Lựu pháo 122 mm 2A18 (D-30)
| Lựu pháo 122 mm 2A18 (D-30) | |
|---|---|
Pháo D-30A trong biên chế quân đội Afghanistan | |
| Loại | Lựu pháo |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1960–nay |
| Sử dụng bởi | xem phần Các quốc gia sử dụng |
| Trận |
|
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | F.F. Petrov |
| Năm thiết kế | Thập niên 1950 |
| Nhà sản xuất | Nhà máy số 9 (PJSC Plant No. 9) |
| Giai đoạn sản xuất | 1960–nay |
| Các biến thể | Xem phần Các biến thể |
| Thông số | |
| Khối lượng | Trọng lượng chiến đấu: 3,21 t (3,16 tấn Anh; 3,54 tấn Mỹ) |
| Chiều dài | Khi hành quân: 5,4 m (17 ft 9 in) |
| Độ dài nòng | 4,66 m (15 ft 3 in) L/38[9] |
| Chiều rộng | Khi hành quân: 1,9 m (6 ft 3 in) |
| Chiều cao | Khi hành quân: 1,6 m (5 ft 3 in) |
| Kíp chiến đấu | 1 chỉ huy + 7 pháo thủ |
| Đạn pháo | 122 x 447 mm R Nạp rời (liều phóng và đầu đạn riêng)[9] |
| Cỡ đạn | 122 mm (4,8 in) |
| Khóa nòng | Khóa nòng trượt thẳng đứng bán tự động[9] |
| Độ giật | Thủy-khí |
| Bệ pháo | Giá pháo 3 chân (tripod) |
| Góc nâng | −7° đến 70° |
| Xoay ngang | 360° |
| Tốc độ bắn | Tối đa: 10–12 phát/phút Duy trì: 5–6 phát/phút |
| Tầm bắn hiệu quả | 15,4 km (9,6 mi) 21,9 km (13,6 mi) (với đạn tăng tầm RAP) |
Lựu pháo 122-mm D-30 (định danh GRAU là 2A18) là một mẫu lựu pháo của Liên Xô chính thức biên chế vào năm 1960. Đây là một vũ khí bền bỉ, tập trung vào các tính năng thiết yếu của một khẩu pháo dã chiến kéo tay phù hợp với mọi điều kiện tác chiến. D-30 có tầm bắn tối đa 15,3 km (9,5 mi) hoặc 21,9 km (13,6 mi) nếu sử dụng đạn tăng tầm bằng tên lửa (RAP).
Với thiết kế giá pháo ba chân, D-30 có thể quay nhanh (chỉnh hướng) đủ 360 độ. Mặc dù không còn được sản xuất tại các quốc gia hậu Xô Viết, D-30 vẫn tiếp tục được chế tạo ở quy mô quốc tế và hiện đang phục vụ trong lực lượng vũ trang của hơn 60 quốc gia.
Cụm nòng pháo của 2A18 cũng chính là loại được sử dụng trên pháo tự hành 2S1 Gvozdika. Ngoài ra còn có các biến thể pháo tự hành được chuyển đổi bởi Ai Cập, Trung Quốc, Serbia và Syria. Biến thể của Syria sử dụng khung gầm của xe tăng T-34.
Lịch sử
Cỡ nòng 122 mm (4,8 in) (nguyên gốc là 48 line) được Nga chấp nhận từ đầu thế kỷ 20, trở nên cực kỳ quan trọng đối với pháo binh Liên Xô trong Thế chiến thứ hai. Việc phát triển D-30 bắt đầu vào những năm 1950 nhằm thay thế cho lựu pháo M-30, vốn được sử dụng rộng rãi trong pháo binh cấp sư đoàn và trung đoàn. D-30 cũng thay thế các khẩu pháo M1942 cỡ nòng 76 mm (3,0 in) còn lại trong các trung đoàn bộ binh cơ giới.[10]
Các yêu cầu quân sự dẫn đến sự ra đời của D-30 có thể được suy luận từ vai trò của nó. Với nhiệm vụ hỗ trợ các trung đoàn tăng và bộ binh cơ giới, cùng học thuyết của Liên Xô từ Thế chiến II, có thể thấy rằng dù hỏa lực gián tiếp (bắn cầu vồng) là vai trò chính, nhưng hỏa lực trực tiếp chống tăng cũng rất quan trọng. Minh chứng cho điều này là loại đạn HEAT rất hiệu quả, thiết kế hình dáng thấp, khả năng quay nòng nhanh và rộng cùng tấm chắn bảo vệ xạ thủ.
