Bánh mì trong văn hóa
Bánh mì trong văn hóa (Bread in culture) và đời sống con người giữ vai trò, vị trí quan trọng, bởi nó mang ý nghĩa vượt ra ngoài giá trị dinh dưỡng đơn thuần trong nhiều nền văn hóa tại phương Tây và Châu Á bởi lịch sử lâu đời và tầm quan trọng của nó. Bánh mì cũng đóng vai trò quan trọng trong Kitô giáo như một trong những yếu tố cùng với rượu và bánh thánh là những món trong Bí tích Thánh Thể. Bánh mì đã trở thành một thực phẩm thiết yếu hàng đầu vì tự thân nó hàm chứa một nguồn dinh dưỡng cho con người với gluten, tinh bột và đường chứa trong đó đại diện cho các chất dinh dưỡng nitơ và hydro-cacbon, đồng thời kết hợp sức mạnh duy trì của cả vương quốc động vật và thực vật trong một sản phẩm.[1] Bánh mì và muối là một nghi thức chào đón trong nhiều nền văn hóa Trung Âu và văn hóa Đông Âu. Trong những dịp quan trọng khi khách đến thăm, chủ nhà thường mời họ một ổ bánh mì cùng với lọ muối để thể hiện lòng hiếu khách.[2]

Trên thế giới
Bánh mì các loại là thực phẩm thiết yếu, phổ biến trên toàn thế giới như là một món ăn trong ẩm thực toàn cầu. Một lượng lớn các loại bánh mì đa dạng hiện diện trên khắp châu Âu và những nơi khác trên thế giới. Từ companion (bạn đồng hành) trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin com-, nghĩa là "cùng với" và panis, tức là "bánh mì".[3] Bánh mì ở phương Tây mang ý nghĩa chính trị[4] chẵng hạn câu ngạn ngữ "Bánh mì và rạp xiếc" hay hòa bình và bánh mì. Chỉ riêng ở Đức đã có mức tiêu dùng bánh mì bình quân đầu người lớn nhất thế giới.[5][6] Theo Sách Kỷ lục Guinness thì Thổ Nhĩ Kỳ có mức tiêu thụ bánh mì bình quân đầu người lớn nhất thế giới tính đến năm 2000, với 199,6 kg (440 lb) mỗi người; theo sau Thổ Nhĩ Kỳ là Serbia và Montenegro với 135 kg (297 lb 9,9 oz), và Bulgaria với 133,1 kg (293 lb 6,9 oz).[7]
Châu Âu
Bánh mì cũng xuất hiện trong Đại Hiến chương (Magna Carta) ở Anh quốc. Về mặt lịch sử, bánh mì chủ yếu được dùng theo một trong hai cách, hoặc bẻ thành từng miếng trong súp, nước dùng, sữa hoặc sữa lên men, hoặc chấm nhúng vào đồ uống nóng, hoặc phục vụ dưới dạng bơ phết lên một lát bánh mì và dùng như bánh mì kẹp mở.[8] Ở những vùng thiếu ngũ cốc hoặc bánh mì, cá khô đã hoạt động như bánh mì. Để làm cho nó có thể ăn được, người ta đập cá bằng đá cho đến khi nó trở nên mềm. Cá được phết bơ và ăn như bánh mì kẹp. Khoai tây đã thay thế bánh mì làm thực phẩm chính trong thế kỷ 19 và bánh mì giữ vị trí là thành phần chính của bữa sáng, nhưng nó trở thành món ăn phụ cho các bữa trưa và bữa tối nóng sốt khi khoai tây chiếm lấy vai trò trung tâm trước đây của bánh mì.[9] Trong quá trình chuyển đổi sang một xã hội đô thị và công nghiệp hóa hiện đại, các loại bánh mì đã thay đổi khi các tiệm bánh công nghiệp lớn giới thiệu bánh mì mềm mới, loại bánh mà từ đầu những năm 1920 thường được làm ngọt (Sötlimpa là loại bánh mì dày ngọt). Từ đó trở đi, người ta mua bánh mì từ các cửa hàng và tiệm bánh, thay vì nướng tại nhà như trường hợp trước đây. Các biến thể vùng miền giảm đi do việc vận chuyển và tiếp thị bánh mì như một sản phẩm quốc gia.
