ATACMS
Bài viết này hiện đang được cho là bài chất lượng kém vì lý do: dịch máy kém chất lượng |
| MGM-140 Army Tactical Missile System (ATACMS) | |
|---|---|
| Tập tin:M57A1 Army Tactical Missile System missile.jpg ATACMS được phóng từ bệ phóng HIMARS | |
| Loại | Pháo binh tên lửa Tên lửa đạn đạo chiến thuật |
| Nơi chế tạo | Hoa Kỳ |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1991–nay[1] |
| Sử dụng bởi |
|
| Trận | |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Ling-Temco-Vought |
| Năm thiết kế | 1986 |
| Nhà sản xuất | Lockheed Martin |
| Giá thành | M39: 820.000 USD (năm tài chính 1998)[2] (tương đương khoảng 1.476.000 USD theo giá năm tài chính 2022) M57: khoảng 1.700.000 USD (năm tài chính 2021)[3] |
| Số lượng chế tạo | 3.700 quả[4][5] |
| Thông số ([7][8]) | |
| Khối lượng | 3.690 pound (1.670 kg) |
| Chiều dài | 13 foot (4,0 m) |
| Đường kính | 24 inch (610 mm) |
| Tầm bắn xa nhất | 190 mi (300 km) |
| Đầu nổ | Block 1: 950 bom con M74 Block 1A: 300 bom con M74; hoặc đầu đạn nổ mạnh – mảnh WDU-18/B nặng 213 kg; hoặc đầu đạn nổ mạnh xuyên phá WDU-40/B nặng 247 kg Block 2: 13 đạn con chống tăng BAT |
| Sải cánh | 55 inch (1,4 m) |
| Trần bay | 160.000 ft (50 km)[6] |
| Tốc độ | Siêu thanh, vượt quá Mach 3 (trên 1,0 km/s)[6] |
| Hệ thống chỉ đạo | Hệ thống dẫn đường quán tính kết hợp với GPS |
| Nền phóng | M270, HIMARS, GMARS |
MGM-140 Army Tactical Missile System (ATACMS /əˈtækəmz/) là tên lửa đạn đạo chiến thuật tầm ngắn siêu thanh, do công ty quốc phòng Hoa Kỳ Ling-Temco-Vought (LTV) thiết kế và chế tạo; sau này, thông qua các thương vụ mua lại, việc sản xuất được chuyển sang Lockheed Martin. Tên lửa sử dụng động cơ nhiên liệu rắn, có chiều dài 4,0 m và đường kính 610 mm; các biến thể có tầm bắn xa nhất đạt tới 300 km.[9] Tên lửa có thể được phóng từ hệ thống pháo phản lực phóng loạt M270 sử dụng khung gầm bánh xích và hệ thống pháo phản lực cơ động cao M142 HIMARS sử dụng khung gầm bánh lốp.
Lịch sử
Giai đoạn tiền phát triển
Khái niệm về một tên lửa đạn đạo chiến thuật mang đầu đạn thông thường trở nên khả thi nhờ sự thay đổi học thuyết quân sự vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Lạnh, khi quan điểm cho rằng phải tiến hành một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu nhằm vào lực lượng của Khối Hiệp ước Warszawa nếu Chiến tranh Lạnh chuyển thành xung đột nóng không còn được coi là tất yếu.[10] Các học thuyết AirLand Battle và Follow-on Forces Attack, xuất hiện vào cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, đòi hỏi một loại tên lửa mang đầu đạn thông thường (vì vậy phải có độ chính xác cao hơn nhiều) để tấn công các điểm tập trung lực lượng dự bị của đối phương phía sau tiền tuyến. Do đó, Bộ Tư lệnh Không quân và Tên lửa Lục quân Hoa Kỳ đã tài trợ cho chương trình Simplified Inertial Guidance Demonstrator (SIG-D).[10]
Trong chương trình này, Ling-Temco-Vought đã phát triển một phiên bản sử dụng nhiên liệu rắn của tên lửa MGM-52 Lance, mang định danh T-22,[11] được trang bị hệ thống dẫn đường quán tính mới dựa trên con quay laser vòng (Ring Laser Gyroscope – RLG), đạt độ chính xác chưa từng có vào thời điểm đó.[10] Năm 1978, DARPA khởi động chương trình trình diễn công nghệ Assault Breaker, nhằm tiêu diệt các đội hình thiết giáp gồm nhiều mục tiêu cứng có khả năng cơ động ở ngoài tầm bắn trực tiếp. Chương trình sử dụng tên lửa T-22 cùng với tên lửa T-16 do Martin Marietta phát triển trên cơ sở tên lửa Patriot, cả hai đều mang đầu đạn chùm.