D-30 được thiết kế bởi Cục thiết kế pháo binh số 9 tại Sverdlovsk (nay là Ekaterinburg), thời điểm đó do nhà thiết kế pháo binh lỗi lạc Fëdor Fëdorovich Petrov (1902–1978) lãnh đạo. Đội ngũ này cũng chịu trách nhiệm thiết kế mẫu M-30 trước đó, mẫu lựu pháo D-20 152 mm sau chiến tranh và nhiều loại pháo khác.

Pháo binh cấp sư đoàn của Liên Xô được biên chế cho các trung đoàn cơ động (trong các cụm pháo binh trung đoàn – RAG) và các đơn vị cấp sư đoàn (trong các cụm pháo binh sư đoàn – DAG). Một cụm RAG thường có ba đại đội, mỗi đại đội sáu khẩu pháo, hỗ trợ cho mỗi trung đoàn tăng và bộ binh cơ giới. Các cụm DAG chủ yếu trang bị pháo 152 mm (6,0 in), nhưng cụm DAG của một sư đoàn bộ binh cơ giới vẫn bao gồm một tiểu đoàn D-30. Vai trò của RAG là hỏa lực dã chiến thông thường để hỗ trợ các lực lượng cơ động bằng cả hỏa lực trực tiếp và gián tiếp.
D-30 bắt đầu phục vụ trong biên chế Liên Xô từ năm 1963 và đôi khi được gọi là M1963. Năm 1967, việc đưa vào sử dụng rộng rãi pháo tự hành được phê duyệt, nòng pháo và đạn dược của D-30 đã được sử dụng cho mẫu 2S1 mới. Khi 2S1 đi vào hoạt động, nó thường được biên chế cho các trung đoàn tăng và trung đoàn bộ binh cơ giới trang bị xe chiến đấu bộ binh BMP. Trong khi đó, lựu pháo D-30 được giữ lại trong các trung đoàn bộ binh cơ giới trang bị xe bọc thép chở quân BTR.
D-30 đã được xuất khẩu rộng rãi và sử dụng trong các cuộc chiến trên khắp thế giới, đáng chú ý là ở Trung Đông và đặc biệt là trong Chiến tranh Iran–Iraq.
Khẩu pháo này vẫn là trụ cột của các lực lượng pháo binh tại các nước đang phát triển và đã được triển khai trong Chiến tranh Afghanistan (2001–2021). Binh sĩ từ nhiều quân đội phương Tây đã được huấn luyện sử dụng D-30 bởi các quốc gia sử dụng khác để có thể huấn luyện lại cho binh sĩ Afghanistan.