Tại Pháp, đã có sự suy giảm to lớn trong văn hóa bánh mì ba-gết (baguette). Vào những năm 1970, người Pháp tiêu thụ trung bình một ổ bánh mì mỗi ngày. Chỉ một thế kỷ trước, người Pháp ăn khoảng 3 ổ bánh mì mỗi ngày. Ngày nay, họ chỉ ăn nửa ổ mỗi ngày. Để ứng phó với sự sụt giảm này, những người thợ làm bánh đã tạo ra một chiến dịch quốc gia nhằm kêu gọi mọi người ghé tiệm bánh trước và sau giờ làm việc như thói quen trước đây. Chiến dịch này mô phỏng theo chiến dịch "Got Milk?" của Mỹ, dán dòng chữ "Này bạn, bạn đã mua bánh mì chưa?" lên khắp các biển quảng cáo và túi đựng bánh mì.[10] Trong thế kỷ XVIII, nền kinh tế đạo đức của Pháp dựa trên bánh mì lúa mì. Bằng cách cung cấp đủ lượng bánh mì cho người dân, chính phủ có thể chứng minh năng lực chính trị vững vàng của mình. Đối với nhiều người Pháp thì bánh mì trở thành tâm điểm của mọi bữa ăn. Tất cả các loại thực phẩm khác như trái cây, rau và thịt được coi là phụ trợ cho việc nuôi dưỡng cơ thể.[11] Ở Tây Ban Nha, đặc biệt là khu vực Địa Trung Hải, các phường hội thợ làm bánh đã tồn tại hơn 750 năm. Phường hội thợ làm bánh ở Barcelona được thành lập vào năm 1200 sau Công nguyên.[12] Có một vùng gọi là Tierra del Pan ("Vùng đất bánh mì"), nằm ở tỉnh Zamora, nơi mà kinh tế trong quá khứ gắn liền với hoạt động này.
Văn hóa bánh mì Bắc Âu đã tồn tại ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Nó thường được đặc trưng bởi việc sử dụng bột lúa mạch đen (rye), bột đại mạch (barley), hỗn hợp các loại hạt, hạt giống và thảo mộc, cùng với độ đặc khác nhau tùy theo từng vùng.[15] Bánh mì thường được phục vụ như món ăn kèm với nhiều công thức và bữa ăn khác nhau. Người ta thường nêm nếm bánh mì Bắc Âu với nhiều loại gia vị và chất phụ gia, chẳng hạn như hạt thì là Ba Tư (caraway), vỏ cam, tiểu hồi và mật ong. Bốn loại ngũ cốc chiếm ưu thế ở các nước Bắc Âu như đại mạch và lúa mạch đen là lâu đời nhất, lúa mì và yến mạch xuất hiện muộn hơn. Tại Đan Mạch ngày nay, sự độc quyền truyền thống của thợ làm bánh trong việc cung cấp bánh mì nướng tươi đã bị thách thức bởi các trạm xăng bán loại bánh mì nướng tại chỗ (bake-off) chất lượng tốt.[16] Phần Lan có loại sữa chua yêu thích riêng—lúa mạch đen-hạt phỉ. Sản phẩm này được phát triển từ vụn bánh mì lúa mạch đen Phần Lan và sữa chua.[17][18][19][20][21][22][23][24]
Ngay từ những ngày đầu, việc làm bánh mì luôn là nhiệm vụ của nam giới và gắn liền với địa vị cao ở Thụy Điển. Những chiếc bánh mì đầu tiên này được nướng bằng bột đại mạch, hoặc có thể là lúa mì cho bánh mì mỏng hoặc bánh mì dẹt (tunnbröd).[25] Bánh mì trở thành một vật phẩm quan trọng trong tôn giáo Kitô giáo mới (năm 900 sau Công nguyên) để cử hành Tiệc Thánh (bánh mì và rượu vang), nhấn mạnh bánh mì vừa mới mẻ vừa quan trọng. Bánh mì mỏng được nướng trên đá hoặc tấm sắt hoặc trong lò lớn, và truyền thống này vẫn tồn tại đến ngày nay.[26] Nhóm thiểu số Phần Lan lớn ở Thụy Điển ăn loại bánh mì lúa mạch đen cứng hơn nướng với bột chua. Các loại bánh mì truyền thống vẫn được ăn ở Thụy Điển, nhưng ngày nay chúng thường được nướng chuyên nghiệp. Các loại bánh quốc tế mới như bánh mì naan, ciabatta, focaccia, pita và bagel đã phổ biến từ những năm 1990. 20% người Thụy Điển là người nhập cư thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai và sử dụng bánh mì theo cả cách họ đã làm ở quê nhà và cách nó được sử dụng ngày nay trong văn hóa thực phẩm chuẩn mực hiện đại của Thụy Điển.[27]