Năm 1978, DARPA khởi động chương trình trình diễn công nghệ Assault Breaker, mục đích tiêu diệt các đội hình thiết giáp gồm nhiều mục tiêu cứng có khả năng cơ động ở ngoài tầm tiếp xúc trực tiếp. Chương trình sử dụng tên lửa T-22 cùng với tên lửa T-16 do Martin Marietta phát triển trên cơ sở tên lửa Patriot, cả hai đều mang đầu đạn chùm.[12][13]
Phát triển
Việc phát triển tên lửa ATACMS bắt đầu vào năm 1980, khi Lục quân Hoa Kỳ quyết định thay thế tên lửa MGM-52 Lance bằng một loại tên lửa nhiên liệu rắn tương tự, có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, hóa học hoặc sinh học, mang tên Corps Support Weapon System (CSWS). Do lo ngại hai quân chủng Lục quân và Không quân đang phát triển quá nhiều loại tên lửa tương tự nhau nhưng sử dụng các loại đầu đạn khác nhau, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã sáp nhập chương trình này với chương trình Assault Breaker của DARPA vào năm 1981 và với chương trình Conventional Standoff Weapon (CSW) của Không quân Hoa Kỳ vào giai đoạn 1982–1983.[12]
Hệ thống tên lửa mới được đặt tên là Joint Tactical Missile System (JTACMS). Tuy nhiên, Không quân Hoa Kỳ nhanh chóng phản đối ý tưởng phát triển một loại tên lửa đạn đạo phóng từ trên không. Vì vậy, năm 1984, Không quân rút khỏi phần chương trình, khiến dự án được đổi tên thành Army Tactical Missile System (ATACMS).[12]
Chi tiết
Trong năm tài chính 1982, Hạ viện Hoa Kỳ đã phê chuẩn chương trình Corps Support Weapon System (CSWS), vốn là chương trình kế nhiệm dự án Assault Breaker của Lục quân Hoa Kỳ được thực hiện với sự hợp tác của DARPA. Sau đó, chương trình này được hợp nhất với chương trình Conventional Standoff Weapon (CSW) của Không quân Hoa Kỳ và đổi tên thành Joint Tactical Missile System (JTACMS). Mục tiêu của JTACMS là chế tạo một loại vũ khí đáp ứng đồng thời yêu cầu của cả hai chương trình, tức có khả năng tấn công và tiêu diệt lực lượng tuyến sau của đối phương, đặc biệt là các đơn vị thiết giáp, đồng thời rải đạn con để tiêu diệt các mục tiêu đó. Trong khuôn khổ dự án này, các công nghệ của chương trình Assault Breaker được dự kiến sử dụng để phát triển một hệ thống vũ khí đất đối đất phục vụ nhiệm vụ gọi là "đánh chặn chiều sâu" (deep interdiction). Đây là một hình thức tác chiến mang tính ngăn chặn từ xa, tương tự khái niệm không kích đánh chặn (air interdiction) của không quân, nhằm phá hủy hoặc gây thiệt hại đáng kể cho các mục tiêu nằm sâu phía sau tiền tuyến như công trình, cầu, nhà máy lọc dầu và các cơ sở công nghiệp khác thông qua hoạt động phối hợp giữa lực lượng không quân và lục quân. Mục đích là làm chậm hệ thống hậu cần, cản trở việc tiếp tế hoặc yểm trợ cho quân đối phương, từ đó tạo ưu thế chiến thuật, dù chỉ trong thời gian ngắn, cho lực lượng đồng minh và tác động tích cực đến cục diện chiến trường.[14][15][16][17][18] Mặc dù cả Lục quân và Không quân đều tham gia phát triển loại vũ khí này, Lục quân Hoa Kỳ vẫn là cơ quan chủ trì chương trình JTACMS.[19][20]
Trong năm tài chính 1984, Quốc hội Hoa Kỳ cấm phát triển đầu đạn hạt nhân cho JTACMS, mặc dù Lục quân cho rằng điều này có thể khiến lực lượng Hoa Kỳ rơi vào thế bất lợi nếu sau này cần chuyển hệ thống sang khả năng mang đầu đạn hạt nhân. Sang năm tài chính 1985, Lục quân xác nhận không bố trí kinh phí nghiên cứu và phát triển cho đầu đạn hạt nhân của JTACMS.[21]
Ngày 22 tháng 5 năm 1984, Lục quân và Không quân Hoa Kỳ ký một thỏa thuận gồm 31 sáng kiến. Nội dung số 18 quy định rằng mỗi quân chủng sẽ phát triển phiên bản tên lửa riêng phù hợp với nhu cầu của mình: Lục quân ưu tiên một hệ thống phóng từ mặt đất có tầm bắn ngắn hơn, còn Không quân quan tâm đến một hệ thống phóng từ trên không.[22]
JTACMS ban đầu được dự định là một chương trình đồng tài trợ với các đồng minh NATO. Vương quốc Anh, Cộng hòa Liên bang Đức, Bỉ, Hà Lan và Ý đều được mời tham gia. Trong số này, Anh và Tây Đức bày tỏ quan tâm, trong khi các nước còn lại từ chối vì thiếu kinh phí.[22]
Sản xuất
Tháng 3 năm 1986, Ling-Temco-Vought giành được hợp đồng thiết kế tên lửa. Hệ thống được cấp định danh MGM-140. Hai năm sau, vụ phóng thử đầu tiên được tiến hành thành công nhờ kinh nghiệm mà công ty tích lũy từ các chương trình trước đó.
