Điềm tần Phú Sát thị (chữ Hán: 恬嫔富察氏; ? - 19 tháng 7 năm 1845), người Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.

Thanh Tuyên Tông Điềm tần
清宣宗恬嫔
Đạo Quang Đế Tần
Thông tin chung
Mất19 tháng 7 năm 1845
Tử Cấm Thành, Bắc Kinh
An tángMộ Đông lăng (慕東陵), Thanh Tây lăng
Phối ngẫuThanh Tuyên Tông
Đạo Quang Hoàng đế
Tước hiệuTrắc Phúc tấn (侧福晋)
Điềm tần (恬嫔)
Điềm phi (恬妃) (?)
Thân phụTra Thanh A

Thân thế

Phú Sát thị không rõ năm sinh, có lẽ sinh vào những năm Càn Long. Bà là con gái của Diêm Vận sứ Quảng Đông Tra Thanh A[1], tằng tôn nữ của Nhất Đẳng Đôn Huệ Bá Phó Lương con trai của Văn Mục Công Đại Học sĩ Mã Tề thuộc Sa Tế Phú Sát thị, anh trai của Lý Vinh Bảo, bác của Hiếu Hiền Thuần Hoàng Hậu.

Danh thần thời Khang Ung là Mã Tề sinh được 12 con trai, hình thành 12 phòng hậu duệ, lấy chi của người con trai thứ 11 là Phó Lương thừa tập tước vị Bá tước làm đại tông. Tấn phi của Càn Long là cháu gái nội của đệ ngũ phòng Phó Quảng, Thục Thận Hoàng quý phi của Đồng Trị là cháu gái bốn đời của đệ tứ phòng Phó Đức, mà Điềm tần chính là chắt gái của đệ thập nhất phòng Phó Lương có môn đệ cao nhất.

Điềm tần xuất thân thế gia Kỳ nhân, môn đệ tương đối không tồi. Đạo Quang là người thừa kế đã được định sẵn của Gia Khánh, việc tuyển chọn trắc thất của ông hẳn là cũng đã kiêm cố việc xem xét xuất thân.

Đại Thanh tần phi

Nhập cung

Bà nhập tiềm để của Đạo Quang Đế khi ông còn là Hoàng Tử, là vị Trắc Phúc tấn[2] đầu tiên trong các thị thiếp của Đạo Quang Đế. Theo những hồ sơ còn tồn tại, Phú Sát Thị cùng Hòa phi Na Lạp Thị và Bình Quý nhân Triệu Thị, Định Quý nhân Tôn Thị là 4 vị thị thiếp duy nhất của Đạo Quang Đế khi ông còn là Hoàng Tử.

Trừ bỏ ba vị thị thiếp kia đã xác định xuất thân Bao y, Phú Sát Thị lại khác một chút. Bà là vị Trắc phúc tấn đầu tiên của Đạo Quang Đế, chưa hề có lưu lại ký lục đã từng sinh dục, nhưng trong năm Gia Khánh thứ 4 đã sớm được gọi là "Hoàng nhị tử Trắc phi", nên rất có khả năng bà được chỉ định làm Trắc phúc tấn cùng lúc với Hiếu Mục Thành Hoàng hậu. Mà theo quy chế nhà Thanh, được ban làm Trắc phúc tấn trực tiếp, thì xuất thân phải ở Kỳ phân Tá lĩnh, khác với vị trí Cách cách do sinh dục mà tấn phong, trường hợp đó có thể chỉ là Bao y cũng được, như Hòa phi sinh hạ Hoàng trưởng tôn, nên tấn phong Trắc phúc tấn.

Năm Gia Khánh thứ 25 (1820), chiếu phong làm Điềm tần (恬嬪), ngự ở Diên Hi cung, Điềm tần được xếp trước Hoà tần theo thứ tự[3]. Năm Đạo Quang thứ 2 (1822), ngày 16 tháng 11 (âm lịch), lấy Nội các Học sĩ Minh Chí (明志) làm Chính sứ, Nội các Học sĩ Dịch Kinh (奕經) làm Phó sứ, tiến hành sách phong lễ cho Điềm tần. Phong hiệu "Điềm", có Mãn văn là 「Elehun」, ý là "Thản nhiên", "Điềm nhiên".

