Du lịch chiến tranh

Du lịch chiến tranh là du lịch giải trí đến những khu vực chiến tranh đang diễn ra hoặc đã từng diễn ra để tham quan hoặc nghiên cứu lịch sử. Thuật ngữ tiếng Anh war tourism có thể được dùng theo lối miệt thị để mô tả việc tìm kiếm cảm giác mạnh ở những nơi nguy hiểm và bị cấm. Năm 1988, P. J. O'Rourke áp dụng ý nghĩa miệt thị này cho các phóng viên chiến tranh.[1]
Chiến tranh thời kỳ đầu

Họa sĩ và phóng viên chiến tranh như Willem van de Velde được coi là những du khách chiến tranh đầu tiên. Năm 1653, Van de Velde đi thuyền nhỏ đến sát trận hải chiến Hà Lan-Anh để quan sát và phác thảo nhiều bức vẽ ngay tại chỗ.[2]
Chiến tranh Krym
Trong Chiến tranh Krym, Mark Twain dẫn đầu đoàn du khách đến thăm thành phố Sevastopol bị tàn phá. Ông thậm chí còn trách mắng những người cùng đi vì đã lấy trộm mảnh đạn làm kỷ niệm. Thân vương Menshikov đã mời các quý bà thành Sevastopol đến xem trận Alma từ ngọn đồi gần đó. Năm 1854, Fanny Duberly theo phu quân đến Krym và cùng ở lại suốt thời gian đó bất chấp các chỉ huy phản đối, trong đó có Lãnh chúa Lucan. Bà là tâm điểm chú ý khi là phụ nữ duy nhất ở tiền tuyến. Duberly còn được báo trước về kế hoạch tấn công để bà có cơ hội sắp xếp vị trí quan sát thuận lợi mà chứng kiến tại chỗ.[cần dẫn nguồn]
Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Bull Run thứ nhất hay trận Manassas thứ nhất diễn ra tại Quận Prince William, Virginia, gần thành phố Manassas ngày 21 tháng 7 năm 1861. Đây là trận đánh lớn trên bộ đầu tiên trong Nội chiến Hoa Kỳ. Nghĩ rằng phe Liên minh sẽ giành chiến thắng dễ dàng, giới thượng lưu ở Washington gần đó như các nghị sĩ và gia quyến đã tổ chức dã ngoại để chứng kiến trận chiến. Khi quân đội Liên minh bị đẩy lùi, dân chúng hoảng loạn chạy xe ngựa chặn cả đường về Washington. Frank Leslie mô tả sự kiện này trong tranh khắc gỗ Lính thời Nội chiến.[3] Trận Gettysburg cũng được một số du khách theo dõi tận mắt,[4] trong số đó có Arthur Lyon Fremantle.
Cuối thế kỷ 19
Thomas Cook bắt đầu quảng bá các tour du lịch đến chiến trường đang diễn ra Chiến tranh Boer thứ hai. Nhiều đại lý du lịch khác quảng cáo chiến trường Tugela và Ladysmith dễ tiếp cận và đẹp như tranh vẽ. Các nhóm du khách cũng theo sát Chiến tranh Pháp-Phổ khi đến thăm chiến trường ngay sau kết thúc cuộc chiến. Việc này đã bị Alfred Milner, The Observer và Punch chỉ trích.[5]
Năm 1854, Henry Gaze là một trong những đại lý du lịch đầu tiên thiết kế tour du lịch đến chiến trường Waterloo. Năm 1886, Hiệp hội Du lịch Bách khoa cũng tổ chức cho giáo viên, học viên đi Waterloo nằm trong mục đích giáo dục. Theo cẩm nang du lịch Thomas Cook năm 1913, sự nổi tiếng ngày càng tăng của Waterloo như một điểm thu hút du khách đã khiến nhiều kẻ lừa đảo mạo xưng đã tham gia trận chiến. Cẩm nang cũng nhấn mạnh đến thị trường sôi nổi buôn bán di vật và đồ lưu niệm liên quan đến trận đánh.[6]
Chiến tranh thế giới thứ nhất
