Chính sách văn hóa
Chính sách văn hóa (Cultural policy) là tổng thể các hành động, luật pháp và chương trình của chính quyền nhằm điều tiết, bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ về mặt tài chính (hoặc các hình thức khác) cho các hoạt động liên quan đến nghệ thuật và các lĩnh vực sáng tạo như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, khiêu vũ, văn học và làm phim, cùng nhiều lĩnh vực khác và văn hóa, vốn có thể bao gồm các hoạt động liên quan đến ngôn ngữ, di sản và sự đa dạng. Ý tưởng về chính sách văn hóa đã được phát triển tại UNESCO vào những năm 1960. Nhìn chung, điều này bao gồm việc các chính phủ thiết lập các quy trình, phân loại pháp lý, quy định, luật lệ và định chế (như phòng trưng bày nghệ thuật, bảo tàng, thư viện, nhà hát opera) nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự đa dạng văn hóa và các biểu đạt sáng tạo trong một loạt các loại hình nghệ thuật và hoạt động sáng tạo. Như Kevin V. Mulcahy đã quan sát, "chính sách văn hóa bao gồm một loạt các hoạt động rộng lớn hơn nhiều so với những gì được giải quyết trong chính sách nghệ thuật. Trong khi chính sách nghệ thuật bị giới hạn một cách hiệu quả trong việc giải quyết các mối quan tâm về thẩm mỹ (như tài trợ cho các phòng trưng bày nghệ thuật và nhà hát opera), tầm quan trọng của sự chuyển đổi sang chính sách văn hóa có thể được quan sát thấy ở sự nhấn mạnh rõ rệt vào bản sắc văn hóa, việc đánh giá cao tính bản địa và các phân tích về các động lực lịch sử (như bá quyền và chủ nghĩa thực dân)".[1]
Đại cương
Các chính sách văn hóa thay đổi tùy theo từng quốc gia, nhưng nhìn chung chúng nhằm mục đích cải thiện khả năng tiếp cận các hoạt động nghệ thuật và sáng tạo của công dân, đồng thời thúc đẩy các biểu đạt về nghệ thuật, âm nhạc, sắc tộc, ngôn ngữ xã hội, văn học và các hình thức khác của toàn thể nhân dân trong một quốc gia. Ở một số nước, đặc biệt là từ những năm 1970, có sự nhấn mạnh vào việc hỗ trợ văn hóa của các dân tộc bản địa và các cộng đồng bị gạt ra ngoài lề xã hội, cũng như đảm bảo rằng các ngành công nghiệp văn hóa (sản xuất phim hoặc truyền hình) mang tính đại diện cho di sản văn hóa đa dạng và các đặc điểm nhân khẩu học về dân tộc và ngôn ngữ của quốc gia. Chính sách văn hóa có thể được thực hiện ở cấp quốc gia, cấp dưới quốc gia (như các bang của Hoa Kỳ hoặc các tỉnh của Canada), cấp vùng hoặc cấp thành phố (như chính quyền thành phố thành lập một bảo tàng hoặc trung tâm nghệ thuật).
Ở thế kỷ XX, các chính phủ phương Tây tại Anh, Canada, Úc, New Zealand và nhiều quốc gia châu Âu đã phát triển các biện pháp chính sách nghệ thuật nhằm thúc đẩy, hỗ trợ và bảo vệ nghệ thuật, nghệ sĩ và các định chế nghệ thuật. Các sáng kiến chính sách nghệ thuật của các chính phủ này thường có hai mục tiêu: hỗ trợ sự xuất sắc trong nghệ thuật và mở rộng khả năng tiếp cận nghệ thuật của công dân.[2] Hai mục tiêu này - hỗ trợ sự xuất sắc và mở rộng tiếp cận - thường là những sự đánh đổi (trade-offs), vì bất kỳ sự gia tăng nhấn mạnh nào vào một mục tiêu chính sách thường có tác động tiêu cực đến mục tiêu kia.[3] Chính sách văn hóa, mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách của ngay cả những chính phủ hào phóng nhất, lại quản lý một lĩnh vực có độ phức tạp cực lớn. Nó bao gồm "một tập hợp lớn và hỗn tạp các cá nhân và tổ chức tham gia vào việc sáng tạo, sản xuất, trình bày, phân phối, bảo tồn và giáo dục về di sản thẩm mỹ, cũng như các hoạt động giải trí, sản phẩm và cổ vật".[4]
Một chính sách văn hóa nhất thiết phải bao hàm một loạt các hoạt động và thường liên quan đến sự hỗ trợ của công chúng đối với:
- Di sản, các bãi chiến trường và các địa điểm bảo tồn lịch sử.
- Vườn bách thú, vườn bách thảo, vườn cây gỗ mẫu, thủy cung, công viên.
- Thư viện và bảo tàng (mỹ thuật, khoa học, lịch sử).
- Nghệ thuật thị giác (phim, hội họa, điêu khắc, đồ gốm, kiến trúc).
