ^ a b Án lệ 76/2025/AL, tr. 2.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 3.
- ^ Bản án sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 02/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điểm d, đ khoản 2 Điều 168: Tội cướp tài sản
"...2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;". - ^ Bộ luật Hình sự 2015, Khoản 1 Điều 157: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
"1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.". - ^ Bản án số 143/2020/HS-ST ngày 26/3/2020 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- ^ a b Án lệ 76/2025/AL, tr. 4.
- ^ Thông báo thụ lý số 615/TB-TLVA ngày 01/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 4-5.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 9-10.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 5.
- ^ a b Án lệ 76/2025/AL, tr. 6.
- ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
"1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
...s) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.". - ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điểm b khoản 1 Điều 51: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
"1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
...b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;". - ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điều 54: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
- ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điều 55: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 7.
- ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điều 47: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
- ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 8.
- ^ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điểm a, b khoản 1 Điều 355: Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm
"1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
b) Sửa bản án sơ thẩm;". - ^ Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điểm c khoản 1 Điều 357: Sửa bản án sơ thẩm
"c) Giảm hình phạt cho bị cáo;". - ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điều 56: Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
- ^ Bộ luật Hình sự 2015, Điều 58: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm
"Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.". - ^ Án lệ 76/2025/AL, tr. 9.
- ^ Hoàng An (ngày 23 tháng 2 năm 2026). "Ô tô chưa sang tên bị tòa tuyên tịch thu, sung công". Tiền Phong. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2026.
- ^ Lê Hiếu (ngày 3 tháng 6 năm 2024). "TANDTC tổ chức Hội thảo lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Công lý.
- ^ Minh Giang; Phạm Hiến (ngày 27 tháng 7 năm 2024). "Tòa án nhân dân tối cao lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Media Công lý.
- ^ Mai Đỉnh (ngày 24 tháng 7 năm 2024). "TANDTC lấy ý kiến đối với 22 dự thảo án lệ". Công lý. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ P.V (ngày 3 tháng 2 năm 2026). "TAND Tối cao công bố 10 án lệ mới". Tuổi trẻ.
- ^ Hà Chi (ngày 4 tháng 2 năm 2026). "Tòa án nhân dân tối cao công bố 10 án lệ". Tạp chí Tòa án nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.
- ^ Nga Phạm (ngày 14 tháng 2 năm 2026). "Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên". Tạp chí Tòa án nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2026.
- ^ Phan Hòa Hiệp (ngày 21 tháng 2 năm 2026). "Điểm mới và tác động của 04 Án lệ hình sự (án lệ số 73–76/2025/AL) trong việc thống nhất áp dụng pháp luật". Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai.
Thư mục
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2025). "Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên". Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam.
- Quốc hội Việt Nam khóa XIII (2015). "Bộ luật Hình sự". Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật.
- Quốc hội Việt Nam khóa XIV (2017). "Bộ luật Hình sự". Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2026.
- Quốc hội Việt Nam khóa XIII (2015). "Bộ luật Tố tụng hình sự". Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật.
Liên kết ngoài
- Website Án lệ Việt Nam của Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam.
- Án lệ 76/2025/AL tại Website Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam.