Bước tới nội dung

Gillingham F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Gillingham FC)
Gillingham
Một tấm khiên có dòng chữ "Gillingham Football Club" ở phần trên, phần còn lại chia làm hai nửa, nửa trái có các sọc dọc đen trắng và nửa phải là hình một con ngựa trắng chồm hai chân sau trên nền xanh
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Gillingham
Biệt danhThe Gills
Thành lập1893; 133 năm trước (1893)
(với tên gọi New Brompton)
SânSân vận động Priestfield
Sức chứa11.582[1]
Chủ sở hữuBrad Galinson
Chủ tịch điều hànhBrad Galinson
Người quản lýGareth Ainsworth
Giải đấuLeague Two
2025–26League Two, hạng 17 trên 24
Websitegillinghamfootballclub.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Gillingham (tiếng Anh: Gillingham Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại thị trấn Gillingham, Kent, Anh. Đội một của câu lạc bộ thi đấu các trận sân nhà tại Sân vận động Priestfield và góp mặt ở League Two, hạng đấu cao thứ tư của Hệ thống giải bóng đá Anh, trong mùa giải 2025-26.

Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1893 với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá New Brompton và đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Gillingham vào năm 1912. Đội một của Gillingham từng thi đấu ở Southern League trước khi gia nhập Football League vào năm 1920. Sau 18 mùa giải không thành công, đội bị bỏ phiếu loại khỏi giải để nhường chỗ cho Ipswich Town vào cuối mùa giải 1937-38, rồi trở lại Southern League. Gillingham trở lại Football League vào năm 1950, khi giải đấu được mở rộng từ 88 lên 92 đội. Hai lần vào cuối thập niên 1980, Gillingham tiến rất gần tới việc giành quyền thăng hạng lên hạng hai của bóng đá Anh, nhưng sau đó lại sa sút và ở năm 1993 chỉ vừa đủ tránh khỏi việc xuống hạng xuống Football Conference. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, Gillingham thi đấu ở hạng hai của hệ thống bóng đá Anh, lần duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ, với thứ hạng cao nhất là vị trí thứ mười một ở mùa giải 2002-03. Câu lạc bộ đã hai lần vô địch hạng đấu thứ tư của bóng đá Anh, ở các mùa giải 1963-642012-13, dưới sự dẫn dắt của các huấn luyện viên Freddie CoxMartin Allen.

Ban đầu Gillingham thi đấu trong trang phục áo sọc đen trắng nhưng chuyển sang áo xanh vào thập niên 1930. Biểu trưng của câu lạc bộ theo truyền thống khắc họa con ngựa trắng, biểu tượng của hạt Kent. Priestfield Stadium luôn là sân nhà của đội bóng kể từ khi thành lập; sân từng chứa tới 30.000 khán giả nhưng trong thời kì hiện đại sức chứa đã giảm xuống còn chưa đến một nửa con số đó.

Lịch sử

Những năm đầu

Một văn bản thông báo rằng New Brompton Football Club đã đổi tên thành Gillingham Football Club, đề ngày 1913
Thông báo chính thức về việc câu lạc bộ đổi tên năm 1913

Thành công ở cấp địa phương của một đội bóng trẻ, Chatham Excelsior F.C., đã khuyến khích một nhóm doanh nhân gặp mặt với mục tiêu thành lập một câu lạc bộ bóng đá có thể tham dự những giải đấu lớn hơn. New Brompton F.C. được thành lập tại cuộc họp diễn ra ngày 18 tháng 5 năm 1893, trong đó New Brompton là một khu dân cư nằm sát bên Gillingham.[2] Những người sáng lập cũng mua mảnh đất sau này trở thành Sân vận động Priestfield.[3] Câu lạc bộ mới thi đấu trận đầu tiên vào ngày 2 tháng 9 năm 1893, thua 1-5 trước đội dự bị của Woolwich Arsenal trước 2.000 khán giả.[4] New Brompton là một trong những thành viên sáng lập của Southern League khi giải được thành lập vào năm 1894, và được xếp vào Division Two. Đội giành chức vô địch ngay ở mùa đầu tiên (1894-95) rồi đánh bại Swindon Town trong một trận kiểm tra để giành quyền thăng hạng.[5]

Trong những mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ gặp khó khăn ở Division One, đứng cuối bảng ở mùa giải 1907-08,[6] chỉ tránh xuống hạng nhờ việc giải đấu được mở rộng. Dù thành tích ở giải không mấy ấn tượng, đội vẫn tạo nên một chiến thắng nổi tiếng tại cúp trước Football League First Division Sunderland và cầm hòa Manchester City trước khi thua ở trận đá lại.[7] Năm 1912, ban giám đốc thông qua nghị quyết đổi tên câu lạc bộ thành Gillingham F.C., và đội thi đấu dưới tên gọi này trong suốt mùa giải 1912-13, dù việc đổi tên chỉ được các cổ đông phê chuẩn chính thức vào năm sau đó.[8] Đội kết thúc ở cuối bảng Division One trong mùa giải 1919-20 nhưng lần thứ ba tránh được xuống hạng, do toàn bộ các câu lạc bộ ở Southern League Division One sau đó được nâng lên để تشکیل nên Football League Division Three mới.[9]

Giai đoạn đầu tại Football League

Trong mùa giải đầu tiên của Football League Division Three mới được thành lập, tức mùa giải 1920-21, Gillingham một lần nữa đứng cuối bảng, và trong những năm tiếp theo tình hình cũng không được cải thiện nhiều, khi câu lạc bộ liên tục đứng ở nhóm cuối của hạng đấu thấp nhất. Năm 1938, đội kết thúc cuối bảng tại Third Division (South) và buộc phải nộp đơn xin tái cử lần thứ năm kể từ khi gia nhập giải. Nỗ lực tái cử này thất bại, khiến Gillingham trở lại Southern League còn Ipswich Town được thăng lên thay thế.[10] Gillingham nhanh chóng khẳng định mình là một trong những đội mạnh của giải, giành cú đúp địa phương gồm Kent LeagueKent Senior Cupmùa giải 1945-46.[10]mùa giải 1946-47, đội vô địch cả Southern League Cup lẫn Southern League, đồng thời lập kỉ lục thắng đậm nhất lịch sử câu lạc bộ, 12-1 trước Gloucester City.[11] The Gills cũng vô địch giải ở mùa giải 1948-49.[12]

Trở lại Football League

Năm 1950, các kế hoạch mở rộng Football League Division Three (South) từ 22 lên 24 đội được công bố, và xét đến những thành công tại địa phương trong giai đoạn xen giữa, Gillingham đã được bầu trở lại Football League với số phiếu áp đảo.[12] Đội trải qua tám mùa giải ở Division Three (South) trước khi việc tái cơ cấu hệ thống giải cho mùa giải 1958-59 khiến họ được xếp vào Fourth Division mới thành lập. Đội ở lại hạng này cho đến năm 1964, khi huấn luyện viên Freddie Cox đưa câu lạc bộ thăng hạng bằng chức vô địch đầu tiên trong lịch sử. Đội kết thúc mùa giải với cùng 60 điểm như Carlisle United, nhưng có goal average nhỉnh hơn một chút, 1,967 so với 1,948.[13]

Sau khi xuống hạng trở lại Fourth Division ở mùa giải 1970-71, The Gills nhanh chóng giành quyền trở lại Third Division ở mùa giải 1973-74.[14] Sau đó, câu lạc bộ dường như tìm thấy vị trí phù hợp của mình ở Division Three, thường xuyên cạnh tranh suất thăng hạng nhưng lần nào cũng thiếu một chút, đặc biệt là ở mùa giải 1986-87 khi đội vào tới play-off nhưng thua Swindon Town trong trận chung kết.[15] Trong giai đoạn này, câu lạc bộ sản sinh ra các ngôi sao tương lai như Steve BruceTony Cascarino, người nổi tiếng với việc được mua từ đội ngoài hệ thống giải chuyên nghiệp Crockenhill để đổi lấy một bộ đồ thể thao.[16]

Hai đội bóng đang thi đấu, một đội mặc áo xanh và đội kia mặc áo vàng. Khán đài chật kín khán giả ở phía sau.
Gillingham (áo xanh) thi đấu trong một trận đấu ở mùa giải 1986-87

Năm 1987, The Gills gây chú ý trên các mặt báo khi trong hai ngày thứ Bảy liên tiếp đánh bại Southend United 8-1 và Chesterfield 10-0, trong đó trận sau là chiến thắng đậm nhất lịch sử của câu lạc bộ trong một trận thuộc Football League. Chỉ vài tháng sau, tuy nhiên, huấn luyện viên Keith Peacock gây tranh cãi khi bị sa thải,[17][18] và chỉ trong vòng 18 tháng, câu lạc bộ đã rơi xuống Division Four.[15] Giai đoạn tiếp theo ở hạng đấu thấp hơn không mang lại nhiều thành công, và ở chiến dịch Division Three 1992-93 The Gills chỉ vừa đủ tránh khỏi việc xuống Football Conference.[15]

Những đỉnh cao và đáy sâu gần đây

Một sân vận động chật kín khán giả. Những người gần máy ảnh nhất đang phất cờ xanh và trắng.
Cổ động viên Gillingham tại trận chung kết play-off Division Two năm 2000