Năm 2007, Lục quân Hoa Kỳ chấm dứt chương trình ATACMS do chi phí quá cao, đồng nghĩa với việc không còn khả năng bổ sung kho dự trữ bằng các tên lửa sản xuất mới. Để duy trì số lượng tên lửa còn lại, chương trình Gia hạn tuổi thọ ATACMS (Service Life Extension Program – SLEP) được triển khai. Chương trình này đại tu hoặc thay thế hệ thống động cơ và dẫn đường, thay đầu đạn chùm bằng đầu đạn nổ mạnh – mảnh nguyên khối, đồng thời bổ sung tùy chọn ngòi nổ cận đích để tăng hiệu quả đối với mục tiêu khu vực. Việc bàn giao các tên lửa nâng cấp dự kiến bắt đầu từ năm 2018. SLEP đóng vai trò là giải pháp chuyển tiếp trong thời gian phát triển hệ thống kế nhiệm ATACMS, dự kiến sẵn sàng vào khoảng năm 2022.[Cần cập nhật][23]
Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng Quốc gia cho năm tài chính 2023 cho phép sản xuất và mua sắm thêm tối đa 1.700 tên lửa ATACMS, nhưng khoản kinh phí này không được phân bổ trong Đạo luật Chuẩn chi Quốc phòng năm 2023.[24][25][Cần cập nhật]
Nâng cấp kho dự trữ
Tháng 1 năm 2015, Lockheed Martin nhận được hợp đồng phát triển và thử nghiệm phần cứng mới cho các tên lửa ATACMS Block I, nhằm loại bỏ nguy cơ còn sót bom chưa nổ từ đầu đạn chùm trước năm 2016.[4][5] Tên lửa Tactical Missile System (TACMS) hiện đại hóa đầu tiên được bàn giao vào tháng 9 năm 2016, với hệ thống điện tử dẫn đường được nâng cấp và khả năng tấn công mục tiêu khu vực bằng đầu đạn nguyên khối, đồng thời không để lại bom con chưa nổ trên chiến trường.[26][27] Tháng 8 năm 2017, Lockheed Martin tiếp tục nhận hợp đồng sản xuất các cụm phóng trong khuôn khổ chương trình SLEP.[28] Năm 2021, công ty được ký hợp đồng nâng cấp các tên lửa M39 hiện có lên tiêu chuẩn M57, sử dụng đầu đạn WDU-18/B vốn được phát triển cho tên lửa chống hạm Harpoon; kế hoạch hoàn thành vào năm 2024.[29]
Một kế hoạch được công bố vào tháng 10 năm 2016 nhằm bổ sung đầu tự dẫn sẵn có để ATACMS có thể tấn công các mục tiêu cơ động trên bộ và trên biển,[30] nhưng đã bị hủy bỏ vào tháng 12 năm 2020 để ưu tiên các chương trình tên lửa khác.[31]
Thay thế
Từ năm 2016, chương trình Long-Range Precision Fires (LRPF) được khởi động, sau này được đổi tên thành Precision Strike Missile (PrSM), với mục tiêu thay thế ATACMS bằng phiên bản PrSM Increment 1.[32][33][34][35] Việc bàn giao các tên lửa PrSM Increment 1 bắt đầu vào cuối năm 2023.[36]
Các phiên bản
| M39 Block I | M39A1 Block I | M48 QRU | M57 Block IA Unitary | |
|---|---|---|---|---|
| Khối lượng | 3.675 lb (1.667 kg) | 2.906 lb (1.318 kg) | chưa rõ | chưa rõ |
| Chiều dài | 13 ft 0,5 in (3,975 m) | |||
| Đường kính | 24 in (610 mm) | |||
| Dẫn đường | INS | INS kết hợp GPS | ||
| Đầu đạn | 950 đạn con M74[note 1] | 300 đạn con M74 | WAU-23/B | |
| Đầu đạn trọng lượng |
1.303 lb (591 kg) | 384 lb (174 kg) | 472 lb (214 kg) | |
| Ngòi nổ | Đạn con M74 APAM, mỗi quả kích hoạt bởi ngòi nổ M219A1E1 | ngòi nổ va chạm FMU 141/B | ngòi nổ 3 chế độ (va chạm, cận đích, nổ chậm) | |
| Động cơ | Động cơ tên lửa nhiên liệu rắn | |||
| Tốc độ tối đa | Mach 3 | chưa rõ | chưa rõ | chưa rõ |
| Tầm bắn tối thiểu | 16 mi (25 km) | 43 mi (70 km) | ||
| Tầm bắn tối đa | 103 mi (165 km) | 190 mi (300 km) | 170 mi (270 km) | 190 mi (300 km) |
- M39 (Block I) – Tên lửa sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính (INS). Mang 950 đạn con M74 APAM[40] (chống bộ binh và chống trang bị), mỗi đạn có kích thước xấp xỉ một quả bóng chày[41] và nặng 590 g.[2] Các đạn con được phân tán trên một khu vực hình tròn có đường kính khoảng 206 m, rất hiệu quả để tiêu diệt máy bay đang đỗ; kho đạn; trận địa phòng không; các khu vực tập trung quân. Tuy nhiên, loại đầu đạn này không hiệu quả đối với xe bọc thép.[42] Diện tích sát thương có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi độ cao mở đầu đạn để phát tán đạn con.[43] Tầm bắn: 25–165 km.[44] Tỷ lệ đạn con M74 không phát nổ được báo cáo là khoảng 2%.[45][46]
- M39A1 (Block IA) – sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính kết hợp GPS. Mỗi quả mang được 300 đạn con M74. Đã có 610 quả tên lửa phiên bản này được sản xuất trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2003. Đã có 74 quả được Mỹ sử dụng trong Chiến dịch Tự Do Iraq.[33][47] Các tên lửa còn lại hiện đang được Mỹ nâng cấp lên tiêu chuẩn M57E1.[48][49] Tầm bắn của tên lửa: 12–190 dặm (20–300 km).[50][51][46]
- M39A2 (Block II) – sử dụng để triển khai đạn con chống tăng BAT (Brilliant Anti-armour Technology). Dùng cùng hệ thống dẫn đường INS/GPS như M39A1. Tên lửa mang 13 đạn con BAT trong khoang đầu đạn được mở rộng.[52][3][46]
- M48 (Block I/Block 1 Unitary) là phiên bản ATACMS Block IA sử dụng đầu đạn nguyên khối Quick Reaction Unitary.[53] Nó có khả năng mang đầu đạn nổ mạnh xuyên phá khối lượng 500 pound (230 kg) WDU-18/B vốn được sử dụng trên tên lửa chống hạm Harpoon, lắp trong khoang đầu đạn WAU-23/B. Từ năm 2001 đến 2004 đã sản xuất 176 quả tên lửa phiên bản này, trước khi dây chuyền được chuyển sang sản xuất đạn M57. Tên lửa được đưa vào trang bị từ năm 2002.[54] Mỹ đã sử dụng 16 quả M48 trong Chiến tranh Iraq và thêm 42 quả nữa được sử dụng trong Chiến dịch Tự do Bền vững.[33][47] Các tên lửa phiên bản này vẫn đang phục vụ trong Lục quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tầm bắn: 70–300 km.[46]
- M57 (Block IA/Block 1A Quick Reaction Unitary, TACMS 2000 hay T2K) – Về cơ bản, đây là cùng một loại tên lửa như M48, nhưng được sản xuất với chi phí thấp hơn, giảm tới 100.000 USD mỗi quả nhờ chương trình TACMS 2000.[55] Tên lửa được phát triển từ M39A1 với hệ thống dẫn đường INS/GPS, mang cùng loại đầu đạn WAU-23/B như M48. Tên lửa được sản xuất với số lượng 513 quả trong giai đoạn từ 2004 đến 2013.[33][47] Độ chính xác CEP đạt khoảng 9 m. Tầm bắn: 43 đến 190 mi (70 đến 300 km).[56]
- M57E1 (ATACMS MOD hay MOD [modification, modified]) – Là phiên bản nâng cấp từ M39 và M39A1 bao gồm động cơ được nạp lại thuốc phóng, phần cứng và phần mềm dẫn đường mới, thay đầu đạn chùm M74 bằng đầu đạn WAU-23/B và bổ sung ngòi nổ cận đích cho phép đạn tên lửa nổ trên không.[48] Việc sản xuất phiên bản này bắt đầu từ năm 2017 với đơn đặt hàng đầu tên gồm 220 quả tên lửa.[33][47]
- NATACMS – một biến thể ATACMS phóng từ tàu chiến dành cho Hải quân Hoa Kỳ, được phát triển trong thập niên 1990 và đã được thử nghiệm hai lần vào đầu năm 1995. Lần đầu tiên được phóng từ mặt đất tại Bãi thử Tên lửa White Sands, lần thứ hai được phóng từ sàn đáp trực thăng của tàu USS Mount Vernon (LSD-39) bằng một xe mang phóng bánh xích M270 cải tiến của Lục quân, nhằm vào mục tiêu trên đảo San Clemente ngoài khơi Nam California, cách khoảng 75 hải lý (139 km). Tên lửa sử dụng trong lần thử nghiệm cuối cùng mang 730 đạn con Mk 74 (nhiều khả năng là đạn con M74). Mặc dù tất cả các mục tiêu thử nghiệm đều đạt được, thậm chí vượt yêu cầu, chương trình sau đó vẫn bị hủy bỏ vì những lý do không được công bố.[57][58][59]
- SLATACMS – một biến thể ATACMS phóng từ biển (Sea-Launched ATACMS) được đề xuất, phát triển từ tên lửa Block IA của Lục quân để sử dụng trong các hoạt động dưới nước. Biến thể này có độ sâu phóng tối đa 175 ft (53 m), sử dụng đầu đạn giống hệt phiên bản trên bộ,[60] giữ nguyên đường kính thân tên lửa, chỉ thay đổi chiều dài từ 156,5 đến 199 inch (3,98–5,05 m) nhằm cho phép các cánh lái gập lại trong một không gian nhỏ hơn, đồng thời bổ sung một cụm cánh ổn định. Cụm cánh này phải được tách bỏ sau khi tên lửa trồi lên khỏi mặt nước (broach) và trước khi động cơ chính khởi động; nó được lắp phía sau phần đuôi tên lửa để bảo đảm ổn định trong quá trình di chuyển dưới nước. Thiết kế này chủ yếu nhằm tương thích với các ống phóng thẳng đứng (VLS) trên các tàu ngầm lớp Los Angeles phiên bản cải tiến nhất (688i, FLT III/Flight III), mỗi tàu được trang bị 12 ống phóng như vậy. Lịch sử của chương trình bắt đầu khi Văn phòng Chương trình Hệ thống Chiến lược của Hải quân Hoa Kỳ (USN Strategic Systems Program Office) cho phép tiến hành một nghiên cứu vào tháng 6 năm 1995[60] nhằm đánh giá khả năng phóng nguội dưới nước của tên lửa MGM-140A từ tàu ngầm. Tuy nhiên, tại phiên điều trần về Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng cho năm tài chính 1997, tổ chức vào tháng 3 năm 1996, người ta tiết lộ rằng Hải quân Hoa Kỳ dự định sử dụng không chỉ đầu đạn APAM mà còn cả đầu đạn BAT (Brilliant Anti-Tank).[40] Khi Lockheed Martin công bố thông cáo báo chí về chương trình SLATACMS vào tháng 8 năm 1996, phiên bản Block IA đã được xác định là mẫu cơ sở cho biến thể SLATACMS. Việc lựa chọn ống phóng thẳng đứng của tàu ngầm — vốn được thiết kế mặc định cho tên lửa Tomahawk, có chiều dài lớn hơn SLATACMS khoảng 1,5 lần — đã dẫn đến việc phát triển một tổ hợp đặc biệt gồm tên lửa và ống phóng tích hợp hoàn chỉnh gọi là SLATACMS AUR. Trong cấu hình này, tên lửa SLATACMS được đặt bên trong một ống phóng AUR có kích thước phù hợp để sử dụng với các ống phóng Tomahawk trên tàu ngầm.[61]
Các nước sử dụng
Úc: Tháng 5 năm 2022, Cơ quan Hợp tác An ninh Quốc phòng Hoa Kỳ (DSCA) đã phê duyệt thương vụ bán cho Úc 20 bệ phóng M142 HIMARS dành cho Lục quân Úc, cùng 10 tên lửa M57 ATACMS mang đầu đạn nổ đơn khối và các loại đạn dược MLRS khác, trong hợp đồng trị giá 385 triệu USD.[62] Tháng 8 năm 2023, DSCA tiếp tục phê duyệt việc bán thêm 22 bệ phóng M142 HIMARS cùng các trang bị liên quan với tổng giá trị ước tính 975 triệu USD.[63] Ngày 19 tháng 8 năm 2023, Chính phủ Úc thông báo sẽ mua thêm M142 HIMARS, nâng tổng số lên 42 bệ phóng, đồng thời đặt mua các loại đạn dược đi kèm.[64]
Bahrain: Lục quân Hoàng gia Bahrain đã mua 30 tên lửa ATACMS dòng M39 vào năm 2000 và 110 tên lửa M57 ATACMS vào năm 2018.[65][66]
Estonia: Yêu cầu mua tối đa 18 tên lửa M57 ATACMS được phê duyệt vào tháng 7 năm 2022.[67] Toàn bộ số tên lửa đã được bàn giao trước năm 2025.[68]
Hy Lạp: Lục quân Hy Lạp đang biên chế phiên bản ATACMS có tầm bắn 165 km.[69][70]
Hàn Quốc:Năm 2002, Lục quân Hàn Quốc đã mua 111 tên lửa ATACMS Block I và 111 tên lửa ATACMS Block IA để trang bị cho hệ thống M270 MLRS.[71][72]
România: Lục quân Romania đã mua 54 tên lửa M57 ATACMS; toàn bộ đã được bàn giao trước tháng 6 năm 2022.[73][74][75]
Ba Lan: Lục quân Ba Lan đã mua 30 tên lửa M57 ATACMS; toàn bộ đã được bàn giao trước tháng 6 năm 2022.[76] Tháng 2 năm 2023, Ba Lan tiếp tục đặt mua thêm 45 tên lửa M57 ATACMS.[77]
Thổ Nhĩ Kỳ: Lục quân Thổ Nhĩ Kỳ[78] sử dụng biến thể ATACMS Block IA.[79][80]
Qatar: Lục quân Qatar đã mua 60 tên lửa M57 ATACMS vào năm 2012.[81]
UAE: Lục quân Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã mua 100 tên lửa M57 ATACMS vào năm 2014.[82]
Hoa Kỳ: Cả Lục quân Hoa Kỳ và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đều đang vận hành ATACMS.
Ukraina: Lực lượng Vũ trang Ukraina sử dụng tên lửa ATACMS M39 Block I;[83] loại tên lửa này lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu vào ngày 17 tháng 10 năm 2023.[84] Các biến thể ATACMS có tầm bắn xa hơn, mang đầu đạn chùm và đầu đạn nổ đơn khối, cũng được cho là đã được chuyển giao và đưa vào sử dụng từ tháng 3 năm 2024.[85] Theo các quan chức Ukraina, ngày 18 tháng 11 năm 2024, nước này đã lần đầu tiên sử dụng các tên lửa ATACMS tầm xa do Hoa Kỳ cung cấp để tấn công các mục tiêu bên trong lãnh thổ Nga, đánh dấu lần đầu tiên Kyiv sử dụng loại vũ khí này theo cách đó sau 1.000 ngày chiến tranh.[86]
Đài Loan: Tháng 10 năm 2020, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã phê duyệt thương vụ bán 64 tên lửa M57 ATACMS cho Đài Loan.[87] Ngày 10 tháng 11 năm 2024, Đài Loan đã tiếp nhận lô đầu tiên các hệ thống tên lửa ATACMS do Hoa Kỳ chuyển giao.[88][89]
Các quốc gia dự kiến đưa vào trang bị
Canada: Đặt mua 64 cụm ống phóng tên lửa M57 ATACMS đã được phê duyệt vào tháng 10 năm 2025.[90]
Latvia: Đơn mua 10 cụm ống phóng tên lửa M57 ATACMS đã được phê duyệt vào tháng 10 năm 2023.[91]
Litva: Đơn mua 18 cụm ống phóng tên lửa M57 ATACMS đã được phê duyệt vào tháng 11 năm 2022.[92]
Maroc: Tháng 4 năm 2023, Maroc đã đặt mua 18 bệ phóng M142 HIMARS cùng 40 cụm ống phóng tên lửa M57 ATACMS và các loại đạn MLRS khác (M30A2, M31A2), với tổng giá trị ước tính 524 triệu USD.[93]
Các thương vụ không thành công
Phần Lan: Hợp đồng mua 70 tên lửa của Phần Lan đã bị hủy vào tháng 3 năm 2014 do giá thành quá cao.[94]
Hà Lan: Yêu cầu mua 80 cụm ống phóng M57 ATACMS được phê duyệt vào tháng 2 năm 2023. Tuy nhiên, đến tháng 5 năm 2023, Lục quân Hoàng gia Hà Lan đã quyết định mua 20 hệ thống pháo phản lực PULS do công ty Elbit Systems của Israel chế tạo thay thế.[95][96][97][98][99]
Na Uy: Yêu cầu mua 16 bệ phóng M142 HIMARS cùng 100 cụm ống phóng M57 ATACMS được phê duyệt vào tháng 8 năm 2024.[100] Tuy nhiên, đến tháng 1 năm 2026, Na Uy quyết định thay vào đó đặt mua các bệ phóng K239 Chunmoo của Hàn Quốc cùng các loại tên lửa đi kèm.[101]
Ghi chú
- ^ Đạn con M74 APAM (Anti-Personnel Anti-Matériel – chống bộ binh và chống trang bị) nặng 590 g và có đường kính 58,9 mm. Đạn sử dụng đầu đạn lõm nổ mạnh (shaped charge) nạp thuốc nổ Composition B. Đạn được kích nổ bằng ngòi nổ M219A1E1 kết hợp với liều kích nổ tăng cường (booster pellet), đồng thời tạo ra hiệu ứng gây cháy. Bên ngoài đầu đạn là lớp vỏ phân mảnh bằng vonfram, tạo ra nhiều mảnh văng có sức sát thương cao khi phát nổ.[37][39]
Tham khảo
- ^ "MGM-140 ATACMS". Military Today. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018.