Tại Ukraina, hiện nay, Công ty cổ phần nhà nước Bánh mì Ukraina hay Khlib Ukrainy (ДАК «Хліб України») là một công ty thuộc sở hữu nhà nước, nhà điều hành hàng đầu trên thị trường ngũ cốc Ukraina, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bánh mì và các sản phẩm bột mì khác. Với tư cách là pháp nhân kế thừa của Tổng cục Các sản phẩm Bánh mì và Tổng cục Công nghiệp Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp thuộc Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Ukraina, Công ty cổ phần "Bánh mì Ukraina" từng là một trong những nhà điều hành hàng đầu trên thị trường ngũ cốc nội địa.[28] Chính phủ đã thành lập công ty vào ngày 22 tháng 8 năm 1996.[29] Trong giai đoạn 1999–2002 và 2008–2010, Ivan Rishniak giữ vai trò lãnh đạo Công ty "Bánh mì Ukraina".[30]
Ngày 28 tháng 5 năm 2010, ông Andriy Yefimchenko đảm nhận chức vụ phó chủ tịch hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần "Bánh mì Ukraina".[31] Năm 2010, trên cơ sở "Khlib Investbud" (một công ty con của Côn ty cổ phần "Bánh mì Ukraina", ra đời năm 2004 nhằm sửa chữa các kho trữ ngũ cốc và cung cấp nhiên liệu), Nhà nước đã thành lập Tổng công ty Lương thực và Ngũ cốc Nhà nước Ukraina. Đơn vị mới này tiếp nhận 36 kho trữ ngũ cốc (Elevator) tốt nhất của Công ty Cổ phần "Bánh mì Ukraina" (gồm kho tuyến tính và kho cảng), cũng như một số nhà máy bánh mì. Theo chính phủ, tổng công ty mới này sẽ trở thành nhà điều hành thương mại ngũ cốc chính và là đối thủ cạnh tranh với các thương nhân ngũ cốc tư nhân.[32] Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần "Bánh mì Ukraina" là một mạng lưới tập trung, phân nhánh theo khu vực bao gồm 125 công ty con tại tất cả các vùng của Ukraina và trụ sở chính của công ty đặt tại Kiev. Các doanh nghiệp con của công ty bao gồm năng lực thu hoạch của các kho trữ (silo), doanh nghiệp tiếp nhận ngũ cốc, cơ sở bánh mì, nhà máy chế biến hạt giống để chuẩn bị hạt giống, hai kho trữ tại cảng, cơ sở sản xuất của các nhà máy sản phẩm bánh mì (bao gồm nhà máy xay xát, nhà máy ngũ cốc và thức ăn chăn nuôi hỗn hợp), và một viện nghiên cứu về các sản phẩm bánh mì.[33]
Châu Mỹ
Các loại bánh mì dẹt làm từ nhiều loại bột phổ biến khắp Mỹ Latinh, thông dụng nhất có lẽ là sopaipillas. Chile là nước tiêu thụ bánh mì bình quân đầu người lớn thứ hai thế giới.[34][35] Tortilla ngô là loại bánh chủ đạo ở hầu hết Mexico, các loại bánh mì cuộn đa dạng là thực phẩm quan trọng hàng ngày của cư dân thành thị. Các loại bánh mì phổ biến ở Mexico bao gồm bánh cuộn bolillo và pan dulce mà tiếng Tây Ban Nha nghĩa là "bánh mì ngọt", được ăn vào buổi tối cùng với đồ uống nóng như sô-cô-la nóng truyền thống. Ở vùng Río de la Plata, sopaipillas được gọi là torta frita và được chiên trong mỡ bò, một loại bánh khác thường thấy là galleta de campaña, một loại bột mỡ tạo thành nhiều lớp,[36] roscas là loại bánh ở Uruguay thường được ăn vào semana santa (Tuần Thánh), chúng thường có nhân chicharrones (tóp mỡ) hoặc mứt mộc qua (quince cheese).[37] Pan de miga là loại bánh mì được làm đặc biệt để chế biến sandwiches de miga và hầu như không được tiêu thụ theo cách khác, tương tự như pebete thường kẹp giăm bông và phô mai. Một loại bánh sừng bò thường thấy ở Río de la Plata là Medialuna.