Bị đè nặng bởi các vấn đề tài chính, câu lạc bộ rơi vào diện quản trị đặc biệt vào tháng 1 năm 1995, và đến cuối mùa giải 1994-95 phải đối mặt với nguy cơ bị trục xuất khỏi Football League và đóng cửa.[15] Tuy nhiên, vào tháng 6 năm 1995, một doanh nhân ở London là Paul Scally đã can thiệp và mua lại câu lạc bộ.[19] Ông bổ nhiệm huấn luyện viên mới Tony Pulis, người đã đưa Gillingham thăng hạng ngay trong mùa đầu tiên, khi đội kết thúc ở vị trí thứ hai tại Division Three cũ, nay là Football League Two.[6] Năm 1999, The Gills vào play-off nhưng thua Manchester City trong trận chung kết. Khi trận đấu chỉ còn chưa đầy hai phút, The Gills vẫn đang dẫn 2-0, nhưng rồi City ghi liền hai bàn, trong đó bàn gỡ hòa đến ở thời gian bù giờ, trước khi thắng 3-1 ở loạt sút luân lưu.[20][21] Không lâu sau thất bại ở play-off, Pulis bị sa thải vì hành vi sai trái nghiêm trọng,[22]Peter Taylor được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.[23]mùa giải 1999-00, Gillingham lại giành quyền vào play-off, nơi đội gặp Wigan Athletic trong trận chung kết tại Wembley. Trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1 sau 90 phút, nhưng nhờ các bàn thắng trong hiệp phụ của những cầu thủ vào sân thay người Steve ButlerAndy Thomson, The Gills thắng 3-2 và lần đầu tiên thăng hạng lên Division One.[24]

Taylor sau đó rời đi để dẫn dắt Leicester City, còn Andy Hessenthaler được bổ nhiệm làm huấn luyện viên kiêm cầu thủ.[25] Ông đưa câu lạc bộ tới thành tích cao nhất lịch sử ở giải vô địch quốc gia, vị trí thứ mười một ở mùa giải 2002-03,[6] nhưng sang mùa tiếp theo đội chỉ tránh xuống hạng nhờ goal difference. Hessenthaler từ chức huấn luyện viên vào tháng 11 năm 2004,[25] và người kế nhiệm Stan Ternent[26] không thể ngăn The Gills rớt xuống League One. Cuối mùa giải 2007-08, câu lạc bộ lại xuống hạng, lần này là xuống League Two,[27] nhưng ngay lập tức trở lại hạng ba thông qua play-off sau khi đánh bại Shrewsbury Town trong trận chung kết.[28] Tuy nhiên, ở mùa giải 2009-10, The Gills rơi xuống nhóm bốn đội cuối bảng ở vòng cuối cùng và bị xuống hạng trở lại League Two, sau khi không thắng nổi một trận sân khách nào tại giải trong cả mùa.[13][29] Điều này dẫn đến việc huấn luyện viên Mark Stimson bị chấm dứt hợp đồng,[30] và Andy Hessenthaler được bổ nhiệm trở lại làm huấn luyện viên của câu lạc bộ lần thứ hai.[31] Vào đầu mùa giải 2012-13, Hessenthaler được thay bằng Martin Allen, người đã đưa đội bóng thăng hạng với tư cách vô địch League Two ngay trong mùa đầu tiên nắm quyền.[32][33] Tuy nhiên, không lâu sau khi vô địch League Two, Allen bị sa thải trong điều mà nhiều người xem là bất ngờ, sau khởi đầu mùa giải không tốt.[34] Câu lạc bộ trụ lại League One từ năm 2013 cho tới năm 2022, với thành tích tốt nhất là vị trí thứ chín đạt được ở mùa giải 2015-16.[6]mùa giải 2021-22, Gillingham bị xuống hạng trở lại League Two.[35] Vào tháng 12 năm 2022, tỉ phú bất động sản có trụ sở tại Florida là Brad Galinson mua lại cổ phần chi phối tại câu lạc bộ, trong khi Scally vẫn giữ một phần sở hữu thiểu số.[36] Tháng 1 năm 2023, câu lạc bộ xác nhận Galinson cũng sẽ đảm nhiệm vai trò chủ tịch.[37]

Sân vận động

Một góc nhìn bên ngoài của một sân vận động thể thao, với nhiều chi tiết màu xanh ở mặt tiền.
Hình chụp bên ngoài Priestfield Stadium (Medway Stand)