- ^ a b "M39 Army Tactical Missile System (Army TACMS)". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2023.
- ^ a b "Joe Biden is Probably About to Send These Deep-Strike Missiles to Ukraine". ngày 20 tháng 9 năm 2023.
- ^ a b "U.S. army awards Lockheed Martin $78 million contract for ATACMS guided missile modernization". Armyrecognition.com. ngày 8 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2015.
- ^ a b "Lockheed Martin Tactical Missile System Upgrades". Armedforces-Int.com. ngày 8 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2015.
- ^ a b Hasik, James (ngày 2 tháng 11 năm 2016). "Third Offset Breakthrough: U.S. Army Using Existing Technology to Develop 'Warship-Killer' Missiles". The National Interest (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2022.
- ^ "ATACMS Long-Range Precision Tactical Missile System" (PDF). lockheedmartin.com. ngày 30 tháng 7 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Lockheed Martin MGM-140 ATACMS". Designation-systems.net. ngày 19 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Army Tactical Missile System Block IA Unitary". Lockheed Martin. ngày 25 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2021.
- ^ a b c Romanczuk, Glenn E. (ngày 11 tháng 8 năm 2002). Lessons From Army System Developments. Volume 2: Case Studies: Army Tactical Missile System (ATACMS) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Huntsville, Alabama: Alabama Univ in Huntsville Research Inst. tr. B-1 – B-23. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2022.
- ^ "T-22 (SIG-D, Assault Bereaker) SRBM". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
- ^ a b c "The United States Army". history.redstone.army.mil. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2024.
- ^ Defense Department Authorization and Oversight: Research, development, test, and evaluation. United States, U.S. Government Printing Office, 1983., tr. 158, tại Google Books
- ^ Kopp, Carlo (tháng 4 năm 1999). "AH-64D Apache Longbow Flight Report". Australian Aviation. 1999.
- ^ "Al-Tariq | Denel Dynamics".
- ^ Baumann, Robert (tháng 11 năm 2021). "Deep Operations: Theoretical Approaches to Fighting Deep" (PDF). United States Army Combined Arms Center. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2024.
- ^ Laughbaum, R. Kent (tháng 1 năm 1999). "Synchronizing Airpower and Firepower in the Deep Battle" (PDF). United States Department of Defense. Air University Press. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2024.
- ^ Wolver, Gary (ngày 12 tháng 2 năm 1996). "Command, Control, and Coordination of the Joint Battlefield Interdiction Area" (PDF). apps.dtic.mil. Naval War College. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2024.
- ^ Department of Defense Appropriations for 1984. Part 1 (1983). United States of America: U.S. Government Printing Office., tr. 125, tại Google Books
- ^ Department of Defense Appropriations for 1984. Part 5 (1983). United States of America: U.S. Government Printing Office., tr. 610, tại Google Books
- ^ Department of Defense appropriations for fiscal year 1985: Hearings before a subcommittee of the Committee on Appropriations, United States Senate, Ninety-eighth Congress, second session. U.S. Government Printing Office. 1984. tr. 422–425.
- ^ a b Department of Defense appropriations for fiscal year 1985: Hearings before a subcommittee of the Committee on Appropriations, United States Senate, Ninety-eighth Congress, second session. U.S. Government Printing Office. 1984.
- ^ "ARCIC / Exclusive / Capabilities Development for Long Range Precision Fires". ARCIC.Army.mil. ngày 16 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015.
- ^ Altman, Howard (ngày 22 tháng 6 năm 2023). "Ground Launched Small Diameter Bomb Won't Make Ukraine Combat Debut Till Fall". The Drive. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2023.
- ^ "National Defense Authorization Act 2023" (PDF). rules.house.gov. ngày 23 tháng 12 năm 2022. tr. 452. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Lockheed Martin Delivers First Modernized TACMS Missile to US Army". armyrecognition.com. ngày 29 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Precision fires milestone for US Army". www.military1.com. ngày 18 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2016.
- ^ "Lockheed Martin contracted to provide new launch system for the ATACMS missile". armyrecognition.com. ngày 4 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2017.
- ^ "StackPath". ngày 30 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.
- ^ Freedberg, Sydney J. Jr. (ngày 28 tháng 10 năm 2016). "Carter, Roper Unveil Army's New Ship-Killer Missile: ATACMS Upgrade". Breaking Defense (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2022.