Các loại bánh mì truyền thống ở Hoa Kỳ bao gồm bánh mì ngô và các loại bánh mì làm nhanh khác, chẳng hạn như bánh quy (biscuits). Bánh mì cuộn (rolls), làm từ bột mì và men, là một loại bánh phổ biến và truyền thống khác, được ăn cùng bữa tối. Bánh mì ngô được làm từ bột ngô và có thể khác biệt đáng kể về hương vị và kết cấu tùy theo vùng miền. Nhìn chung, miền Nam ưa chuộng bột ngô trắng, thêm ít hoặc không thêm bột mì hay chất tạo ngọt; theo truyền thống bánh được nướng trong chảo gang và lý tưởng nhất là có lớp vỏ giòn bên ngoài và ẩm bên trong. Miền Bắc thường thích bột ngô vàng, đôi khi pha tới một nửa bột mì trong thành phần, cũng như đường, mật ong hoặc siro phong. Điều này tạo ra loại bánh mềm hơn và ngọt hơn so với người anh em miền Nam. Bột mì không có sẵn cho gia đình Bắc Mỹ trung bình cho đến đầu những năm 1900 khi một giống lúa mì mới có tên Marquis được tạo ra. Đây là giống lai giữa Red Fife và Lúa mì đỏ cứng vụ đông. Marquis phát triển tốt và chẳng mấy chốc người Mỹ trung bình đã có thể có bánh mì lúa mì tự làm trên bàn ăn.[38] Bánh mì lúa mì tự làm được nướng trong khuôn thiếc hình chữ nhật tương tự như ở Vương quốc Anh. Tại Hoa Kỳ, doanh số bán bánh mì đã giảm 11,3% trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2013. Số liệu thống kê này có thể phản ánh sự thay đổi trong các loại thực phẩm cung cấp carbohydrate cho người Mỹ, nhưng xu hướng này không rõ ràng do ảnh hưởng đồng thời của Đại suy thoái. Thị trường bánh mì vẫn đầy thách thức. Food Business News, ngày 17 tháng 9 năm 2013.[39] Cũng có thể sự thay đổi thị hiếu ăn uống đã ảnh hưởng đến sự sụt giảm doanh số bán bánh mì trong giai đoạn đó.[40]
Châu Á
Sangak, barbari, taftoon và lavash là những loại bánh mì phổ biến nhất tại Iran. Người Iran chế biến bánh mì với thành phần, hình dáng, kích thước, kết cấu, màu sắc và hương vị rất đa dạng.[41] Tại Tiểu lục địa Ấn Độ, chapati hay roti,[42][43][44] là các loại bánh mì dẹt không men thường làm từ bột mì nguyên cám hoặc đôi khi là bột mì tinh chế và nướng trên vỉ sắt nóng gọi là tava, đóng vai trò chủ đạo trong chế độ ăn uống của người dân. Chapati là một loại bánh mì không men có truyền thống lâu đời. Tên bánh có thể viết là Chapathi, Chapatti hoặc Chappati.[45] Rotis và naans thường được dùng kèm với cà ri trên khắp khu vực. Một biến thể gọi là makki di roti sử dụng bột ngô thay vì bột mì trắng. Một biến thể khác là puri, một loại bánh mì dẹt mỏng được chiên thay vì nướng và phồng lên khi nấu. Paratha là một biến thể khác của roti. Naan (bánh mì nguyên cám có men) được nướng trong tandoor (lò đất sét) và hiếm khi được chế biến tại nhà. Bánh mì trắng và bánh mì nâu cũng rất phổ biến, nhưng không thông dụng bằng roti. Tại Philippines, pandesal (hoặc pan de sal, nghĩa là bánh mì muối) là một loại bánh mì tròn mà người Philippines thường dùng vào bữa sáng. Philippines cũng sản xuất một loại bánh mì trắng giá rẻ phổ thông gọi là Pinoy Tasty.[46][47]
Hiện nay, bánh mì Việt Nam là món ăn phổ biến được yêu thích của người Việt, đặc biệt là giới sinh viên và người lao động.[48] Nhiều người cho rằng bánh mì là một món ăn đã trở thành một phần gắn liền với ký ức tuổi thơ.[49][50] Bánh mì được người ta ăn vào buổi sáng trong bữa ăn sáng do tính tiện dụng, nhanh gọn mà nó đã được dùng tùy ý trong cả ngày[51] và có thể được tìm thấy ở bất cứ đâu.[52] Ngoài ra, loại bánh này còn xuất hiện trong các bữa tiệc hoặc mâm cơm gia đình, ăn cùng với các thứ đồ ăn như bò kho hoặc cà ri. Đối với các tiệm phở, hủ tiếu và mì thì bánh mì dùng để đáp ứng khẩu vị của một số người, đồng thời được xem như một món ăn kèm để chấm vào nước xuýt (chẵng hạn như món bánh mì bò kho) có nơi còn nặn bánh mì theo hình các con vật và hoa quả để kích thích người mua.[53] Mặt khác, thỉnh thoảng món ăn này còn được người ta lấy cảm hứng để sáng tạo nên những từ lóng, ví dụ như "bánh mì đêm" vốn dùng để chỉ những người nam hành nghề mại dâm trong giai đoạn 1990–2010.[54]