The Gills đã thi đấu tại Sân vận động Priestfield trong suốt lịch sử tồn tại của mình.[38] Sân ban đầu được những người sáng lập câu lạc bộ mua lại thông qua việc phát hành 1.500 cổ phần trị giá 1 bảng mỗi cổ phần.[3] Các nguồn có ý kiến khác nhau về việc sân được đặt theo tên con đường nơi khu đất tọa lạc là Priestfield Road,[3] hay chính con đường lại được đặt theo tên sân;[39] nếu là trường hợp sau thì nguồn gốc của tên sân hiện vẫn chưa rõ. Sân được phát triển đáng kể trước thập niên 1930, nhưng sau đó hầu như không thay đổi nhiều cho tới cuối thập niên 1990 và sự xuất hiện của Paul Scally trên cương vị chủ tịch. Ba trong bốn khán đài bị phá dỡ và xây lại trong giai đoạn từ 1995 đến 2000. Khán đài thứ tư, được gọi là Town End, cũng bị phá dỡ để nhường chỗ cho một khán đài mới dự kiến mang tên Brian Moore Stand theo tên bình luận viên thể thao truyền hình Brian Moore, một cổ động viên nổi tiếng của The Gills, nhưng tình hình tài chính của câu lạc bộ đã không cho phép khán đài mới được xây dựng. Một khán đài tạm thời được dựng lên vào năm 2003 và vẫn còn tồn tại tính đến năm 2024.[40][41] Từ năm 2007 đến năm 2010, sân chính thức mang tên KRBS Priestfield Stadium theo một thỏa thuận tài trợ với Kent Reliance Building Society.[42] Năm 2011, sân lại được đổi tên, lần này thành MEMS Priestfield Stadium theo một thỏa thuận tương tự.[43]

Vào thời kì đỉnh cao trong thập niên 1940, sức chứa chính thức của sân được ghi là "từ 25.000 đến 30.000".[2] Tuy nhiên, những lần tái phát triển sau đó, việc loại bỏ các bậc khán đài đứng và xây dựng các cơ sở vật chất mới đã khiến sức chứa giảm xuống còn 11.582 chỗ ở hiện tại.[44]mùa giải 2018-19, mùa giải gần nhất được hoàn thành trọn vẹn với việc cho phép đón khán giả tối đa, lượng khán giả trung bình trong các trận sân nhà là 5.128.[45] Sân cũng từng tổ chức các trận sân nhà của đội tuyển bóng đá nữ Anh.[46] Khu tập luyện của câu lạc bộ là Beechings Cross, nằm trên Grange Road, Gillingham. Năm 2012, câu lạc bộ vướng vào tranh chấp với hội đồng địa phương, khi phía hội đồng cho rằng Gillingham nợ hơn 30.000 bảng trong các khoản chưa thanh toán liên quan đến cơ sở tập luyện này.[47]

Màu sắc và biểu trưng

Tập tin:FredGriffiths.jpg
Fred Griffiths trong màu áo sọc nguyên thủy của câu lạc bộ

Mặc dù Gillingham từ lâu gắn liền với hai màu xanh và trắng, đội New Brompton nguyên thủy thực tế mặc áo sọc đen trắng cùng quần đùi đen.[3] Năm 1913, bộ áo sọc đen trắng bị thay thế bằng áo đỏ tay xanh, có in huy hiệu của borough.[48] Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, áo sọc quay trở lại, trước khi cuối cùng được thay thế vào năm 1931 bằng tổ hợp hiện đã trở nên quen thuộc là áo xanh trơn và quần đùi trắng.[49] Những năm gần đây đã chứng kiến một số biến thể khác nhau của bảng màu xanh và trắng. Cuối thập niên 1990, đội từng mặc áo sọc xanh và đen, gợi nhớ tới các sọc áo nguyên thủy của New Brompton.[50]

Vào mùa hè năm 2003, câu lạc bộ gây tranh cãi khi công bố rằng áo đấu lựa chọn đầu tiên cho mùa giải tiếp theo sẽ chủ yếu là màu trắng thay vì màu xanh. Thông báo này nhận phản ứng dữ dội từ các cổ động viên đến mức bộ áo trắng bị thay bằng một mẫu có các vòng sọc xanh và đen, vốn ban đầu chỉ được dự kiến làm áo đấu lựa chọn thứ ba của đội.[51] Vào tháng 3 năm 2010, câu lạc bộ công bố sẽ trở lại với áo sọc đen và xanh cho mùa giải 2010-11.[52] Để kỉ niệm 100 năm đổi tên câu lạc bộ, bộ trang phục mùa giải 2012-13 có màu đỏ với tay áo và cổ áo màu xanh, còn biểu trưng của câu lạc bộ được thay bằng huy hiệu thị trấn. Sau khi vô địch League Two ở mùa giải 2012-13, câu lạc bộ cho các chủ thẻ mùa quyền bỏ phiếu lựa chọn màu áo mà đội sẽ sử dụng trong mùa giải 2013-14, và người hâm mộ đã chọn quay lại bộ áo xanh trắng.[53] Kể từ đó, xanh trắng hoặc xanh sọc đen đã được sử dụng.[54]

Hình minh họa một con ngựa trắng chồm hai chân sau
Cho tới năm 1992, biểu trưng của câu lạc bộ đơn giản chỉ là một phần huy hiệu của hạt Kent.