- ^ Judson, Jen (ngày 23 tháng 12 năm 2020). "US Army's cross-domain tactical missile dies in FY21 defense spending bill". Defense News (bằng tiếng Anh).
- ^ "Winning the Missile Wars: Army & Navy Tech in HASC NDAA". ngày 26 tháng 4 năm 2016.
- ^ a b c d e Engineering Director & Chief Engineer, Paul E. Turner. "Precision Fires Rocket and Missile Systems" (PDF). US Army Precision Fires Rocket & Missile Systems Project Office. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2022.
- ^ Hoehn, John (ngày 11 tháng 6 năm 2021). "Precision-Guided Munitions: Background and Issues for Congress" (PDF). Congressional Research Service. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Precision Strike Missile (PRSM)".
- ^ "Lockheed begins delivering long-range PRSM Increment 1 to Army". ngày 8 tháng 12 năm 2023.
- ^ a b Janes (ngày 31 tháng 10 năm 2023), "610 mm Army Tactical Missile System rockets", Janes Weapons: Ammunition, Coulsdon, Surrey: Jane's Group UK Limited., truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023
- ^ Ibbetson, Connor James; Emanuel, Louis; Scott-Geddes, Arthur; Nicholls, Dominic. "ATACMS (M39)". The Telegraph. London. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.
- ^ "CAT-UXO – M74 submunition".
- ^ a b Hearings on National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1997 – H.R. 3230 and Oversight of Previously Authorized Programs Before the Committee on National Security, House of Representatives, One Hundred Fourth Congress, Second Session: Military Procurement Subcommittee Hearings on Title I – procurement : Hearings Held March 19, 21, 22, 29, 1996. U.S. Government Printing Office. 1997. ISBN 978-0-16-054241-1.
- ^ "Ukraine Said to Use ATACMS, a Powerful Weapon System, for First Time". The New York Times. ngày 17 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2023.
- ^ Trevithick, Joseph; Rogoway, Tyler (ngày 18 tháng 10 năm 2023). "Destruction From Ukraine's First ATACMS Strike Now Apparent". The Drive. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2023.
- ^ Newdick, Thomas (ngày 17 tháng 10 năm 2023). "ATACMS Hits Battlefield Ukraine In Spectacular Fashion (Updated)". The Drive. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2023.
- ^ "US-supplied ATACMS enter the Ukraine war". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2023.
- ^ "U.S. Using Cluster Munitions In Iraq". Human Rights Watch. ngày 1 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2023.
- ^ a b c d Lennox, Duncan (1989). Jane's strategic weapons systems. Coulsdon, Surry, Eng. ; Alexandria, VA : Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-0880-2.
- ^ a b c d Russo, Joe (tháng 5 năm 2018). "Long-Range Precision Fires" (PDF). Marine Corps Gazette: 40. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2022.
- ^ a b "Army Tactical Missile System (ATACMS) Modification (MOD)" (PDF). The Office of the Director, Operational Test and Evaluation. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2022.
- ^ Keller, John (ngày 30 tháng 7 năm 2021). "Lockheed Martin to upgrade weapons payloads and navigation and guidance on ATACMS battlefield munitions". Military+Aerospace Electronics. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2022.
- ^ "US-supplied ATACMS enter the Ukraine war". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2023.
- ^ "CAT-UXO – MGM 140b m39a1 atacms missile".
- ^ "CAT-UXO – MGM 140c m39a2 atacms missile".
- ^ "CAT-UXO – MGM 140e atacms qru missile".
- ^ "MGM-140 Atacms".
- ^ "Lockheed Martin MGM-168 ATACMS Block IVA".
- ^ Pincoski, Mark (ngày 24 tháng 4 năm 2007). "Precision Guided Missiles and Rockets Program Review" (PDF). Precision Strike Annual Programs Review. US Army Precision Fires Rocket & Missile Systems unit- Redstone Arsenal. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Spesifikasi Rudal Balistik MGM-140 ATACMS yang Bikin Rusia Ketar-ketir".
- ^ "Lockheed Martin MGM-140 ATACMS".
- ^ T. Morgan, Clarence (tháng 10 năm 1996). "The Fix Is In: Fire Support Returns". usni.org.
- ^ a b Department of Defense Authorization for Appropriations for Fiscal Year 1997 and the Future Years Defense Program: Hearings Before the Committee on Armed Services, United States Senate, One Hundred Fourth Congress, Second Session, on S. 1745, Authorizing Appropriations for Fiscal Year 1997 for Military Activities of the Department of Defense, for Military Construction, and for Defense Activities of the Department of Energy, to Prescribe Personnel Strengths for Such Fiscal Year for the Armed Forces, and for Other Purposes. U.S. Government Printing Office. 1997.
- ^ Laughlin, J.P.; Brooks, W.B. (ngày 2 tháng 12 năm 1956). "Adaption of the Army Tactical Missile System to Undersea Operations" (PDF). apps.dtic.mil. Lockheed Martin. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Australia – HIMARS launchers". Defense Security Cooperation Agency (Thông cáo báo chí). ngày 26 tháng 5 năm 2022. 22-88. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2022.
- ^ "Australia – M142 High Mobility Artillery Rocket Systems (HIMARS)". Defense Security Cooperation Agency (Thông cáo báo chí). ngày 18 tháng 8 năm 2023. 23-59. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2023.