Vào năm 2017, quân đội Algeria đã trưng bày một biến thể tự hành được phát triển tại địa phương, lắp đặt trên xe tải Mercedes-Benz Zetros. Nó bao gồm bốn chân chống thủy lực để ổn định và hấp thụ lực giật khi bắn.[11]

Mô tả


Các đặc điểm nhận dạng đặc trưng của D-30 bao gồm bệ pháo di động thấp và hệ thống giảm giật đặt phía trên nòng pháo. Giá pháo ba chân là thiết kế khá lạ đối với pháo dã chiến, với các chân chống được kẹp lại với nhau khi kéo đi và mở ra khi tác chiến. Một móc kéo lớn được cố định vào loa giảm lửa; khi vận chuyển, nòng pháo sẽ đóng vai trò là thanh kéo. Thiết kế bệ pháo tương tự cũng xuất hiện trên một số loại pháo vạn năng (cả dã chiến và phòng không) cỡ nòng 76 mm (3,0 in) trước chiến tranh (1931–1935) do Nhà máy Kirov ở Leningrad thiết kế (L-1, L-2 và L-3). Một ví dụ khác là khẩu 47SA39 APX của Pháp năm 1939, hay các thiết kế lựu pháo dã chiến hạng nhẹ 105 mm (4,1 in) năm 1943 của Đức do Skoda và Krupp thực hiện nhưng không được biên chế. Lựu pháo dã chiến nhẹ 105 mm L28 4140 của Bofors[12] cũng có bố cục bốn chân tương tự và đã được quân đội Thụy Điển sử dụng.
So với mẫu M-30, lựu pháo mới có nòng dài hơn đáng kể (35 lần cỡ nòng), gần đạt tiêu chuẩn pháo-lựu theo định nghĩa của Liên Xô. Giống như các loại pháo cùng thời, nó trang bị một loa che lửa hiệu suất cao; giúp tăng sơ tốc đầu nòng thêm 175 m/s (570 ft/s), đạt tối đa 650 m/s (2.100 ft/s) với đạn nổ mạnh (HE), và tăng tầm bắn tối đa thêm 3.500 m (2,2 mi) so với M-30. Tầm bắn tối đa đạt 15,4 km (9,6 mi), xa hơn 2.000 m so với pháo M1942 76 mm (3,0 in). Trọng lượng tăng thêm 650 kg (1.430 lb) so với M-30, lên mức 3.150 kg (6.940 lb). Sai số trung bình ở cự ly khoảng 10 km (6,2 mi) giảm từ 35 m (38 yd) của M-30 xuống chỉ còn 21 m (23 yd).
Chiều dài ổn định hiệu quả là yếu tố sống còn của bệ pháo, và các chân pháo cách nhau 120° cần phải dài hơn so với các loại có góc nhỏ hơn. Thiết kế của D-30 giảm thiểu vấn đề này bằng nhiều cách: các trục ngõng pháo được đặt sát mặt đất nhờ việc đặt hệ thống giảm giật và máng pháo phía trên nòng. Trục ngõng pháo cũng được đặt ở sau của khóa nòng để tối đa hóa không gian lùi của súng khi bắn ở góc cao. Ngoài ra, loa giảm lửa hiệu suất cao giúp hấp thụ khoảng một nửa lực giật. Xe không có cơ chế thay đổi chiều dài lùi của pháo khi tăng góc bắn.
Tuy nhiên, một số lựa chọn thiết kế cũng có nhược điểm. Loa giảm lửa tạo ra áp suất dư xung quanh pháo cao gấp đôi mức chấp nhận được của quân đội phương Tây, đó là lý do pháo thường được kích nổ bằng dây kéo dài để đảm bảo an toàn cho pháo thủ. Góc nâng tối đa bị giới hạn ở 18° (bản đầu) hoặc 22° (bản sau) khi khóa nòng nằm đè lên trên một chân pháo. Tầm bắn tối đa chỉ có thể đạt được trong cung trung tâm khoảng 48° giữa mỗi cặp chân pháo. Do vị trí trục ngõng pháo ở cực sau, khối nâng bị mất cân bằng, đòi hỏi một cơ chế cân bằng nén mạnh mẽ để có thể nâng hạ nòng bằng tay.
Một kích thủy lực trung tâm vận hành bằng tay được sử dụng để nâng bánh xe lên, cho phép hai chân pháo xoay 120° về phía sau. Bệ pháo sau đó được hạ xuống và đầu các chân pháo được đóng cọc xuống đất. Cơ chế này cho phép xoay pháo nhanh chóng để bắn về bất kỳ hướng nào. Cặp lốp xe lớn được treo trên một cánh tay đòn đơn; tốc độ kéo tối đa là 60 km/h (37 mph) trên đường nhựa.