Biểu trưng hiện tại của câu lạc bộ là một tấm khiên chia dọc thành hai nửa, gồm nửa sọc đen trắng và nửa xanh trơn, phản ánh các bộ trang phục nguyên thủy và hiện đại của câu lạc bộ. Trên nửa màu xanh là biểu tượng của hạt Kent, một con ngựa trắng chồm, dù có đôi chút khác với hình thức thông thường do bờm ngựa được cách điệu thành các chữ cái trong từ "Gills". Phần này đôi khi có nền đỏ hoặc hồng để phù hợp với các bộ áo sân khách sử dụng những màu đó. Khẩu hiệu của câu lạc bộ, xuất hiện trên dải băng phía dưới biểu trưng, là Domus clamantium, từ tiếng Latinh có nghĩa là "ngôi nhà của những người đàn ông hò hét",[55] một biệt danh truyền thống gắn với thị trấn Gillingham.[56] Phù hợp với biểu trưng đó, linh vật của câu lạc bộ là Tommy Trewblu, mang hình dạng một con ngựa. Linh vật này lần đầu xuất hiện trong trận đấu với Macclesfield Town vào tháng 10 năm 1998.[57]

Tên nhà tài trợ đầu tiên xuất hiện trên áo đấu của Gillingham là Zanussi, nhà sản xuất đồ gia dụng của Ý, đơn vị tài trợ cho câu lạc bộ vào giữa thập niên 1980. Những nhà tài trợ tiếp theo gồm có Chatham Maritime, Medway Toyota, Cannon Tool Hire, Invicta FM, Kool, Medway News, SeaFrance,[58] [59] MHS Homes Group,[60] Kent Reliance Building Society,[42] Automatic Retailing,[61] MEMS Power Generation,[62] Medway Council,[63] và Bauvill.[64]

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến 3 tháng 3 năm 2026[65]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Anh Glenn Morris
2 HV Anh Remeao Hutton
3 HV Anh Max Clark
4 HV Cộng hòa Ireland Conor Masterson
5 HV Anh Andy Smith
6 TV Anh Ethan Coleman
7 Jamaica Garath McCleary
8 TV Anh Armani Little (đội trưởng)
9 Anh Josh Andrews
10 TV Wales Jonny Williams
11 TV Anh Aaron Rowe
12 Anh Seb Palmer-Houlden
14 TV Anh Robbie McKenzie
15 HV Anh Travis Akomeah (mượn từ Watford)
17 Anh Jonny Smith (mượn từ Wigan Athletic)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
19 Wales Sam Vokes
21 TV Bắc Ireland Euan Williams
22 HV Cộng hòa Ireland Shadrach Ogie
23 TV Anh Bradley Dack
24 TV Anh Harry Waldock
25 TM Anh Jake Turner
26 TV Anh Stanley Skipper
27 TV Malawi Nelson Khumbeni
29 Anh Harry Bridle
30 HV Anh Sam Gale
32 HV Montserrat Lenni Cirino
36 TV Anh Cameron Antwi
38 Bắc Ireland Ronan Hale
39 HV Grenada Omar Beckles

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
13 TM Anh Taite Holtam (cho Cray Valley Paper Mills mượn)
16 HV Anh Harry Webster (cho Ramsgate mượn)
18 Síp Marcus Wyllie (cho Ebbsfleet United mượn)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
20 Anh Elliott Nevitt (cho Cambridge United mượn)
28 TV Anh Damien Theodore (cho Hastings United mượn)
31 HV Anh Logan Dobbs (cho Ramsgate mượn)

Cựu cầu thủ

Cầu thủ của mùa giải

Giải thưởng Cầu thủ của mùa giải của Gillingham do các cổ động viên của câu lạc bộ bầu chọn. Giải lần đầu được trao ở mùa giải 1968-69.[66]

Quan chức câu lạc bộ

Tập tin:Paul Scally with Playoff trophy.JPG
Paul Scally (cầm cúp) là chủ tịch câu lạc bộ từ năm 1995 đến năm 2022.

Tính đến ngày 3 tháng 3 năm 2026[115]

Ban điều hành

Chức vụ Tên
Chủ tịch/Chủ sở hữu Brad Galinson
Hội đồng quản trị Brad Galinson, Shannon Hogan Galinson

Ban chuyên môn

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Gareth Ainsworth
Trợ lí huấn luyện viên Richard Dobson
Huấn luyện viên đội một Peter Gill
Huấn luyện viên thủ môn Deren Ibrahim
Trưởng bộ phận tuyển trạch Andy Hessenthaler
Nhà vật lí trị liệu Paul Timson
Huấn luyện viên thể lực James Russell
Phụ trách sức mạnh và điều kiện thể chất đội một Jake Griffiths
Quản lí trang phục Brad Haywood
Giám đốc học viện Bryan Bull
Huấn luyện viên đội trẻ Scott Wagstaff
Trưởng bộ phận giáo dục học viện Jason Lillis

Huấn luyện viên

Một người đàn ông trung niên mặc com lê
Tony Pulis là huấn luyện viên của câu lạc bộ từ năm 1995 đến năm 1999