Hình ảnh ổ bánh mì Việt là đề tài thường xuyên được khai thác trong các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là từ năm 2020 trở đi, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như văn chương,[55] phim ảnh truyền hình,[56] âm nhạc,[57] hội họa[58] và nhiếp ảnh.[59] Một vài tác phẩm trong số đó đã trở nên nổi tiếng và nhận về nhiều đánh giá tích cực từ cộng đồng, chẳng hạn như các ca khúc "Bánh mì không" và "Yêu anh đi mẹ anh bán bánh mì",[60] tuy nhiên cũng có trường hợp làm dấy nên tranh cãi và phân cực ở phía người xem.[61] Bên cạnh đó, một số hội thảo, lễ hội và các hoạt động kỷ niệm, tôn vinh cũng xoay quanh món bánh này,[62] thậm chí còn có ý kiến đề xuất việc lấy ngày 24 tháng 3 làm "Ngày bánh mì Việt Nam".[63][64] Đây cũng là thời điểm mà bánh mì được Google Doodle tổ chức tôn vinh giữa đại dịch COVID-19 trên trang chủ ở nhiều quốc gia vào năm 2020,[65] cũng như xuất hiện trong từ điển Từ điển tiếng Anh Oxford cách đó 9 năm về trước.[66][67] Ngoài ra, bánh mì còn được đưa vào một số từ điển khác như Merriam-Webster,[68] Từ điển tiếng Anh Collins[69] hoặc Từ điển Di sản Hoa Kỳ về Ngôn ngữ Anh.[70]
Châu Phi
Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng bánh mì mốc để điều trị nhiễm trùng phát sinh từ bụi bẩn trong các vết bỏng.[71] Vào đầu thế kỷ 20, penicillin được phân lập từ nấm mốc phát triển trên bánh mì, và trở thành một trong những loại thuốc kháng sinh quan trọng nhất được sử dụng. Tại Sừng châu Phi, đáng chú ý là Ethiopia và Eritrea, một loại bánh gọi là injera được làm từ một loại hạt gọi là teff.[72] Đây là loại bánh rộng, dẹt, hình tròn có hình dạng tương tự như tortilla và cũng được dùng làm dụng cụ để bốc thức ăn. Người ta cũng ăn một loại bánh mì chiên dày và dai được tẩm dầu trước đó. Bánh rghifa là thực phẩm chủ đạo trong ẩm thực Morocco và bao gồm nhiều lớp bánh nấu sơ. Tại Ai Cập, bánh mì được gọi là aysh (aish merahrah hoặc aish baladi) và tục ngữ cổ có câu "cuộc sống không có aysh thì không phải là cuộc sống". Bánh mì Ai Cập điển hình có hình tròn, đường kính khoảng 6 inch, thường được nướng trong các lò bánh nhỏ trong khu phố và được mua khi còn ấm.[73][74]
Trong tôn giáo
Một số truyền thống của Wicca và Tân tà giáo dùng bánh mì như một phần trong các nghi lễ tôn giáo của họ, gắn nhiều biểu tượng khác nhau cho hành động này.[75] Bánh mì đóng vai trò biểu tượng trong các tôn giáo Abraham gồm Do Thái giáo và Kitô giáo. Trong lễ Vượt Qua của Do Thái giáo, người ta chỉ ăn bánh mì không men để kỷ niệm cuộc trốn chạy khỏi ách nô lệ ở Ai Cập. Người Israel không có đủ thời gian để ủ cho bánh mì nở, vì vậy họ chỉ ăn bánh mì không men matzo.[76] Challah là một loại bánh mì Do Thái truyền thống được ăn vào ngày Shabbat và các ngày lễ (trừ ngày ăn chay), dựa trên tập tục cổ xưa về việc dâng bột cho kohanim (tu sĩ). Trong nghi thức Bí tích Thánh Thể của Kitô giáo, bánh mì còn gọi là bánh thánh được dùng như một bí tích, hoặc như một biểu tượng đại diện cho thân thể của Chúa Kitô, hoặc như trong phụng vụ Công giáo, là sự hiện diện thực sự của thân thể Chúa Kitô.[77] Các khía cạnh cụ thể của bản thân nghi thức, bao gồm thành phần của bánh mì, khác nhau tùy theo giáo phái. Sự khác biệt trong việc thực hành Bí tích Thánh Thể bắt nguồn từ những mô tả và miêu tả khác nhau về Bữa ăn tối cuối cùng, vốn cung cấp cứ liệu kinh thánh cho Bí tích Thánh Thể.[78] Các sách Phúc âm Nhất lãm trình bày Bữa ăn tối cuối cùng như một bữa ăn Lễ Vượt Qua và gợi ý rằng bánh mì tại Bữa ăn tối cuối cùng là bánh không men. Tuy nhiên, theo trình tự thời gian trong Phúc âm Gioan, Bữa ăn tối cuối cùng diễn ra một ngày trước Lễ Vượt Qua, gợi ý rằng bánh mì có thể là bánh có men. Bất chấp điểm bất đồng này, Công đồng Florence của Giáo hội Công giáo đã tán thành rằng "thân thể của Chúa Kitô thực sự được làm phép trong cả bánh mì lúa mì không men và có men, và các linh mục nên làm phép thân thể Chúa Kitô trong cả hai loại".[79]
Chú thích
- ^ Beeton, Mrs (1861). Mrs Beeton's Book of Household Management . London: S.O. Beeton, 18 Bouverie St. E.C. tr. 832. ISBN 0-224-61473-8.
- ^ "Bread and Salt Ceremony in Europe". cookatease.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016.
- ^ "companion". Online Etymology Dictionary.
- ^ "Corn Laws 1815–46: Impact, Crisis & Why They Were Repealed | HistoryExtra". www.historyextra.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Bread Makes the World Go Round". sixservings.org. ngày 15 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013.
- ^ "Chilean Bread". fundi2.com. ngày 6 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Largest bread consumption per capita". Guinness World Records. ngày 1 tháng 1 năm 2000. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015.
