Du lịch chậm rãi
Du lịch chậm rãi (Slow tourism) là một lựa chọn du lịch thay thế mang tính đối trọng trực tiếp với mô hình du lịch đại trà (Mass tourism).[1] Du lịch chậm rãi được xem là một nhánh quan trọng thuộc hệ sinh thái du lịch bền vững, khác biệt hoàn toàn với các dòng du lịch thịnh hành và đặc biệt nhấn mạnh vào sự nâng cao nhận thức cá nhân của chính du khách.[2] Đặc trưng của loại hình này là việc giảm bớt việc di chuyển cơ động, hối hả, cập rập (theo kiểu "cưỡi ngựa xem hoa") và dành thời gian thỏa đáng, đầy đủ để khám phá lịch sử, văn hóa địa phương, đồng thời tích cực hỗ trợ phong trào bảo vệ môi trường.[3] Khái niệm du lịch chậm rãi khởi nguồn từ phong trào Thực phẩm chậm (Slow Food) của Ý và phong trào Cittaslow (Thành phố nhịp chậm).[2][4][5]
Đại cương
Robinson (2011) khẳng định rằng trọng tâm của ý nghĩa và khái niệm du lịch nhịp chậm dường như là sự chuyển dịch trọng tâm từ việc chạy theo số lượng và tốc độ trải nghiệm trong một kỳ nghỉ sang đi sâu vào chất lượng của những trải nghiệm ít hơn nhưng mang lại nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn.[6] Một trải nghiệm mà du khách có thể được định nghĩa là "chậm rãi" khi mục đích chính là khám phá các đặc điểm chi tiết của một địa phương trong khi vẫn tôn trọng cộng đồng bản địa và cư dân nơi đó, và thực hiện điều này mà không rơi vào trạng thái hoài niệm quá khứ mù quáng hay sa vào các hình thức nghệ thuật thương mại rẻ tiền.[7] Những du khách chọn du lịch chậm sẵn sàng giảm nhịp di chuyển chậm lại vì lợi ích của môi trường và để tìm kiếm những trải nghiệm chân thực nhất. Các khía cạnh đáng kể để định nghĩa du lịch chậm rãi bao gồm, di chuyển chậm rãi, thong thả (thông qua những chuyến dạo bộ), dừng lâu hơn tại điểm đến và dùng các loại thực phẩm chậm.
Dickinson và Lumsdon (2010) duy trì quan điểm rằng vận tải thong thả nên ngụ ý việc di chuyển "không vội vã", hối hả không bị ràng buộc bởi các lịch trình thời gian khắt khe và các lộ trình tham quan cứng nhắc.[5] Các điểm đến chậm đề cập đến các Thành phố nhịp chậm (slow cities), nơi cung cấp cho du khách khả năng tập trung vào việc đắm mình trong cuộc sống bản địa.[6] Du khách có thể được sắp xếp lưu trú cùng một gia đình địa phương (homestay) để họ có thể học hỏi thông qua việc dành thời gian chậm rãi và thong thả với người dân, hoặc họ có thể lựa chọn các khách sạn sinh thái. Thành phần hoạt động trong bất kỳ loại hình du lịch chậm nào cũng mang tính "dựa trên tri thức và học hỏi" hơn là "dựa trên sự giải trí thuần túy", do đó du lịch chậm cũng có thể mang lại một trải nghiệm sâu sắc vì du khách có thể chủ động tư duy lại về cuộc sống hiện đại và ý nghĩa của thời gian.[1] Dựa trên các khía cạnh được nêu bật ở trên, Caffyn (2012) đã phác thảo các nguyên tắc sau của du lịch chậm rãi:[4][8][9]
- Giảm thiểu khoảng cách di chuyển;
- Tối đa hóa thời gian có sẵn cho chuyến đi;
- Thư giãn tâm trí;
- Ăn uống tại các nhà hàng địa phương;
- Mua sắm tại các chợ địa phương hoặc trực tiếp từ các nhà sản xuất;
- Học hỏi những kỹ năng mới;
- Giảm thiểu sự cơ giới hóa và công nghệ;
- Trải nghiệm tính chân thực;
- Giảm thiểu dấu chân carbon.
Danh sách này không mang tính thấu triệt hoàn toàn, nhưng càng nhiều yếu tố này hiện diện thì kỳ nghỉ đó càng được đánh giá là "chậm rãi" hơn.