Trong ba năm đầu tiên kể từ khi câu lạc bộ tồn tại, các công việc liên quan đến đội bóng do một ủy ban phụ trách. Năm 1897, William Ironside Groombridge, thư kí của câu lạc bộ, bắt đầu một mình đảm nhận công việc của đội bóng và trở thành huấn luyện viên được công nhận đầu tiên của Gillingham.[116] Cựu tuyển thủ Anh Stephen Smith được bổ nhiệm làm huấn luyện viên toàn thời gian vào năm 1906,[117] nhưng rời đi vào năm 1908, và Groombridge một lần nữa tiếp quản trách nhiệm chuyên môn của đội bóng. Groombridge gắn bó với câu lạc bộ hơn 25 năm, trong cả vai trò huấn luyện viên lẫn thư kí. Khi câu lạc bộ được kết nạp vào Football League năm 1920, Robert Brown được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, nhưng ông từ chức chỉ một tháng sau đó, trước cả khi mùa giải bắt đầu.[118] Người kế nhiệm ông, người Scotland John McMillan, vì thế trở thành huấn luyện viên đầu tiên phụ trách đội trong một trận đấu thuộc Football League.[118]

Năm 1939, một năm sau khi câu lạc bộ lại bị bỏ phiếu loại khỏi Football League, Archie Clark lên nắm quyền huấn luyện viên, và vẫn tại vị khi câu lạc bộ được bầu trở lại Football League vào năm 1950. Clark tiếp tục công việc cho đến năm 1957.[119] Freddie Cox tiếp quản vào năm 1962 và đưa câu lạc bộ tới chức vô địch Football League Fourth Divisionmùa giải 1963-64, qua đó trở thành huấn luyện viên đầu tiên giành một danh hiệu hạng đấu Football League cùng câu lạc bộ.[120] Basil Hayward bị sa thải vào năm 1971 sau khi câu lạc bộ xuống hạng trở lại Fourth Division ở mùa giải 1970-71,[120] nhưng người kế nhiệm ông là Andy Nelson đã đưa câu lạc bộ thăng hạng trở lại Division Three ba năm sau đó trước khi từ chức trong tranh cãi.[121]

Tony Pulis tiếp quản vào năm 1995, khi Gillingham một lần nữa đang ở hạng đấu thấp nhất, và đã giúp câu lạc bộ thăng hạng ngay trong mùa giải đầu tiên ông cầm quân. Ba năm sau, ông dẫn dắt đội tới trận chung kết play-off Second Division, nhưng bị sa thải ngay sau đó vì bị cáo buộc có hành vi sai trái nghiêm trọng.[22] Peter Taylor thay thế ông và đưa câu lạc bộ vào trận chung kết play-off thứ hai liên tiếp, nơi Gillingham giành quyền thăng lên hạng hai của bóng đá Anh lần đầu tiên trong lịch sử.[122] Năm 2013, Martin Allen trở thành huấn luyện viên thứ hai đưa The Gills tới một chức vô địch hạng đấu trong Football League, khi đội bóng vô địch League Two.[34]

Danh hiệu

Nguồn:[6][14][123]

Giải vô địch

Cúp

Thống kê và kỉ lục

Tập tin:Gillingham FC League Performance.svg
Vị trí hằng năm của Gillingham trong hệ thống Football League.

Thủ môn Ron Hillyard đang giữ kỉ lục số lần ra sân cho Gillingham, với 657 trận trên mọi đấu trường trong giai đoạn từ năm 1974 đến năm 1990,[124] còn kỉ lục số lần ra sân riêng trong Football League thuộc về một thủ môn khác là John Simpson, với 571 trận từ năm 1957 đến năm 1972.[125] Brian Yeo là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia, với tổng cộng 136 bàn trong giai đoạn từ năm 1963 đến năm 1975.[126] Ông cũng đồng nắm giữ kỉ lục câu lạc bộ về số bàn thắng nhiều nhất ghi được trong một mùa giải Football League, với 31 bàn ở mùa giải 1973-74,[126] cân bằng thành tích mà Ernie Morgan thiết lập ở mùa giải 1954-55.[127] Số bàn thắng nhiều nhất do một cầu thủ ghi trong một trận đấu ở cấp độ chuyên nghiệp là sáu bàn, do Fred Cheesmur thực hiện trước Merthyr Town vào tháng 4 năm 1930.[128] Mức phí chuyển nhượng cao nhất mà câu lạc bộ từng thu về là 1,5 triệu bảng từ thương vụ Robert Taylor sang Manchester City vào năm 1999, còn khoản phí lớn nhất mà Gillingham từng chi ra là 600.000 bảng để chiêu mộ Carl Asaba từ Reading vào năm 1998.[125]