- ^ Keyland, N., (1919). Svensk allmogekost: Bidrag till den svenska folkhushållningens historia. Stockholm: Svenska Teknologföreningen.
- ^ Swahn, J.-Ö., (2000). Fil, fläsk och Falukorv. Svenska mattraditioner genom tiderna. Lund: Illustrerad historia.
- ^ Kim, Eun Kyung (ngày 6 tháng 8 năm 2013). "Mon dieu! New campaign urges French to eat more bread". TODAY.com.
- ^ Spary, Emma (2014). Feeding France: New Sciences of Food, 1760–1815. Cambridge University Press. tr. 55–68. ISBN 9781107031050.
- ^ "La histopa del pan". Juntadeandalucia.es. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2007.[nguồn không đáng tin?]
- ^ Một nửa sự thật… truyền cảm hứng! (Báo Công giáo và Dân tộc)
- ^ Một nửa sự thật (VOV)
- ^ "8 Easy Scandinavian Bread Recipes to Bake at Home". True North Kitchen. ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ^ Gastronomisk Leksikon, udgivet af Det Danske Gastronomiske Akademi, Gyldendal 1998, revidert udgave udkommer maj 2010.
- ^ Kolmonen, J. Suomen maakuntaleivät, 1993, Helsinki: Patakolmonen ky.
- ^ Kolmonen, J. Kotomaamme ruoka-aitta. 1988, Helsinki: Patakolmonen ky.
- ^ Kolmonen, J. Vanamo, V. Leivotaan yhdessä. 1986, Helsinki: Patakolmonen ky.
- ^ Nuutila, J. Leipäkirja. Jaakko Nuutila. 2010, Helsinki: Maahenki.
- ^ Kainuun Leipä. ISBN 951-97462-2-6, 1997 Myllylahti Oy
- ^ Kuluttajat | Myllyn Paras Oy. Myllynparas.fi. Retrieved on 2011-03-22.
- ^ recent 3 Lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2006 tại Wayback Machine. Halfbakery.com. Retrieved on 2011-03-22.
- ^ FINNISH BREAD: A Short History of survival in the Northern Woods Lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2015 tại Wayback Machine. Uralica.com. Retrieved on 2011-03-22.
- ^ Bergström, L., (2008). Gräddat. Thesis and Papers in Scientific Archaeology 9. Stockholm: Stockholms universitet (diss.).
- ^ "8 Easy Scandinavian Bread Recipes to Bake at Home". True North Kitchen. ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ^ Swahn, J.-Ö., (2002). Matens historia. Historia B för gymnasiet. Stockholm: Natur & Kultur.
- ^ "Về việc phê chuẩn Điều lệ Công ty Cổ phần Nhà nước "Bánh mì Ukraina"" Про затвердження Статуту Державної акціонерної компанії "Хліб України". zakon.rada.gov.ua (bằng tiếng Ukraina). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Про утворення Державної акціонерної компанії "Хліб України"" [Về việc thành lập Công ty Cổ phần Nhà nước "Bánh mì Ukraina"]. Portal VRU (bằng tiếng Ukraina). VRU. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Довідка: Рішняк Іван Миколайович" [Hồ sơ: Rishniak Ivan Mykolayovych]. dovidka.com.ua. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Про призначення Єфімченка А. Ю. заступником голови правління Державної акціонерної компанії "Хліб України"" [Về việc bổ nhiệm Yefimchenko A. Yu. làm Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Nhà nước "Bánh mì Ukraina"]. Cổng thông tin Chính phủ (bằng tiếng Ukraina). KMU. ngày 26 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Про заходи з утворення державного підприємства "Державна продовольчо-зернова корпорація України"" [Về các biện pháp thành lập doanh nghiệp nhà nước "Tổng công ty Lương thực và Ngũ cốc Nhà nước Ukraina"]. Portal VRU (bằng tiếng Ukraina). VRU. ngày 11 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2023.
- ^ "СТАТУТ Державної акціонерної компанії "Хліб України"" [ĐIỀU LỆ Công ty Cổ phần Nhà nước "Bánh mì Ukraina"]. Cổng thông tin Chính phủ (bằng tiếng Ukraina). KMU. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Bread, which is loved, by our neighbors". grazione.ru. ngày 6 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2013.
- ^ "El Tamiz: Bread, cheesecake and a bit of variety". foodychile.com. ngày 14 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2012.
- ^ SaltShaker Spanish-English-Spanish Food & Wine Dictionary: Second Edition
- ^ M.F.K. Fisher, El arte de comer.
- ^ Katz, Solomon. Charles Scribner's Sons . New York: Gale. tr. 531.
- ^ Sosland, Josh (ngày 18 tháng 9 năm 2013). "Bread market remains challenging". Food Business News.
- ^ Gold, Rozanne (ngày 31 tháng 10 năm 2012). "Why Bread Is No Longer Rising". HuffPost.