Sách văn viết:

Vào tháng 8 năm Đạo Quang thứ 7 (1827), Hoàng hậu cùng các phi tần thăm thân tộc tại các cửa. Hoàng hậu, Toàn Quý phi, Tường phi, Tĩnh phi hội thân vào mùng 2 và 3, trong đó Điềm tần và Hoà phi hội thân vào mùng 2, mùng 4 thì có Thuận Quý nhân. Thân tộc của Hoàng hậu và những người đi cùng khi ra vào thì đi cửa Tây Nam (西南门); Toàn Quý phi, Hòa phi, Tường phi, Tĩnh phi, Thuận Quý nhân đi cửa Phúc Nguyên (福原门); Điềm tần đi cửa Thương Chấn (苍震门).[4]

Ghi chép đương thời

Theo ghi chép của Kính Sự phòng, vào năm Đạo Quang thứ 20 (1840), một cung nữ thuộc Diên Hi cung của Điềm tần được cho xuất cung vì bệnh. Tư liệu ghi nhận rằng Phú Sát thị từng nhắn người này sau khi bình phục có thể trở lại cung tiếp tục hầu hạ.

Theo nhật ký của Ông Tâm Tồn (翁心存), vào dịp Tết Nguyên Đán hằng năm, Đạo Quang Đế thường sai Điềm tần đến hậu điện của Trữ Tú cung, nơi Hiếu Thận Thành Hoàng hậu từng sinh sống để thắp hương.

Cuối đời

Năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ chính điện, hậu điện cùng với đông tây phối điện, tổng cộng 25 gian, chỉ còn sót lại mỗi cửa cung.[5] Tổng quản Thái giám của Diên Hi cung bị phạt 100 trượng và đày đi Hắc Long Giang[6]. Điềm tần có khả năng đã bị trọng thương trong đám cháy lớn dẫn đến tử vong không trị khỏi. Bởi vì Thành Quý nhânThường Quý nhân vốn cùng sống ở Diên Hi cung đều được chuyển sang Hàm Phúc cung, trong khi Điềm tần với tư cách là chủ vị thủ lĩnh của Diên Hi cung lại không có bất kỳ ghi chép nào về việc chuyển cư nơi khác, điều này thực sự rất đáng nghi vấn.

Vào giờ Tuất, ngày 19 tháng 7 (âm lịch) Điềm tần Phú Sát thị hoăng thệ, linh cữu tạm quàn tại Cát An sở (吉安所). Cùng năm, giờ Thân, ngày 21 tháng 7 kim quan của bà được tạm táng tại Điền Thôn (田村). Vào giờ Mão, ngày 2 tháng 11 kim quan được di dời về Mộ Đông lăng (慕東陵) thuộc Thanh Tây lăng, cùng đi có thái quan của Định Quý nhân. Ngày 7 tháng 11, giờ Thân thì được táng vào địa cung.

Nghi vấn

Nghi vấn phong Phi

Vào giờ Ngọ, ngày 11 tháng 6 năm Đạo Quang thứ 11 (1831), nhân dịp Lễ tắm ba ngày của Hoàng tứ tử Dịch Trữ, bà đỡ Trương thịThiệu thị được bổ nhiệm làm Cung tẩy nhân. Hồ sơ Thanh cung chép rằng, Điềm phi đã chuẩn bị sẵn các lễ vật để "Thiêm bồn" (thêm đồ vào chậu nước tắm). Lý do hồ sơ gọi Phú Sát thị là "Điềm phi" hiện chưa rõ, hoặc có thể Đạo Quang Đế từng có chiếu dụ sắc phong bà làm Phi.

Gọi Quý tần

Sau khi Phú Sát thị hoăng thệ, có một tấu triết bằng tiếng Mãn mang tên "Quý tần táng lễ tấu nghị" gọi bà là "Quý tần", lý do chưa rõ, có thể vì địa vị của Phú Sát thị trong cung khá cao. Theo một bộ hồ sơ khác của Lễ bộ, tang lễ được cử hành theo tiền lệ hoăng thệ của Hoàng khảo Vinh tần vào năm Đạo Quang thứ 6 (1826), không cần phải bãi triều.