Khóa nòng kiểu khối trượt được áp dụng thay cho kiểu ren vặn của M-30, giúp tăng tốc độ bắn. Đây là loại khóa nòng trượt thẳng đứng bán tự động; khối khóa nòng di chuyển xuống để mở và tự động hất vỏ đạn rỗng ra ngoài sau khi bắn. Hệ thống kính ngắm tiêu chuẩn của Liên Xô được thiết kế cho một người lấy phần tử bắn, bao gồm kính viễn vọng bắn trực tiếp chống tăng và kính ngắm toàn cảnh để bắn gián tiếp.
Lựu pháo 122 mm sử dụng đạn nạp rời (vỏ liều và đầu đạn riêng biệt). D-30 có thể bắn các loại đạn cũ của M-30, nhưng cũng có các loại đạn mới được giới thiệu, bao gồm cả đạn tăng tầm bằng tên lửa đạt tầm bắn 21,9 km (13,6 mi). Theo học thuyết Liên Xô, vai trò chống tăng rất quan trọng; pháo có loại đạn HEAT có khả năng xuyên thủng 460 mm (18 in) thép giáp.
Tốc độ bắn tối đa của D-30 là 6–8 phát/phút. Trong quân đội Phần Lan, D-30 được gọi là hehtaaripyssy (Súng Hecta), vì diện tích sát thương của các mảnh đạn khi nổ xấp xỉ một hecta.
Các biến thể
- 2A18 hoặc D-30 – Mẫu cơ sở, như đã mô tả.
- 2A18M hoặc D-30M – Trang bị loa giảm lửa hai vách ngăn mới, bệ đỡ trung tâm hình vuông và cụm móc kéo mới.
- 2A18M-1 hoặc D-30M-1 – Phiên bản trang bị hệ thống nạp đạn bán tự động. Đây là mẫu nguyên mẫu.
- D-30A – Hệ thống giảm giật được sửa đổi, loa giảm lửa mới.
- 2S1 Gvozdika – Phiên bản pháo tự hành.
- Type 85 hoặc D-30-2 – Phiên bản pháo tự hành bánh xích của Trung Quốc sử dụng súng D-30.
- D-30-3 – Phiên bản Trung Quốc nâng cấp pháo dã chiến Type 56 cỡ nòng 85 mm (3,3 in) bằng pháo cỡ nòng 122 mm (4,8 in).
- Type 86 (còn gọi là Type 83, Type 96) – Phiên bản Trung Quốc sản xuất theo giấy phép hoặc là biến thể phái sinh từ D-30.
- D30 RH M-94 – Phiên bản do Croatia chế tạo, trang bị loa giảm lửa mới, thiết kế lại càng pháo và cải tiến phanh thủy lực.
- D 30-M – Phiên bản Ai Cập sản xuất theo giấy phép của D-30.
- HM 40 hoặc D-30I – Phiên bản của Iran.[13] Được tin là bản sao chính xác, không có thay đổi về ngoại hình hay chức năng.[14]
- D-30J – Phiên bản của Nam Tư, có loa giảm lửa đơn giản hóa, kích thủy lực để giúp triển khai chiến đấu nhanh hơn, và tầm bắn tối đa được tăng từ 15.400 m (16.800 yd) lên 17.300 m (18.900 yd).[15]
- Saddam – Bản sao D-30J của Iraq do khu hợp hợp kỹ thuật Saad 5 sản xuất. Việc sản xuất đã bị ngừng lại sau Chiến tranh Vùng Vịnh.[16]
- D-30JA1 – Phiên bản cải tiến của Serbia – phát triển từ mẫu D-30J.
- Sora 122mm – Phiên bản tự hành của D-30J.
- M-91 "Mona" – Biến thể của Nam Tư sử dụng nòng pháo 100 mm (3,9 in) của khẩu MT-12. Chỉ là nguyên mẫu.
- Khalifa-1 – Phiên bản Sudan sản xuất theo giấy phép của D-30.