Sự phát triển
Du lịch chậm rãi là một hệ quả phát triển của phong trào sống chậm, vốn nảy sinh từ phong trào thực phẩm chậm do Carlo Petrini thành lập tại Ý vào năm 1986.[2][4][5] Du lịch chậm phát triển như một hình thức du lịch mới trong thập niên 1990 với sự ra đời của phong trào Cittaslow, đóng vai trò dẫn dắt trong sự phát triển của du lịch chậm bằng cách cung cấp các điểm đến thay thế được chứng nhận nhằm thúc đẩy nhịp độ và lối sống chậm rãi hơn.[2][4] Du lịch chậm rãi phát triển theo những cách khác nhau tại các vùng miền và thành phố khác nhau, và phát triển đầy đủ hơn ở những quốc gia có sự tập trung cao của các thành phố được thiết kế theo chuẩn cittaslow.[4] Vào năm 2007, World Travel Market và Euromonitor đã xác định du lịch chậm rãi là một xu hướng mới cho khu vực Tây Âu, đồng thời quan sát thấy xu hướng này đang lan rộng sang Hoa Kỳ và Mỹ Latinh. Du lịch chậm được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng về mức độ phổ biến, trở thành một sự thay thế cho các kỳ nghỉ truyền thống với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm ước tính khoảng 10%.[4]
Động lực
Nghiên cứu về "Động lực và mục tiêu của du lịch chậm rãi" đã khám phá ra các động lực du lịch chậm rãi phổ biến gồm các yếu tố thư giãn, tự phản tỉnh, thoát ly, tìm kiếm sự mới lạ, sự gắn kết và khám phá. Mọi người tham gia vào các chuyến đi chậm để tìm kiếm trải nghiệm mới lạ thông qua các chiều thời gian mới, địa điểm mới và những con người mới, mang lại cho họ cảm giác hưng phấn, phiêu lưu và kích thích cảm xúc.[3] Sự trân trọng đối với đặc sản và hương vị là trọng tâm của trải nghiệm du lịch chậm rãi và đồ ăn thức uống có thể được coi là một yếu tố thu hút. Các yếu tố văn hóa như di sản và văn hóa địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy. Những người đi du lịch chậm rãi có các động lực mạnh mẽ, họ tránh xa sự căng thẳng và môi trường ồn ào, hối hả, thay vào đó tập trung vào các hoạt động có sự tham gia của cả cơ thể và tinh thần (chẵng hạn như đi bộ đường dài, đi xe đạp).[6] Mong muốn tách rời bản thân cả về thể chất lẫn tinh thần khỏi các thói quen và nghĩa vụ hàng ngày có thể là một động lực du lịch chủ đạo.[3] Phát triển cá nhân là một động lực khác. Bằng cách sống chậm lại trong bối cảnh xã hội và thể chất mới, người lữ hành cũng có thể muốn xác định vị thế bản thân, có được những thấu hiểu sâu sắc hơn về chính mình, nâng cao cảm giác phát triển bản thân và trải nghiệm tính chân thực cá nhân.[6] Yurtseven và Kaya (2011) xác định ba nhóm du khách đến thăm một điểm đến cittaslow: du khách chậm "tận tâm", "quan tâm" và "ngẫu nhiên", trong khi Smith (2012) cùng Dickinson, Robbins và Lumsdon (2010) gọi những du khách tận tâm và có động lực môi trường là "bình chân như vại" (hard slow) và những người khác thích các khía cạnh của du lịch chậm là "chầm chậm" (soft slow).[10]
Tương quan
Du lịch chậm rãi là một đáp ứng đối với các khía cạnh tiêu cực của loại hình du lịch đại trà, mang lại thực chất và nội dung thực sự cho khái niệm du lịch. Nó làm gia tăng giá trị tính chân thực của trải nghiệm tại điểm đến, trong khi du lịch "cấp tốc" liên quan đến việc tham quan các điểm đến mang tính thương mại hóa trong giới hạn thời gian eo hẹp và không tạo điều kiện cho sự tận hưởng điểm đến một cách sâu sắc. Hơn nữa, du lịch đại trà gây áp lực lên môi trường nhân văn, tự nhiên và văn hóa, đồng thời có dấu chân sinh thái cao.[11] Để đạt được vốn văn hóa, những người du lịch chậm rãi sẵn lòng trở thành những người tham gia vào quá trình chuẩn bị hoặc sản xuất, thay vì chỉ là những khán giả đơn thuần.[12]
Moira và các cộng sự tuyên bố rằng những người du lịch chậm sẽ:[11]
- Tham quan các di tích văn hóa và tôn giáo của khu vực hoặc du lịch hành hương;
- Thưởng thức các món đặc sản địa phương và tìm hiểu về lịch sử cũng như kỹ thuật sản xuất của chúng thông qua loại hình du lịch ẩm thực;
- Thử các loại rượu và đồ uống địa phương thông qua du lịch rượu vang (Enotourism);
- Tìm hiểu hoặc tham gia vào các hoạt động nông nghiệp và thực hành du lịch nông nghiệp khi đến thăm các trang trại;
- Tham quan các đơn vị sản xuất địa phương thông qua du lịch công nghiệp;
- Thực hiện các chuyến đi về với thiên nhiên thông qua du lịch sinh thái;
- Đi bộ đường dài (hiking);
- Đi xe đạp (biking);
- Chèo xuồng vượt thác (rafting) tại các hồ và sông.
