Bước tới nội dung

Chim bằng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chim Bằng
Cánh chim Bằng trong Kyoka Hyaku Monogatari - Nhật Bản
Thực thể tương tựZiz (Thần thoại Do Thái), Roc (Ba Tư/Thần thoại Ả Rập)
Văn hóa dân gianThần thoại Trung Hoa
Chứng thực lần đầu''Nam Hoa kinh'' (Trang Tử)
Tên gọi khácDapeng, Kun, đại bằng
Quốc giaTrung Quốc
Chi tiếtCá biến thành chim quái vật khổng lồ

Chim bằng (tiếng Trung: ; bính âm: péng) hay đại bằng (大鵬; dàpéng) là một loài chim trong truyền thuyết, được cho là có kích thước tương đối lớn, và hình dạng có nhiều điểm giống một số loài trong họ Ưng. Tên gọi trong tiếng Việt nhiều khả năng xuất phát từ tiếng Hán 大鵬 đại bằng hay 鹏 (giản thể: ; phồn thể: ; bính âm: péng; Wade–Giles: p'eng). Đại bàng xuất hiện trong nhiều truyền thuyết của Việt Nam như Thạch Sanh, trong Nghìn lẻ một đêm của văn hóa Ả Rập.

Hình tượng trong văn hóa Á Đông

Trong văn học Trung Quốc, thiên thứ nhất của Nam Hoa kinh, (逍遙遊; xiāoyáoyóu; "Tiêu dao du") kể rằng: "Biển bắc có con cá tên là Côn, lớn không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim tên là Bằng, lưng của con chim Bằng lớn cũng không biết mấy ngàn dặm. Khi con chim Bằng ấy vỗ cánh bay lên cao, hai cánh nó lớn như đám mây che cả bầu trời. Loài chim ấy, khi biển động, sóng lớn gầm gào, nó liền chuyển về biển nam. Chỗ biển nam ấy là một cái ao vĩ đại do thiên nhiên tạo thành".

Theo thiên Tiêu dao du trong sách Trang Tử (Nam Hoa Kinh) có truyện ngụ ngôn kể rằng chim bằng là một giống chim to lớn, đập cánh làm động nước trong ba ngàn dặm, cưỡi gió mà bay lên chín ngàn dặm.[1]

Phân tích và diễn giải

Nhiều học giả nghiên cứu "Trang Tử" đã tranh luận về câu chuyện chim Bằng. Lian Xinda gọi đó là "hình ảnh gây tranh cãi nhất trong văn bản, vốn đã thu hút nhiều cách diễn giải trái ngược nhau trong suốt mười bảy thế kỷ qua."[2]

Trong giới học thuật truyền thống Trung Quốc, cách giải thích tiêu chuẩn của Bằng là "lý thuyết bình đẳng" của Guo Xiang (mất năm 312 CN), người đã biên tập và chú giải văn bản "Trang Tử" hiện có. Lời bình luận của Guo nói rằng,

Chuyến bay của chim thần thoại có thể kéo dài nửa năm và không ngừng nghỉ cho đến khi đến được Hồ Thiên Đường. Chuyến bay của một loài chim nhỏ chỉ mất nửa buổi sáng và dừng lại khi bay từ cây này sang cây khác. Xét về khả năng, chúng có sự khác biệt. Nhưng về khả năng thích nghi với tự nhiên, chúng lại giống nhau.[3]

Một số học giả Trung Quốc đưa ra những cách giải thích khác. Tì-kheo Chi Độn (314-366 CN) cho rằng việc chim Bằng bay đi có nghĩa là đạt được sự mãn nguyện cao nhất.[4]

Giờ đây, thứ lang thang tự do và thoải mái rõ ràng là tâm trí của Bậc Giác Ngộ. Trang Tử đã nói về Đại Đạo và diễn đạt ý nghĩa của mình bằng hình ảnh chim Bằng và chim cút. Bởi vì con đường sống của chim Bằng trải dài vô tận, nó bỏ qua sự thỏa mãn [tinh thần] vượt ra ngoài thân xác. Bởi vì chim cút ở gần, nó cười nhạo những gì ở xa và tự mãn trong lòng. Còn Bậc Giác Ngộ thì trực tiếp lên trời và vui vẻ lang thang vô tận trong tự do.[5]

Thiền sư Hanshan Deqing (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., 1546–1623), một bậc thầy Phật giáo Thiền tông, cũng tuyên bố rằng chim Bằng là hình ảnh của bậc hiền triết Đạo giáo, và cho rằng chuyến bay của chim không phải do gió tích tụ mà do sự tích tụ sâu sắc của "đức; sức mạnh".[6]

Trong giới học thuật hiện đại, một số học giả bác bỏ cách hiểu "lý thuyết bình đẳng" của Quách. Liên phân biệt các cách diễn giải đương thời giữa việc Trang Tử là người theo chủ nghĩa hoài nghi cực đoan và/hoặc chủ nghĩa tương đối.