Kỉ lục khán giả trên sân nhà của câu lạc bộ là 23.002 người, trong một trận Cúp FA gặp Queens Park Rangers ngày 10 tháng 1 năm 1948,[125] một kỉ lục gần như chắc chắn sẽ không bao giờ bị phá vỡ trừ khi câu lạc bộ chuyển sang sân lớn hơn, bởi sức chứa hiện tại của Priestfield Stadium chỉ khoảng bằng một nửa con số đó. Chiến thắng đậm nhất của đội ở cấp độ chuyên nghiệp là trận thắng Chesterfield 10-0 vào tháng 9 năm 1987,[125] mặc dù trước đó họ từng giành chiến thắng 12-1 trước Gloucester City tại Southern League vào tháng 11 năm 1946.[15]

Kình địch

Cuộc điều tra Football Fans Census năm 2003 cho thấy không có cổ động viên của đội bóng nào khác xem Gillingham là một trong những đối thủ chính của câu lạc bộ họ.[129] Millwall được xem là đối thủ gần nhất mà The Gills có thể coi là đối thủ địa phương.[130] Swindon Town được nhiều cổ động viên xem là đối thủ lớn nhất của câu lạc bộ, bắt nguồn từ những trận đấu căng thẳng giữa hai đội trong quá khứ.[131] Dù cổ động viên Swindon nhìn chung không xem Gillingham là một trong những đối thủ lớn nhất của họ, đã xảy ra bạo lực khi hai đội gặp nhau tại Priestfield ở mùa giải 2005-06, lần chạm trán đầu tiên kể từ trận play-off thăng hạng năm 1987.[132] Sau khi thăng hạng vào năm 1989, Maidstone United trở thành đội bóng thứ hai của Kent tại League. Mối kình địch với Gillingham phát triển trong những mùa giải sau đó, cho tới khi các vấn đề tài chính buộc Maidstone phải rút khỏi League vào năm 1992.[133] Một mối kình địch nhỏ giữa Gillingham và Fulham cũng hình thành sau cái chết của một cổ động viên Fulham trong cuộc đụng độ giữa hai nhóm cổ động viên bên ngoài Priestfield Stadium vào tháng 3 năm 1998.[134]mùa giải 2024-25, việc Bromley gia nhập Football League đã làm dấy lên khả năng xuất hiện một mối kình địch mới với Gillingham, được gọi là Derby A2 hoặc Derby "Kent", do thị trấn Bromley từng nằm trong ranh giới lịch sử của Kent cho tới khi Đại Luân Đôn được thành lập vào năm 1965.[135]

Trong văn hóa đại chúng

Năm 1956, nghệ sĩ hài Fred Emney quay một cảnh cho loạt phim tình huống Emney Enterprises trước khi trận đấu giữa Gillingham và Brighton & Hove Albion bắt đầu. Đoạn phim có cảnh Emney thừa cân, đội mũ lưỡi trai mềm, đeo kính một mắt và hút xì gà, rê bóng qua toàn bộ hàng thủ của The Gills rồi ghi bàn.[136] Bộ phim năm 2005 Green Street sử dụng các cảnh hành động được quay trong một trận đấu giữa Gillingham và West Ham United, dù lời thoại trong phim lại cho biết đội đối đầu với West Ham là Birmingham City để phù hợp với mạch truyện của phim.[137] Một bộ phim mang tên The Shouting Men, phát hành vào tháng 3 năm 2010, xoay quanh một nhóm cổ động viên Gillingham và có những cảnh quay tại Priestfield.[55]

Xem thêm

  • Brian Moore's Head Looks Uncannily Like London Planetariumfanzine посвященный câu lạc bộ, tồn tại dưới dạng in từ năm 1988 đến năm 2006 và sau đó có một giai đoạn ngắn tồn tại dưới dạng webzine. Tên gọi này được đặt để tôn vinh bình luận viên bóng đá Brian Moore, một cổ động viên Gillingham và cựu thành viên hội đồng quản trị.
  • Chatham Town WFC – câu lạc bộ bóng đá nữ trước đây từng liên kết với Gillingham F.C.

Ghi chú

  1. ^ Third Division South từ năm 1920 đến năm 1958, Third Division từ năm 1958 đến năm 1992, Second Division từ năm 1992 đến năm 2004, League One từ năm 2004
  2. ^ Fourth Division từ năm 1958 đến năm 1992, Third Division từ năm 1992 đến năm 2004, Football League Two từ năm 2004