Xem thêm
- Sống chậm
- Du lịch bền vững
- Thu hút khách du lịch
- Phát triển bền vững
- Bảo vệ môi trường
- Du lịch di sản
- Chuyến tham quan
Chú thích
- ^ a b Shang W, Yuan Q, Chen N. Examining Structural Relationships among Brand Experience, Existential Authenticity, and Place Attachment in Slow Tourism Destinations. Sustainability. 2020; 12(7):2784. https://doi.org/10.3390/su12072784
- ^ a b c d "Research study on Slow Tourism international trends and innovations". euneighbours.eu. Med Pearls. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
- ^ a b c Oh, Haemoon; Assaf, George; Baloglu, Seyhmus (2014). "Motivations and Goals of Slow Tourism". Journal of Travel Research. 55 (2): 205–219. doi:10.1177/0047287514546228. S2CID 154932419.
- ^ a b c d e f Lowry, Linda L.; Lee, Misoon (2016). "CittaSlow, Slow Cities, Slow Food: Searching for a Model for the Development of Slow Tourism". Travel and Tourism Research Association: Advancing Tourism Research Globally. 40.
- ^ a b c Sonia, Khan. “How slow is ‘slow’. Dilemmas of slow tourism.” TEAM Journal of Hospitality and Tourism, vol. 11, 1, 2015, pp. 39-49. Researchgate
- ^ a b c d Robinson, Peter; Heitmann, Sine; Dieke, Peter U. C. (2011). Research Themes for Tourism. CABI. ISBN 978-1845936983.
- ^ Matos, Rafael (2004). Weiermair, Klaus; Mathies, Christine (biên tập). Can slow tourism bring new life to alpine regions?" The Tourism and Leisure Industry: Shaping the Future. The Haworth Hospitality Press. tr. 93-104. ISBN 078902103X.
- ^ Conway, Dennis; Timms, Benjamin (2015). "Are Slow Travel and Slow Tourism Misfits, Compadres or Different Genres?". Tourism Recreation Research. 37: 71–76. doi:10.1080/02508281.2012.11081689. S2CID 154152360.
- ^ Tomić, Slavica; Leković, Ksenija; Marić, Dražen (2018). "Goals of consumers in the context of slow tourism". Marketing. 49 (3): 172–180. doi:10.5937/markt1803172T.
- ^ Guiver, Jo; McGrath, Peter (2016). "Slow tourism: Exploring the discourses". Dos Algarves: A Multidisciplinary e-Journal. 27: 11-34. doi:10.18089/DAMeJ.2016.27.1.
- ^ a b Moira, Polyxeni; Mylonopoulos, Dimitrios; Kondoudaki, Aikaterini (2017). "The Application of Slow Movement to Tourism: Is Slow Tourism a New Paradigm?". Journal of Tourism and Leisure Studies. 2 (2): 1–10. doi:10.18848/2470-9336/CGP/v02i02/1-10.
- ^ Losada, Nieves; Mota, Gonçalo (2019). "Slow down, your movie is too fast': Slow tourism representations in the promotional videos of the Douro region (Northern Portugal)". Journal of Destination Marketing and Management. 11: 140–149. doi:10.1016/j.jdmm.2018.12.007. S2CID 134846102.