Trong văn hóa đại chúng

Năm Phim ảnh Diễn viên Nhân vật
2006 Đại Thanh hậu cung Trần Tú Lệ Phú Sát Lan Hiên

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Tra Thanh A Bia Văn" (Trích lục): Tra Thanh A, ông sinh được hai con trai, trưởng là Thành Đoan, thứ là Thành Xuân. Hai con gái, trưởng nữ được sách phong làm Điềm tần vào triều Đạo Quang. Thứ nữ do trắc thất Hàn thị sinh ra, gả cho cháu trai (hoặc chắt) của Đại học sĩ Công Trường Linh thuộc thị tộc Sát Nhĩ Đồ Khắc của Mông Cổ. (Bằng tiếng Trung) 《查清阿碑文》(节录):查清阿,公生子二人,长诚端,次诚春。女二人,长女,道光朝册封恬嫔。次女,侧室韩氏出,适蒙古萨尔图克氏大学士公长龄之侄子孙。
  2. ^ Ái Tân Giác La Tông Phổ · Tinh Nguyên Tập Khánh" bản năm 1938 (Trang 86): Điềm tần Phú Sát thị, thời Gia Khánh làm Trắc Phúc tấn nơi Tiềm để. Tháng 11 năm Đạo Quang thứ 2 sách phong làm Điềm tần. Hoăng ngày 19 tháng 7 năm Ất Tỵ, năm Đạo Quang thứ 25[...] (Bằng tiếng Trung) 1938年版《爱新觉罗宗谱·星源集庆》(页八六)恬嫔 富察氏 嘉庆时为潜邸侧福晋 道光二年十一月册封恬嫔 廿五年乙巳七月十九日薨[……]
  3. ^ Thanh Thực Lục ‧ Nhân Tông Duệ Hoàng Đế Thực Lục": Sách văn viết: Trẫm nghĩ nơi tiêu đình giúp việc hóa dục, lục cung sửa sang nghi lễ nội giáo; điện lan đón nhận ánh huy hoàng, cửu ngự chuẩn bị chế độ nội quan. Trao chương báu chim loan để ban sủng, rực rỡ màu lông địch để tăng vinh. Đoái nghĩ ngươi là Trắc Phúc tấn Phú Sát thị, đức sáng nhu gia, lòng tỏ thục thận. Giúp nơi trung khuê cho hòa hiệp, khuôn phép rõ lòng; thuần thục nội tắc để không lỗi lầm, khuê chương hợp độ. Nay dùng sắc phong ngươi làm Điềm tần, ban cho sách mệnh. Ngươi hãy càng thêm cung cẩn, nhận phúc lành lớn nơi đồng khuê; càng ra sức cần mẫn, đón hy khánh lớn ở tử dịch. Khâm tai. (Bằng tiếng Trung) 《清实录‧仁宗睿皇帝实录》:册文曰。朕惟椒庭赞化。六宫修壸教之仪。兰殿承辉。九御备内官之制。贲鸾章而宠锡。耀翟采以荣增。咨尔侧福晋富察氏、德表柔嘉。心昭淑慎。翼中闺而克协。绳矩明衷。娴内则以无愆。圭璋合度。是用封尔为恬嫔。锡之册命。尔其益怀恭谨。膺蕃祉于彤闺。弥励匡勤。迓洪禧于紫掖。钦哉。
  4. ^ Năm Đạo Quang thứ 7, "Đơn ghi ngày tháng hội thân của Hoàng hậu, Phi tần các vị vị", lưu trữ tại Bản tàng Lưu trữ Lịch sử Thứ nhất Trung Quốc, số hồ sơ: 05-13-002- 000128-0145, nội dung: Ngày mùng 2, mùng 3 tháng 8, Hoàng hậu, Toàn Quý phi, Tường phi, Tĩnh phi hội thân. Ngày mùng 2, Hòa phi, Điềm tần hội thân. Ngày mùng 4, Thuận Quý nhân hội thân. Thân tộc của Hoàng hậu và những người đi cùng khi ra vào thì đi cửa Tây Nam; Toàn Quý phi, Hòa phi, Tường phi, Tĩnh phi, Thuận Quý nhân đi cửa Phúc Nguyên; Điềm tần đi cửa Thương Chấn. (Bằng tiếng Trung) 道光七年《皇后妃嫔等位会亲日期单》,中国第一历史档案馆藏,档案号:05-13-002- 000128-0145,内容:八月初二、初三日,皇后、全贵妃、祥妃、静妃会亲。初二日,和妃、恬嫔会亲。初四日,顺贵人会亲。皇后亲族人等出入走西南门,全贵妃、和妃、祥妃、静妃、顺贵人走福原门,恬嫔走苍震门。
  5. ^ "Cố cung Tử Cấm Thành".
  6. ^ Ngày 23 tháng 5 năm Đạo Quang thứ 25, "Bản tấu triều đình về việc cung Diên Hi bị hỏa hoạn, đã dẫn đầu các quan viên, binh đinh đến dập lửa cứu hộ" (Bằng tiếng Trung) 道光二十五年五月二十[三]日 《奏为延禧宫失火率领官员兵丁扑救事折》