- ^ Karizaki, Vahid Mohammadpour (tháng 3 năm 2017). "Ethnic and traditional Iranian breads: different types, and historical and cultural aspects". Journal of Ethnic Foods. 4 (1): 8–14. doi:10.1016/j.jef.2017.01.002.
- ^ Alan Davidson (ngày 21 tháng 8 năm 2014). The Oxford Companion to Food. OUP Oxford. tr. 692–. ISBN 978-0-19-104072-6.
- ^ Jim Smith (ngày 15 tháng 4 năm 2008). Technology of Reduced Additive Foods. John Wiley & Sons. tr. 113–. ISBN 978-1-4051-4795-8.
- ^ Bruce Kraig; Colleen Taylor Sen (ngày 9 tháng 9 năm 2013). Street Food Around the World: An Encyclopedia of Food and Culture. ABC-CLIO. tr. 301–. ISBN 978-1-59884-955-4.
- ^ "Traditions". FAB. ngày 1 tháng 10 năm 2013.[nguồn không đáng tin?]
- ^ "Pinoy Tasty arrives". ABS-CBN News and Current Affairs. ngày 6 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2011.
- ^ "Pinoy Tasty, generic bread, debuts at P36 per loaf". GMA News and Public Affairs. ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2011.
- ^ Ngữ Yên (ngày 20 tháng 10 năm 2012). "Bánh mì "tàu ngầm" Sài Gòn nức tiếng thế giới". VietNamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2021.
- ^ Trương Điện Thắng (ngày 4 tháng 2 năm 2022). "Bánh mì Việt Nam trên đường lưu lạc". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2024.
- ^ Thái Lê (ngày 28 tháng 5 năm 2023). "Củ khoai và những ổ bánh mì". Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2024.
- ^ Hill, Kayla (ngày 16 tháng 6 năm 2020). "How Vietnam's meaty banh mi sandwich went global – and then went vegan to thrill yet more fans". Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2024.
- ^ Phạm Vũ (ngày 12 tháng 3 năm 2022). "Bánh mì Việt ký sự - Kỳ 7: Đi tìm hương vị 'Banh mi Saigon'". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2024.
- ^ Vũ Đoàn (ngày 8 tháng 4 năm 2020). "Những thông tin bất ngờ về bánh mì Việt Nam- món ăn nổi tiếng thế giới". Pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2021.
- ^ Cụm nguồn nói về từ lóng "bánh mì đêm":
- "Rất khó dẹp nạn "bánh mì" đêm". VnExpress. ngày 23 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
- ""Bánh mì" đêm - mại dâm nam trên đường phố". VnExpress. ngày 22 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
- Ngọc Thiện (ngày 20 tháng 10 năm 2013). "Bi kịch đời trai bán thân cho... bóng". Công an nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn trong văn chương:
- Lê Văn Nghĩa (ngày 11 tháng 6 năm 2017). "Chuyện xưa - chuyện nay: Bánh mì Sài Gòn trong thơ". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
- "Bánh mì Sài Gòn đi vào văn chương". Tạp chí Công Thương. ngày 21 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2024.
- Quyết Đại Ka (ngày 17 tháng 8 năm 2014). "Ca dao tục ngữ thời hiện đại (phần 59)". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn trong điện ảnh và truyền hình:
- Song Văn; Đào Hà (ngày 2 tháng 10 năm 2020). "Đưa bánh mì Việt lên phim truyền hình". PLO. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2021.
- Văn Tuấn (ngày 6 tháng 6 năm 2019). ""Vua bánh mì" phiên bản Việt quy tụ dàn diễn viên đình đám". Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- Nguyen Quy (ngày 13 tháng 4 năm 2019). "Netflix series on Asian street food focuses on Saigon". VnExpress (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2021.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn trong âm nhạc:
- Mạnh Hảo (ngày 25 tháng 3 năm 2020). "Bài hát "Tôi yêu bánh mì Sài Gòn" gây ấn tượng trên cộng đồng mạng". Nhân Dân. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
- Tiến Vũ (ngày 25 tháng 8 năm 2021). "Bánh mì Sài Gòn, đặc biệt thương nhau..." Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2021.
- Thiện Quang (ngày 17 tháng 3 năm 2023). ""Cuộc chiến bánh mì" của nhạc Việt: Đạt G - Phúc Du, ai đỉnh hơn?". Kinh tế & Đô thị. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2021.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn trong hội họa:
- Trang Thu (ngày 3 tháng 3 năm 2020). "Bộ tranh vẽ bánh mì Việt Nam khiến dân mạng 'phát thèm'". Tiền phong. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2021.
- Huệ Bình (ngày 5 tháng 5 năm 2020). "Bánh mì, phở xuất hiện trong dự án nghệ thuật trực tuyến ở Úc". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2024.
- Bảo Vy (ngày 11 tháng 8 năm 2021). "Đói bụng Sài Gòn ơi: Thèm phở, bánh mì, nhớ bữa cơm gia đình". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2021.