- ^ Minister for Defence Richard Marles; Minister for Defence Industry Pat Conroy (ngày 19 tháng 8 năm 2023). "Australia accelerates long-range precision strike capability acquisition". Department of Defence Ministers (Thông cáo báo chí). Australian Government. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Bahrain Purchases Lockheed Martin's ATACMS Missiles". Lockheed Martin. ngày 20 tháng 12 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2012.
- ^ "Arms Sales Notification Bahrain". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 8 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Estonia – M142 High Mobility Artillery Rocket System (HIMARS)". US Defense Security Cooperation Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Russia Slams Estonian HIMARS Drill as "Obvious Provocation" in Baltic". UNITED24 Media (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Worldwide Ballistic Missile Inventories". www.armscontrol.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Greece". Lockheed Martin. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011.
- ^ Survey of Cluster Munition Policy and Practice (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Human Rights Watch. tr. 37–38. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2023.
- ^ Cordesman, Anthony H.; Lin, Aaron (ngày 7 tháng 7 năm 2015). The Changing Military Balance in the Koreas and Northeast Asia (bằng tiếng Anh). Rowman & Littlefield. tr. 301. ISBN 978-1-4422-4111-4.
- ^ "Armata română a efectuat în premieră trageri cu sistemul HIMARS". defenseromania.ro (bằng tiếng Romania). ngày 10 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
- ^ "FOTO/VIDEO România a executat primele trageri reale cu sistemul de rachete HIMARS: A simulat atacarea unor nave în Marea Neagră". HotNews (bằng tiếng Romania). ngày 10 tháng 6 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Arms Sales Notification Romania". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 24 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Arms Sales Notification Poland". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 6 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Poland – M142 High Mobility Artillery Rocket System (HIMARS)| Defense Security Cooperation Agency". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Turkey will join USA in fielding Army Tactical Missile System". Flight Global. ngày 6 tháng 11 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Lockheed Martin Successfully Validates ATACMS Missile Long-Term Reliability". Lockheed Martin. ngày 26 tháng 2 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2010.
- ^ "MGM-140A Block 1". MissileThreat.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Arms Sales Notification Qatar". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 4 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Arms Sales Notification UAE". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 9 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ "US-supplied ATACMS enter the Ukraine war". Reuters. ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
- ^ Gordon, Michael R.; Youssef, Nancy A.; Luxmoore, Matthew. "WSJ News Exclusive | Ukraine Fires ATACMS Missiles at Russian Forces for the First Time". WSJ (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Ukraine uses long-range missiles secretly provided by US to hit Russian-held areas, officials say". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2024.
- ^ Arhirova, Hanna; Novikov, Illia (ngày 19 tháng 11 năm 2024). "Ukraine fires several US-made longer-range missiles into Russia for the first time". apnews.com. Associated Press. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2024.
- ^ "Arms Sales Notification Taiwan". Defense Security Cooperation Agency, Department of Defense. ngày 24 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
- ^ Dangwal, Ashish (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "1st Batch Of Donald Trump 'Approved' ATACMS Reach Taiwan; Follows 'Notorious' HIMARS: Reports". EurAsian Times.
- ^ Su-wei, Wu; Yeh, Joseph (ngày 10 tháng 11 năm 2024). "1st batch of 300-km range U.S. missile system arrive in Taiwan: Source". Focus Taiwan. Central News Agency (Taiwan).
- ^ https://www.dsca.mil/Press-Media/Major-Arms-Sales/Article-Display/Article/4320012/canada-m142-high-mobility-artillery-rocket-systems
- ^ "U.S. moves forward with 220-million-dollar HIMARS sale to Latvia". eng.lsm.lv (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Lithuania – M142 High Mobility Artillery Rocket System (HIMARS)". US Defense Security Cooperation Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Morocco – High Mobility Artillery Rocket Systems (HIMARS) | Defense Security Cooperation Agency". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Long Reach: Finlands Long-Range Rocket Launchers". defenseindustrydaily.com. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
- ^ "The Netherlands – M142 High Mobility Artillery Rocket System (HIMARS)| Defense Security Cooperation Agency". www.dsca.mil. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Netherlands to purchase HIMARS and ATACMS missile systems". ВПК.name (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Netherlands poised to order South Arkansas-made missiles". Magnolia Reporter – Magnolia, Arkansas News (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2023.
- ^ Revell, Eric (ngày 16 tháng 2 năm 2023). "US agrees to sell 20 HIMARS to Netherlands for $670 million". FOXBusiness (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Elbit Systems Awarded $305 Million Contract to Supply PULS Rocket Artillery Systems to the Royal Netherlands Army". Elbit Systems (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.
- ^ https://media.defense.gov/2024/Dec/09/2003604142/-1/-1/0/PRESS%20RELEASE%20-%20NORWAY%2024-75%20CN.PDF
- ^ https://www.fma.no/en/news-and-media/newsarticles/new-contract-with-hanwha-aerospace-to-procure-long-range-precision-fires
Liên kết ngoài
- ATACMS, Lockheed Martin
- Army Tactical Missile System Block IA Unitary Lockheed Martin. Retrieved 6 October 2011.
- Rogers III, Henry T. (ngày 16 tháng 6 năm 2006). "Army Tactical Missile System and Fixed-Wing Aircraft Capabilities in the Joint Time Sensitive Targeting Process". Master thesis. US Army Command and General Staff College. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012.
- Precision Guided Missiles and Rockets Program Review US Defense Technical Information Center (14 April 2008).
- ATACMS / ATACMS Block IA Unitary Deagel.com. Retrieved 6 October 2011.
- M39 Army Tactical Missile System (Army TACMS) Federation of American Scientists | FAS.org. Retrieved 6 October 2011.