- Al Thahadi - Phiên bản D-30 do Iraq tự chế tạo.[17]
Các phiên bản tự hành
- 2S1 Gvozdika được phát triển trên cơ sở xe bọc thép bánh xích MT-LB, loại xe thường được lực lượng Liên Xô sử dụng để kéo pháo thay cho xe tải. Bằng cách kết hợp khẩu pháo D-30 với khung gầm của MT-LB, 2S1 Gvozdika đã ra đời. Đây là mẫu pháo tự hành có tháp pháo kín đầu tiên của Liên Xô, bắt đầu biên chế từ đầu thập niên 1970. 2S1 rất nhẹ, cơ động và có khả năng lội nước mà không cần chuẩn bị. Tính cơ động tốt và khả năng phản ứng nhanh của 2S1 giúp tăng cường sự linh hoạt cho hỏa lực của D-30, giảm thiểu lỗ hổng trong các trận chiến vận động.
- Sora 122mm: Phiên bản tự hành hiện đại nhất của biến thể D-30J với hệ thống nạp đạn tự động, hệ thống định vị quán tính (INS) và hệ thống điều khiển hỏa lực, được lắp đặt trên khung gầm FAP 2026 cải tiến do Viện Kỹ thuật Quân sự Belgrade thiết kế.
- SH-2: Phiên bản bánh lốp của Trung Quốc do tập đoàn Norinco phát triển. Xe có hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại và nòng lựu pháo được nâng hạ bằng động cơ điện.[18]
- PLZ-07: Phiên bản bánh xích 122 mm của Trung Quốc sử dụng pháo D-30. Xe có hệ thống bảo vệ NBC, kính nhìn đêm/ngày cho lái xe và hệ thống điều khiển hỏa lực.
- Semser: Do công ty Soltam của Israel phát triển theo hợp đồng với Bộ Quốc phòng Kazakhstan, được sản xuất bởi các công ty địa phương tại Kazakhstan. Xe tích hợp hệ thống chỉ huy và điều khiển tự động do Soltam và Elbit cung cấp, dựa trên khung gầm 8x8 của KamAZ-6350.[19]
Nhiều quốc gia khác cũng sản xuất các phiên bản tự hành của D-30 bằng cách lắp khẩu pháo này lên các phương tiện bánh xích hoặc bánh lốp sẵn có trong biên chế. Hầu hết các loại xe này không có hệ thống điều khiển hỏa lực phức tạp, việc nạp đạn và nâng hạ pháo đều thực hiện thủ công. Cuba, Sudan, Lào, Syria và Ai Cập đã sản xuất các biến thể đơn giản hóa như vậy. [20][21][22][23]

Sau năm 1973, lực lượng vũ trang Syria và Ai Cập đã trang bị các khẩu pháo D-30 lắp trên thân xe tăng T-34 đã lạc hậu, tương tự như các bản chuyển đổi khung gầm Sherman của Israel. Sự sửa đổi có phần thô sơ này giúp cải thiện tốc độ của pháo binh cấp sư đoàn, cho phép bám đuổi kịp tốc độ hành quân của các lực lượng cơ giới tiền tuyến. Nhược điểm chính là thiếu sự bảo vệ cho pháo thủ.
Đạn dược
Phần này không có nguồn tham khảo nào. (September 2025) |
D-30 sử dụng đạn nạp rời, với các liều phóng thay đổi được.