Bất chấp chỉ trích, du lịch chiến tranh vẫn tiếp tục phát triển theo tốc độ của ngành du lịch nói chung. Đầu Thế chiến I đã thấy rõ rằng các chiến trường sẽ thu hút du khách đáng kể khi chiến tranh kết thúc. Mặc dù có ghi nhận các trường hợp du lịch chiến tranh ngay trong Thế chiến I nhưng chắc chắn vẫn bị hạn chế do chính quyền Pháp phản đối.[7]
Sau khi chiến tranh kết thúc, các hoạt động săn tìm chiến lợi phẩm trước đó được thay thế bằng các chuyến đi theo kiểu hành hương. Sĩ quan tình báo Anh Hugh Pollard mô tả Vùng Ypres Salient như một thánh địa chứa rất nhiều mộ phe Entente. Nhiều cựu binh cũng có chung suy nhĩ như vậy. Du lịch tâm linh của Anh giáo và Công giáo ngày càng gắn liền với du lịch chiến tranh giữa hai thế chiến. Tháng 9 năm 1934, 100.000 cựu binh Công giáo cả hai phe đã đến Lourdes để cầu nguyện cho hòa bình. Một lượng lớn du khách Anh giáo tham gia tour du lịch đến những chiến trường diễn ra chiến dịch Palestine. Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Ý cũng trở thành những điểm đến du lịch chiến tranh phổ biến.[8]
Nhiều công ty du lịch khác khác nhau đã xuất bản lượng lớn sách hướng dẫn chiến trường càng thúc đẩy gia tăng số tour du lịch chiến tranh. Nghiên cứu năm 1936 chỉ ra thực tế rằng phần lớn du khách trong giai đoạn này do tò mò thúc đẩy tham gia du lịch chiến tranh hoặc tỏ lòng kính trọng với những người thân hy sinh trong chiến tranh.[9] Ngày nay, du lịch chiến trường Thế chiến I thu hút hàng chục nghìn du khách đến những nơi như Mặt trận phía Tây và Dardanellia.[10]
Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau khi Thế chiến II kết thúc, các chiến trường cũ hình thành ra những điểm du lịch chiến tranh mới. Saipan cùng các chiến trường khác ở Thái Bình Dương trở thành nơi cựu binh Nhật hành hương, cải táng và dựng đài tưởng niệm đồng đội đã ngã xuống.[11]
Chiến tranh hiện đại

Foley và Lennon đưa ra ý tưởng rằng mọi người bị thu hút đến những nơi từng xảy ra "hành vi vô nhân đạo". Nguyên nhân động lực là khi truyền thông đưa tin và thôi thúc bên trong con người muốn được tận mắt chứng kiến, giống như quan hệ cộng sinh giữa điểm tham quan và du khách, từ những trại tử thần hay chỉ là nơi người nổi tiếng lìa đời.[12]
Thế kỷ 20
Trong suốt thời gian bao vây Sarajevo (1992–1996), có tin đồn về hiện tượng du lịch chiến tranh gọi là Sarajevo Safari, theo đó giới giàu có nước ngoài đã trả phí để được dùng súng bắn tỉa bắn người dân trong thành phố để giải trí.[cần dẫn nguồn]
Thế kỷ 21
Năm 2008, cựu chuyên gia bảo mật Rick Sweeney thành lập War Zone Tours, còn cựu nhà báo The New York Times Nicholas Wood cũng lập công ty khai thác lĩnh vực này.[13] Sweeney tham gia nhóm hướng dẫn du lịch đưa du khách đến các quốc gia đã trải qua hoặc đang diễn ra xung đột. Năm 2010, du khách đi Bagdad có thể phải trả tới 40.000 đô la. Năm 2014 báo cáo chiều hướng du lịch chiến tranh gia tăng[14] nhờ du khách đến Israel để quan sát nội chiến Syria. Một nhà báo ở Tel Aviv cho biết mong muốn trải nghiệm, đăng tin và chụp ảnh lên mạng xã hội có thể giúp tăng du lịch chiến tranh.[15] Bộ phim tài liệu War Matador năm 2011 của Avner Faingulernt và Macabit Abramson cũng đề cập đến du lịch chiến tranh ở Israel.[16] Cuộc nội chiến Syria thu hút nhiều người có máu phiêu lưu tìm đến.[17] Theo Đại tá Lực lượng Phòng vệ Israel đã nghỉ hưu Kobi Marom, người dẫn đầu các chuyến tham quan khu vực chiến tranh qua biên giới Israel, du khách thích xem chiến sự và "phát rồ" khi biết mình đang là mục tiêu của những tay súng Al-Qaeda.[18]