Chim bằng có thể được hiểu theo hai cách: hoặc là hình ảnh của sự tự do, thậm chí là hiện thân của lý tưởng Đạo giáo cao nhất, điều này ủng hộ lập luận rằng Trang Tử ưu tiên một quan điểm nhất định và do đó không phải là người theo chủ nghĩa tương đối theo nghĩa cứng nhắc của thuật ngữ này; hoặc nó được coi là một sinh vật không hơn không kém gì ve sầu và những con chim nhỏ, điều này minh họa cho quan điểm tương đối rằng mọi quan điểm đều bình đẳng.[7]

Julian Pas cũng đồng ý rằng "bậc hiền triết đích thực được ví như một con chim khổng lồ."[8] Angus Charles Graham coi chim bằng "vượt lên trên những quan điểm hạn hẹp của thế tục."[9] Allinson nhận thấy "rất rõ ràng và minh bạch rằng quan điểm của loài chim lớn, quan điểm của ve sầu và chim bằng không được coi là có giá trị ngang nhau."[10] Karen Carr và Philip J. Ivanhoe tìm thấy "những lý tưởng tích cực" trong biểu tượng chim bằng, tượng trưng cho "sinh vật thần thoại vượt lên trên những mối quan tâm trần tục của thế gian."[11] Brian Lundberg cho rằng Trang Tử sử dụng hình ảnh này để thúc giục chúng ta "vượt lên trên những quan điểm 'hạn hẹp' và hạn chế."[12] Eric Schwitzgebel giải thích, "Là những sinh vật nhỏ bé, chúng ta không thể hiểu được những điều vĩ đại như bằng (và phần còn lại của "Trang Tử"?)."[13] Steve Coutinho mô tả chim bằng là "một loài sống ẩn dật, lang thang ngoài phạm vi những điều quen thuộc", trái ngược với những loài chim nhỏ bé "không thể nào hiểu được những gì nằm hoàn toàn ngoài giới hạn trải nghiệm đời thường của chúng".[14] Scott Cook viết: "Ban đầu, chúng ta bị Trang Tử dẫn dắt một cách gần như vô hình vào sự say mê thiếu suy nghĩ đối với loài chim."[15] Lian kết luận rằng bức tranh chim bằng là "một ví dụ đầy cảm hứng về việc vươn lên và vượt lên trên mọi giới hạn, hình ảnh này được sử dụng để mở rộng tầm nhìn của những người có tư duy hạn hẹp; do đó, chức năng của nó mang tính trị liệu hơn là hướng dẫn."[16] Bryan W. Van Norden gợi ý, "Tác động có thể xảy ra của đoạn văn này đối với người đọc là sự kết hợp giữa sự kinh ngạc và sự hoang mang."[17]

Chim bằng của Trang Tử đã trở thành một ẩn dụ văn học nổi tiếng. Hai ví dụ ban đầu là Shen yi jing (神異經; "Kinh điển về những điều kỳ diệu của thần thánh") của Đông Phương Sóc (154 TCN – 93 CN) và Thủy kinh chú (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).).[18]

Tham khảo

  1. ^ Watson, Burton, tr. (1968), The Complete Works of Chuang Tzu, Columbia University Press, pp. 29-31.
  2. ^ Lian Xinda (2009), "Zhuangzi the Poet: Re-Reading the Peng Bird Image", Dao: A Journal of Comparative Philosophy 8.3, 234.
  3. ^ Tr. Wing-Tsit Chan (1963), A Source Book in Chinese Philosophy, Princeton University Press, 326.
  4. ^ Lian (2009), 234.
  5. ^ Tr. Charles Holcombe (1994), In the Shadow of the Han: Literati thought and society at the beginning of the Han, University of Hawaii Press, p. 115.
  6. ^ Lian (2009), 239.
  7. ^ Lian (2009), 235, see 239-241.
  8. ^ Julian Pas (1981), "Chuang Tzu's Essays on 'Free Flight Into Transcendence' and 'Responsive Rulership'", Journal of Chinese Philosophy 8.4, 482.
  9. ^ A.C. Graham (1981), Chuang-Tzu: The Inner Chapters, George Allen & Unwin, 43.
  10. ^ Allinson (1989), 44.
  11. ^ Karen Carr and Philip Ivanhoe (2000), The Sense of Antirationalism: The Religious Thought of Zhuangzi and Kierkegaard, Seven Bridges Press, 100.
  12. ^ Brian Lundberg (1998), "A Meditation on Friendship," in Wandering at Ease in the Zhuangzi, ed. by Roger Ames, SUNY, 214.
  13. ^ Eric Schwitzgebel (1996). "Zhuangzi's Attitude Toward Language and His Skepticism," in Essays on Skepticism, Relativism, and Ethics in the Zhuangzi, ed. by Paul Kjelberg and Philip Ivanhoe, SUNY Press, 71.
  14. ^ Steve Coutinho (2004), Zhuangzi and Early Chinese Philosophy: Vagueness, Transformation and Paradox, Ashgate, 69-70.
  15. ^ Scott Cook (2003), "Harmony and Cacophony in the Panpipes of Heaven," in Hiding the World in the World; Uneven Discourses on the Zhuangzi, SUNY Press, 70.
  16. ^ Lian (2009), 233.
  17. ^ Van Norden, Bryan W. (1996), "Competing Interpretations of the Inner Chapters of the Zhuangzi," Philosophy East and West 46 (2):247-268.
  18. ^ Victor H. Mair, ed. (2002), The Columbia history of Chinese literature, Columbia University Press, p. 298.