| Các loại đạn hiện có | |||||||
| Ký hiệu | Loại đạn | Ngòi nổ | Trọng lượng | Thuốc nổ/Thành phần | Sơ tốc (liều tối đa) | Khả năng xuyên giáp | Ghi chú |
| OF-462 | FRAG-HE (Nổ mạnh phân mảnh) | RGM-2, D-1, D1U V-90, AR-5 |
21,76 kg (48,0 lb) | 3,675 kg (8,10 lb) TNT | 690 m/s (2.300 ft/s) | n/a | |
| 3OF56 | FRAG-HE (Nổ mạnh phân mảnh) | RGM-2, D-1, D1U V-90, AR-5 |
21,76 kg (48,0 lb) | 4,05 kg (8,9 lb) A-IX-2 | 690 m/s (2.300 ft/s) | n/a | Bản cải tiến của đạn HE-FRAG. |
| SH-1 | Đạn mũi tên (Flechette) | RGM-2, D-1, D1U V-90, AR-5 |
? | ? | ? | n/a | ? |
| BK-6M | HEAT-FS (Chống tăng ổn định cánh đuôi) | GPV-2 | 17,47 kg (38,5 lb) | 1,6 kg (3,5 lb) A-X-1 | 740 m/s (2.400 ft/s) | 460 đến 580 mm (18 đến 23 in) | |
| BK-13 | HEAT-FS-T (Chống tăng vạch đường) | V-15 | 21,4 kg (47 lb) | 2,1 kg (4,6 lb) | ? | ? | |
| S-463 | Đạn chiếu sáng | T-7 | 22,4 kg (49 lb) | 1 kg (2,2 lb) liều chiếu sáng | 690 m/s (2.300 ft/s) | n/a | Thời gian chiếu sáng ≥ 25 s |
| D-462 | Đạn khói | KTM-2 | 22,3 kg (49 lb) | 3,6 kg (7,9 lb) WP (Phốt pho trắng) | 690 m/s (2.300 ft/s) | n/a | |
| 3OF69M | Dẫn đường bằng laser | ? | 28 kg (62 lb) | 5,3 kg (12 lb) HE-FRAG | ? | ? | |
| ? | Đạn chùm (ICM) | Ms-1 | 22,5 kg (50 lb) | 18 đạn con M-42 hoặc 15 đạn con M-42D |
683 m/s (2.240 ft/s) | M42 – 70 mm (2,8 in) M42D – 110 mm (4,3 in) |
Do Ai Cập sản xuất |
| M335 (CL 3153) | Đạn chùm (ICM) | ? | 22,5 kg (50 lb) | 24 đạn con M85 | 698 m/s (2.290 ft/s) | 105 mm (4,1 in) | Đạn của Israel |
| TF ER BB ХМ09 | FRAG-HE (Tăng tầm đáy) | ? | n/a | Tầm bắn 21.500 m (13,4 mi) | |||
| TF ER BT ХМ08 | FRAG-HE (Tăng tầm) | n/a | Tầm bắn 18.500 m (11,5 mi) do Sloboda Čačak sản xuất | ||||
Các quốc gia sử dụng


Quốc gia vận hành hiện tại

Afghanistan: 41 khẩu tính đến ngày 19 tháng 10 năm 2025[24]
Algeria: 160[25]
Angola: 500[26]
Armenia: 69[27]
Azerbaijan: 129[28]
Bangladesh: 54 khẩu thuộc biến thể PL-96[29]
Belarus: 48[30]
Bosnia-Herzegovina: 100[31]
Burundi: 18[32]
Cambodia[33]
China: 500 khẩu thuộc biến thể Type 96[34][35]
Republic of the Congo: 10[36]
Democratic Republic of the Congo[37]
Croatia: 54[38]Cuba:[39] 100 khẩu lắp trên xe T-34, 55 khẩu trên khung gầm T-55 và 25 khẩu trên xe tải KrAZ-255 6×6.