Tại Iran, sinh viên, thành viên lực lượng dân quân Basij và những người quan tâm thường xuyên được đưa đến các chiến trường cũ trong Chiến tranh Iran-Iraq vì cuộc chiến này được chính quyền Iran coi là "phòng vệ thiêng liêng" và là trụ cột tư tưởng cho sự tồn tại của Cộng hòa Hồi giáo cầm quyền. Các chuyến đi do Basij tổ chức, một nhánh thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), thường tuyển mộ người tham gia tại các nhà thờ Hồi giáo hay trường học. Các chuyến đi này với tên chính thức "Chuyến du lịch cho những người lữ hành ánh sáng" (tiếng Ba Tư: اردوهای راهیان نور), có giá rẻ và đi bằng xe buýt trong điều kiện an toàn kém. Kể từ năm 2008, các vụ tai nạn liên quan đến xe buýt chở "khách du lịch" đã khiến ít nhất 70 người thiệt mạng.[19][20][21] Năm 2013, Bộ trưởng Giáo dục lúc bấy giờ là Hajibabayi đề xuất rằng những người thiệt mạng trong các chuyến du lịch này nên được tặng danh hiệu liệt sĩ.[cần dẫn nguồn]
Năm 2021, nhân vật nổi tiếng trên mạng người Anh 'Lord' Miles Routledge đến thăm Afghanistan ngay khi Kabul thất thủ cũng như nhiều lần trở lại và bị Taliban bắt giam trong vài tháng. Anh đã chia sẻ ảnh, livestream, video và câu chuyện từ Afghanistan trên mạng, cũng như sau đó kể lại trải nghiệm khi tham gia trả lời phỏng vấn và viết sách.[cần dẫn nguồn]
Năm 2022, chính trị gia Canada Dominic Cardy đi nghỉ tại Ukraina.[22] Ông đến những nơi đổ nát vì bom đạn Nga, chia sẻ nhiều hình ảnh và video trên tài khoản X (Twitter) cá nhân.[23]
Tham khảo
- ^ P. J., O'Rourke (1988). Holidays in Hell (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). New York: Atlantic Monthly Press. ISBN 978-0-87113-240-6.
- ^ Butler, Richard; Suntikul, Wantanee (2013). Tourism and War (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 9780415674331.
- ^ Burgess, Jim (ngày 10 tháng 3 năm 2011). "Spectators Witness History at Manassas". Civil War Trust (bằng tiếng Anh). Ground Magazine, Spring 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
- ^ Kamlin, Debra (ngày 15 tháng 7 năm 2014). "The Rise of Dark Tourism". The Atlantic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
- ^ Lloyd 1998, tr. 20-21.
- ^ Lloyd 1998, tr. 19-20.
- ^ Lloyd 1998, tr. 23-24.
- ^ Lloyd 1998, tr. 26-27; 29-34.
- ^ Lloyd 1998, tr. 29-31.
- ^ Fathi, Romain (2014). "Connecting Spirits: The commemorative patterns of an Australian school group in Northern France". Journal of Australian Studies (bằng tiếng Anh). 38 (3): 345–359. doi:10.1080/14443058.2014.921635.
- ^ Stingl, Miloslav (1989). Priklyucheniya v Okeanii [Phiêu lưu ở Châu Đại Dương] (bằng tiếng Nga). Moskva: Pravda. tr. 370–384.