- Dương Lan (ngày 4 tháng 10 năm 2022). "Chàng họa sĩ điển trai Philippines: Bánh mì Việt Nam có thể 'đánh bại' nhiều loại bánh trên thế giới". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2021.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn trong nhiếp ảnh:
- Kim Hồng (ngày 16 tháng 3 năm 2021). "Bức ảnh về chiếc bánh mì Việt Nam thu hút hơn 16.000 lượt yêu thích". Mực Tím. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2024.
- ^ Loạt bài về những tác phẩm được đón nhận nồng nhiệt:
- Huỳnh Phương (ngày 31 tháng 12 năm 2019). "Đạt G hé lộ về ý nghĩa thật của tên bài hát "Bánh mì không" khiến nhiều người té ngửa". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2021.
- Tuyết Hiền (ngày 9 tháng 12 năm 2023). "Phúc Du: "Con trai bà bán bánh mì" đưa niềm cảm hứng về mẹ vào âm nhạc, thành công rực rỡ khi ra E.P đầu tay". Tổ quốc. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
- Thanh Xuân (ngày 16 tháng 3 năm 2021). "Chiếc bánh mì Việt Nam có hơn 16.000 lượt yêu thích". An ninh Thủ đô. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
- ^ Thùy Trang (ngày 22 tháng 11 năm 2022). "Bộ ảnh về bánh mì Việt Nam bị "ném đá" vì phản cảm". Người lao động. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
- ^ Danh sách các nguồn dẫn:
- Mỹ Phương (ngày 24 tháng 3 năm 2020). "Bánh mì Sài Gòn - chiến dịch truyền thông du lịch ẩm thực của TP.HCM". VietnamPlus. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2021.
- Mai Phương; Ngọc Dương (ngày 11 tháng 10 năm 2022). "Hơn 1.000 người tham gia Hội thảo khoa học về Bánh mì Việt Nam". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
- "Ho Chi Minh City organises first-ever banh mi festival". The Nation Thailand (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2024.
- ^ Nguyên Vân (ngày 1 tháng 1 năm 2023). "Đề xuất 24.3 là Ngày bánh mì Việt Nam". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
- ^ Lan Phương (ngày 24 tháng 3 năm 2023). "Ngày Bánh mì Việt Nam (24-3) và những điều thú vị có thể bạn chưa biết". Báo Thanh Hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2024.
- ^ Đăng Nguyên (ngày 24 tháng 3 năm 2020). "Những điều thú vị về tác giả vẽ bánh mì Việt Nam trên Google Doodle". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Banh mi". Từ điển tiếng Anh Oxford. Nhà xuất bản Đại học Oxford. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2021.
- ^ Nguyễn Thủy (ngày 24 tháng 3 năm 2020). "Google Doodle tôn vinh bánh mì Việt Nam". Nông nghiệp Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Banh mi". Merriam-Webster. Encyclopædia Britannica, Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2024.
- ^ "Banh mi". Từ điển tiếng Anh Collins. HarperCollins. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Banh mi". Từ điển Di sản Hoa Kỳ về Ngôn ngữ Anh (ấn bản thứ 5). Houghton Mifflin Harcourt. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
- ^ Pećanac, Marija; Janjić, Zlata; Komarčević, Aleksandar; Pajić, Miloš; Dobanovački, Dušanka; Mišković-Skeledžija, Sanja (2013). "Burns treatment in ancient times". Medicinski Pregled. 66 (5–6): 263–267. PMID 23888738.
- ^ "Ethiopian Injera Recipe". Exploratorium. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2025.
- ^ "Egyptian Pita / Aish Baladi". breakurfast. ngày 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ^ "Egyptian Bread – 'Eesh baladi' – Egyptian Local Bread". www.ahmedhamdyeissa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016.
- ^ Sabrina, Lady (2006). Exploring Wicca: The Beliefs, Rites, and Rituals of the Wiccan Religion. Career Press. tr. 100–. ISBN 978-1-56414-884-1.
- ^ Farbrengen Magazine. "Thought For Food: An Overview of the Seder". AskMoses.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2012.[nguồn không đáng tin?]
- ^ "Eucharist". Encyclopedia Britannica.
- ^ Hazen, Walter (ngày 1 tháng 9 năm 2002). Inside Christianity. Lorenz Educational Press. ISBN 9780787705596. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012.
The Anglican Church in England uses the term Holy Communion. In the Roman Catholic Church, both terms are used. Most Protestant churches refer to the sacrament simply as communion or The Lord's Supper. Communion reenacts the Last Supper that Jesus ate with His disciples before He was arrested and crucified.
- ^ Albury, William R.; Weisz, George M. (2009). "Depicting the Bread of the Last Supper: Religious Representation in Italian Renaissance Society". Journal of Religion and Society. 11: 1–17. CiteSeerX 10.1.1.1079.7883. hdl:1959.11/4457.