Egypt: 190 khẩu D-30M[40]
Djibouti: 9[41]
Eritrea[42]
Estonia: 42 khẩu H63, bàn giao năm 2009. Tất cả hoặc hầu hết đã được chuyển giao cho Ukraine kể từ năm 2022.[43]
Ethiopia:[44] 309 khẩu bàn giao trong giai đoạn 1998–2000.[43]
Finland: 471 khẩu H63[46]
Ghana: 6[47]
Georgia: 58[48]
Guinea-Bissau: 18[49]
India: 520[50]
Iran: 540[51]
Iraq[52]
Kazakhstan: 100[54]
Kyrgyzstan: 72[55]
Laos[56]
Lebanon: 42[57]
Libya[58]
Madagascar: 12[59]
Mauritania: 20[60]
Mongolia[61]
Montenegro: 12[62]Mozambique: 12[63]
Myanmar: 560[64]
Nicaragua: 12[65]
Nigeria[66]
Niger: 20[65]
North Korea[67]
Oman: 30[68]Pakistan: 189[69]
Peru[70]
Nga: 4.570[71]
Rwanda: 6[72]
Cộng hòa Ả Rập Sahrawi Dân chủ: 12[73]
Serbia: 78[74]
Slovakia: Vẫn đang sử dụng nhưng chỉ dành cho các cuộc duyệt binh[74]
Nam Sudan: 5 khẩu nhận từ Ukraine năm 2013.[43] Quân đội Giải phóng Nhân dân Sudan thu giữ một số khác từ Sudan trong Nội chiến Sudan lần thứ hai.
Sudan: 21[75]
Syria[76]
Tajikistan: 10[77]
Tanzania: 20[78]
Turkmenistan: 350[79]Ukraine: 129[80]
Uzbekistan: 60[81]
Việt Nam[82]
Zambia: 25[83]
Zimbabwe: 4[84]
Somaliland: 31[85]
Quốc gia từng vận hành
Artsakh − Bị Azerbaijan thu giữ sau Chiến dịch Nagorno-Karabakh năm 2023
Boko Haram[86]
Tiệp Khắc
Đông Đức: Chuyển giao cho Nước Đức thống nhất.
Đức
Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant[86]
Israel: 5 khẩu tính đến năm 2016[87]
Moldova – 18 khẩu từ Romania, bàn giao năm 1992.[43]
Ba Lan – Không còn hoạt động.
Somalia: 12[85]
Liên Xô – Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa.
Yemen: 130 khẩu tính đến năm 2015[88]
Nam Tư – Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Francesco Palmas (2012). "Il contenzioso del sahara occidentale fra passato e presente" (PDF). Informazioni della Difesa (bằng tiếng Ý). Số 4. tr. 50–59. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- ^ Cooper, Tom; Fontanellaz, Adrien (tháng 10 năm 2016). "La guerre du Kagera". Batailles et Blindés (bằng tiếng Pháp). Số 75. Caraktère. tr. 72–81. ISSN 1765-0828.
- ^ Zaloga, Steven; Luczak, Wojciech; Beldam, Barry (1992). Armor of the Afghanistan War. Armor 2009. Concord Publications. tr. 7. ISBN 978-9623619097.
- ^ Cooper, Tom (2013). Great Lakes Conflagration: Second Congo War, 1998 2003. UK: Helion & Company Limited. tr. 49. ISBN 978-1-920143-84-8.
- ^ "[Syria] Highway M-20 – Deir ez-Zor. Hunting for "snakes" – Шоссе M-20 – Дейр ез-Зор. Охота на "змей"". YouTube. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Ukrainian Military Deploys Turkish-made Bayraktar Drone in Donbas". Defense World Net. ngày 26 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
- ^ شبكة المجد (ngày 8 tháng 9 năm 2014). "#السلسلة_الوثائقية_الحوثيون–- الجزء الأول". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018 – qua YouTube.
- ^ "YouTube". www.youtube.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
- ^ a b c Foss, Christopher (1977). Jane's Pocket Book of Towed Artillery. New York: Collier. tr. 93. ISBN 0020806000. OCLC 911907988.
- ^ Administrator. "D-30". www.armyrecognition.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- ^ Binnie, Jeremy (ngày 4 tháng 7 năm 2017). "Algeria displays locally developed self-propelled artillery". IHS Jane's 360. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Универсальное гусеничное шасси для создания образцов ВВТ" [Universal tracked chassis for the creation of weapons and military equipment models] (PDF). Bastion-karpenko.narod.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ^ "New Sudanese arms" (PDF). Conflictarm.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ^ Lyamin, Yuri (ngày 25 tháng 6 năm 2012). "Суданский БТР-60PB" [Sudanese BTR-60PB]. Imp-navigator.livejournal.com (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ^ Foss 1994, tr. 599,655.