- ^ Lynch, Paul; Causevic, Senija (ngày 21 tháng 10 năm 2008). "Tourism development and contested communities". Revue Électronique des Sciences Humaines et Sociales (bằng tiếng Anh).
- ^ War Tourism Is A Disturbing Trend On The Rise In Israel, Carbonated Tv[liên kết hỏng]
- ^ Griggs, Mary-Beth (ngày 16 tháng 7 năm 2014). "People are Traveling to War Zones for Tourism". Smithsonian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
- ^ "'Dark tourism' in strife-torn areas on the rise", CBC News (bằng tiếng Anh), ngày 31 tháng 7 năm 2014, truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014
- ^ "War Matador". Eye on Palestine Art and Film Festival (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024.
- ^ Taub, Ben (ngày 2 tháng 11 năm 2013), "War Tourists Flock to Syria's Front Lines", The Daily Beast (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015, truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015
- ^ "The Rise of Dark Tourism". The Atlantic (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2015.
- ^ "22دانشجوي جانباخته حادثه انديشمك -خرمآباد" [22 sinh viên thiệt mạng trong tai nạn Andishmak-Khorramabad], Tabnak (bằng tiếng Ba Tư), ngày 26 tháng 3 năm 2006, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2008, truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024
- ^ "تصادف اتوبوس راهيان نور و جان باختن 27 تن دیگر" [Tai nạn xe buýt Rahyan Noor khiến 27 người khác thiệt mạng], Tabnak (bằng tiếng Ba Tư), ngày 6 tháng 4 năm 2007, Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2008, truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024
- ^ "مرگ ۲۶ نفر در سانحه رانندگی در ایران" [26 người chết trong tai nạn giao thông ở Iran], BBC Persian (bằng tiếng Ba Tư), ngày 20 tháng 10 năm 2012, truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2024
- ^ Fradette, Réal (ngày 1 tháng 9 năm 2022). "Le ministre néo-brunswickois Dominic Cardy se rendra bientôt en Ukraine" [Thủ hiến New Brunswick Dominic Cardy sẽ sớm thăm Ukraina]. Radio Canada (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2022.
- ^ @DominicCardy (ngày 11 tháng 9 năm 2022). "All clear in Kyiv but Russian attacks to the east, hitting the power grid. Kyiv ignored the sirens. There's a feeling of calm resilience here. Two revolutions and a grinding war later, these people are done with Russia. We have to help Ukraine silence the sirens forever" (Tweet). Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2024 – qua Twitter.
Tài liệu
- Lloyd, David W. (1998). Battlefield Tourism. Oxford: Berg. ISBN 978-1-85973-179-6.
Đọc thêm
- Evanno, Yves-Marie, and Vincent, Johan (eds.), Tourisme et Grande Guerre. Voyage(s) sur un front histoirque méconnu (1914-2019) (Ed. Codex, 2019)
- Lennon, John; Foley, Malcolm (2004). Dark tourism . London [u.a.]: Thomson. ISBN 978-0826450647.
- Lisle, Debbie. "Consuming danger: reimagining the war/tourism divide." Alternatives (2000): 91–116. in JSTOR
- Weaver, David Bruce. "The exploratory war‐distorted destination life cycle." International Journal of Tourism Research 2.3 (2000): 151–161.
- Winter, Caroline. "Tourism, social memory and the Great War." Annals of Tourism Research 36.4 (2009): 607–626. online Lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine
Liên kết ngoài
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage | |
- Kamin, Debra (ngày 15 tháng 7 năm 2014). "The Rise of Dark Tourism". The Atlantic. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
- War Zone Tours Lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2022 tại Wayback Machine
- WW2 War Tourism
- HA - War Tourism in Bosnia&Herzegovina
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Bài có liên kết hỏng
- Nguồn CS1 tiếng Ba Tư (fa)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Bài viết có văn bản tiếng Ba Tư
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Chiến tranh trong văn hóa đại chúng
- Loại du lịch
- Du lịch đen