- Nghệ thuật biểu diễn (nhạc giao hưởng, nhạc thính phòng và hợp xướng; nhạc jazz, hip-hop và dân gian, múa ba lê, khiêu vũ thể thao và múa hiện đại, opera và nhạc kịch sân khấu, biểu diễn xiếc, đấu bò và ban nhạc diễu hành).[5]
- Các chương trình nhân văn công cộng (phát thanh truyền hình công cộng, viết lách sáng tạo, thơ ca).
Mục tiêu của dân chủ hóa văn hóa là sự khai sáng về thẩm mỹ, nâng cao phẩm giá và phát triển giáo dục của đông đảo người dân. "Phổ biến là khái niệm then chốt với mục đích thiết lập cơ hội bình đẳng cho tất cả công dân tham gia vào các hoạt động văn hóa do công chúng tổ chức và tài trợ".[6] Để thúc đẩy mục tiêu này, các buổi biểu diễn và triển lãm có chi phí thấp; giáo dục nghệ thuật công cộng thúc đẩy sự bình đẳng về cơ hội thẩm mỹ, các định chế quốc gia tổ chức lưu diễn và biểu diễn tại nơi làm việc, nhà nghỉ dưỡng và các khu chung cư. Yếu tố "dân chủ hóa văn hóa" là một cách tiếp cận từ trên xuống nhằm ban bố một số hình thức chương trình văn hóa được coi là hàng hóa công cộng. Rõ ràng, một mục tiêu như vậy dễ bị chỉ trích vì cái được gọi là chủ nghĩa tinh hoa văn hóa (Cultural elitism), đó là giả định rằng một số biểu đạt thẩm mỹ vốn dĩ vượt trội hơn, ít nhất là được xác định bởi những người sành sỏi quan tâm đến việc thủ đắc vốn văn hóa.[7]
Chính sách văn hóa tại Việt Nam có lịch sử hình thành gắn liền với tiến trình cách mạng và xây dựng đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và hành động chính trị nhằm định hướng phát triển văn hóa đã được đặt nền móng từ rất sớm. Dấu mốc bắt đầu sớm nhất và mang tính cương lĩnh đầu tiên về chính sách văn hóa ở Việt Nam là vào tháng 2 năm 1943 là thời điểm Ban Thường vụ Trung ương Đảng thông qua bản Đề cương về văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo. Văn bản này đã xác định ba nguyên tắc vận động của chính sách văn hóa cách mạng gồm: Dân tộc-Khoa học-Đại chúng đã đặt ra khung pháp lý và tư tưởng cho mọi hoạt động văn hóa, nghệ thuật và giáo dục của Việt Nam sau này. Kể từ dấu mốc năm 1943, chính sách văn hóa Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng khác, tiêu biểu như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và mới đây nhất là các chủ trương về phát triển công nghiệp văn hóa trong thời kỳ hội nhập.
Chú thích
- ^ Mulcahy, Kevin V. 2006. "What is Cultural Policy?"
- ^ Throsby, David. The Economics of Cultural Policy. Cambridge University Press, 2010. p. 59-63
- ^ Throsby, David. The Economics of Cultural Policy. Cambridge University Press, 2010. p. 59-63
- ^ Wyszomirski, Margaret J. 2002. "Arts and Culture." in The State of Nonprofit America. ed. Lester M. Salamon. Washington D.C.: Brookings University Press.
- ^ Yoshida, Yukihiko, Jane Barlow and Witaly Osins, ballet teachers who worked in postwar Japan, and their students, Pan-Asian Journal of Sports & Physical Education, Vol.3(Sep), 2012.
- ^ Duelund, Peter. 2001. "Cultural Policy in Denmark." The Journal of Arts Management, Law and Society. 31: 34-57.
- ^ Bourdieu, Pierre. 1984. Distinction: A Social Critique of the Judgment of Taste. Cambridge: Harvard University Press.
Tham khảo
- Madden, C, 2009, 'The Independence of Government Arts Funding: A Review', D'Art Topics in Arts Policy, No. 9, International Federation of Arts Councils and Culture Agencies, Sydney, www.ifacca.org/themes
- Marcello Sorce Keller, "Why is Music so Ideological, Why Do Totalitarian States Take It So Seriously: A Personal View from History, and the Social Sciences", Journal of Musicological Research, XXVI(2007), no. 2–3, pp. 91–122;
- Marja Heimonen & David G. Hebert, "Pluralism and Minority Rights in Music Education: Implications of the Legal and Social Philosophical Dimensions Lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại Wayback Machine," Visions of Research in Music Education, Vol.15 (2010).
- Mario d'Angelo, Paul Vesperini, Cultural Policies in Europe (a series in four volumes) : 1) A comparative Approach 2) Regions and Decentralization 3) Method and Practice of Evaluation 4) Local Issues, Council of Europe Publishing, Strasbourg, 1999–2001.
- Philippe Poirrier (Ed.), Pour une histoire des politiques culturelles dans le monde, 1945-2011, La Documentation française, Paris, 2011.
- Dave O'Brien, Cultural Policy: Management, Value and Modernity in the Creative Industries, Routledge, Abingdon, 2014.
- Tony Bennett, Culture, A reformer's Science, SAGE, London, 1998.
- Jim McGuigan, Rethinking Cultural Policy, Open University Press, Milton Keynes, 2004.