- ^ Foss 1994, tr. 619.
- ^ "Defence Industries Commission conducts its first version of Iraqi D-30 artillery Cannon". dici.gov.iq. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2024.
- ^ "SH2 wheeled self-propelled howitzer 122mm technical data sheet specifications description pictures". Armyrecognition.com. ngày 28 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017.
- ^ ARG. "Semser - 122-mm self-propelled howitzer". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
- ^ Hoàng Lê (ngày 27 tháng 11 năm 2013). "Xem quân đội Cuba tập trận Bastion 2013". Kienthuc.net.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017.
- ^ "Khalifa GHY02 D-30 122mm 6x6 wheeled self-propelled howitzer technical data sheet specifications". Armyrecognition.com. ngày 15 tháng 3 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017.
- ^ "Laos Unveils Ural-mounted D-30 122mm Wheeled Howitzer". armyrecognition.com. ngày 27 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019.
- ^ "New wheeled artillery systems for Egyptian army based on Russian Ural-4320 6x6 truck chassis". armyrecognition.com. ngày 8 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2016.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 250.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 340.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 429.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 183.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 185.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 254.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 188.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 90.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 433.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 258.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 261, 265.
- ^ "Appraisal of PLA Artillery Modernisation". Centre for Land Warfare Study. ngày 7 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 438.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 441.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 93.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 416.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 345.
- ^ International Institute for Strategic Studies (2021). The Military Balance. tr. 462. ISBN 9781032012278.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 444.
- ^ a b c d "Trade Registers". armstrade.sipri.org. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 445.
- ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "The Tigray Defence Forces - Documenting Its Heavy Weaponry". Oryx Blog.
- ^ Finnish Defence Forces. "Republic of Finland's 2021 AEMI (Annual Exchange of Military Information) report" (PDF). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 448.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 189.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 450.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 271.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 349.
- ^ Iraqi army equipment 1930-2017. Quyển 2. tr. 119.
- ^ The Military Balance 2016, tr. 491.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 191.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 192.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 291.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 362.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 364.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 454.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 365.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 295.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 128.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 458.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 296.
- ^ a b The Military Balance 2020, tr. 430.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 461.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 285.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 369.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 300.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 434–435.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 196, 202, 208.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 463.
- ^ "Morocco" (PDF). Tel-Aviv: Institute For National Security Studies. ngày 1 tháng 3 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016.
- ^ a b The Military Balance 2020, tr. 141.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 471.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 377.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 209.
- ^ The Military Balance 2073, tr. 473.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 210.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 212–214.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 216.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 318.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 476.
- ^ The Military Balance 2020, tr. 478.
- ^ a b The Military Balance 2015, tr. 468.
- ^ a b The Military Balance 2016, tr. 492.
- ^ The Military Balance 2016, tr. 334.
- ^ The Military Balance 2015, tr. 358.
- Nguồn tham khảo
- Bellamy, Chris (1986). Red God of War: Soviet Artillery and Rocket Forces (bằng tiếng Anh). Brassey's Defence Publishers. ISBN 0-08-031200-4.
- Foss, Christopher F, biên tập (1994). Jane's Armour and Artillery 1994−1995 (ấn bản thứ 15). Surrey: Jane's Information Group. ISBN 0-7106-1154-4.
- International Institute for Strategic Studies (2015). The Military Balance. Quyển 115. Routledge. ISBN 978-1-85743-766-9.
- International Institute for Strategic Studies (tháng 2 năm 2016). The Military Balance 2016. Quyển 116. Routledge. ISBN 9781857438352.
- International Institute for Strategic Studies (2020). The Military Balance. Quyển 120. Routledge. ISBN 978-0-367-46639-8.