Tham khảo

  1. ^ "Gillingham". English Football League. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  2. ^ a b Triggs 1984, tr. 1.
  3. ^ a b c d Triggs 1984, tr. 8.
  4. ^ Triggs 1984, tr. 4.
  5. ^ Triggs 1984, tr. 5.
  6. ^ a b c d e "Gillingham". The Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  7. ^ Triggs 1984, tr. 6.
  8. ^ Elligate 2009, tr. 102.
  9. ^ Triggs 1984, tr. 10.
  10. ^ a b Triggs 1984, tr. 13.
  11. ^ Triggs 1984, tr. 16.
  12. ^ a b Triggs 1984, tr. 19.
  13. ^ a b Triggs 1984, tr. 26.
  14. ^ a b Triggs 1984, tr. 54.
  15. ^ a b c d e "Gillingham FC History (1893– )". Gillingham F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014.
  16. ^ Triggs 2001, tr. 82.
  17. ^ "Football: Gillingham respond to protest". The Times. ngày 4 tháng 1 năm 1988. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2021 – qua Gale.
  18. ^ "Football: Gillingham dismiss Peacock as manager". The Times. ngày 30 tháng 12 năm 1987. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2021 – qua Gale.
  19. ^ Elligate 2009, tr. 105.
  20. ^ Haylett, Trevor (ngày 31 tháng 5 năm 1999). "Now City turn lost cause into a triumph". The Guardian. tr. 25. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021 – qua Newspapers.com.
  21. ^ Pike, Keith (ngày 31 tháng 5 năm 1999). "City stage another Manchester late show". The Times. tr. 31. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2021 – qua Gale.
  22. ^ a b Jon Brodkin (ngày 26 tháng 4 năm 2001). "Pulis 'drank champagne' after sacking". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  23. ^ "Taylor-made for top job". BBC Sport. ngày 14 tháng 11 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  24. ^ "Second time lucky for Gills". BBC Sport. ngày 28 tháng 5 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  25. ^ a b "Hessenthaler steps down at Gills". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
  26. ^ "Gills unveil Ternent as manager". BBC Sport. ngày 7 tháng 12 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  27. ^ "Leeds 2-1 Gillingham". BBC. ngày 3 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  28. ^ "Gillingham 1-0 Shrewsbury". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2009.
  29. ^ "Wycombe 3-0 Gillingham". BBC. ngày 8 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  30. ^ "Manager Mark Stimson leaves Gillingham". BBC. ngày 10 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  31. ^ "Andy Hessenthaler named new Gillingham Manager". BBC. ngày 21 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  32. ^ Cawdell, Luke (ngày 22 tháng 4 năm 2013). "Manager Martin Allen pays tribute to club's fans as sell-out crowd see Gillingham crowned League 2 champions". KentOnline. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  33. ^ Cawdell, Luke (ngày 20 tháng 4 năm 2020). "Looking back at the day Gillingham won the League 2 title at Priestfield in front of a sell-out crowd". KentOnline. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  34. ^ a b "Peter Taylor drafted in following sacking of Martin Allen at Gillingham". The Independent. ngày 13 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  35. ^ "Gillingham 0–2 Rotherham United". BBC. ngày 20 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2022.
  36. ^ "Gillingham: Brad Galinson completes takeover after buying majority stake". BBC Sport. ngày 23 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2022.
  37. ^ Cawdell, Luke (ngày 3 tháng 1 năm 2023). "Scally 'remains a big asset to Gillingham' says new owner". Kent Online (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2023.
  38. ^ "Ground history for Gillingham". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  39. ^ "Local history: Gillingham Football Club". Medway Council. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  40. ^ "The Changing Face of KRBS Priestfield". Gillingham F.C. ngày 7 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014.
  41. ^ "Opposition: Gillingham". Southend United F.C. ngày 26 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  42. ^ a b "Gillingham to change stadium name". BBC. ngày 19 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  43. ^ "New sponsor named..." Gillingham F.C. ngày 23 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  44. ^ "Gillingham – Priestfield Stadium". Yorkshire Evening Post. ngày 27 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  45. ^ "League One 2018/2019 » Attendance » Home matches". worldfootball.net. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  46. ^ "Powell impressed with Kent crowd". BBC. ngày 21 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  47. ^ "Gillingham ordered to leave training ground by council". BBC. ngày 4 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  48. ^ Bradley & Triggs 1994, tr. 54.
  49. ^ Bradley & Triggs 1994, tr. 92.
  50. ^ "Shoot-out success for City". BBC. ngày 30 tháng 5 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  51. ^ "Shirty fans win kit battle". BBC. ngày 19 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  52. ^ "Gills Go Back to Black". Gillingham F.C. ngày 5 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  53. ^ "Back in Blue". Gillingham F.C. ngày 4 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013.
  54. ^ "Gillingham". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  55. ^ a b "Movie blockbuster to score with Gills fans plot". Eastern Daily Press. ngày 28 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  56. ^ Steve Tongue (ngày 29 tháng 5 năm 1999). "Football: Forgotten club ready to surprise". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  57. ^ Elligate 2009, tr. 152.
  58. ^ Triggs 2001, tr. 87, 134, 140, 170, 211, 292.
  59. ^ "Fans could decide kit colour". BBC. ngày 19 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  60. ^ Bennett, Ellen (ngày 23 tháng 4 năm 2004). "Gillingham FC signs £250.000 shirt sponsor … MHS Homes". Building (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2025.
  61. ^ "Automatic Retailing sponsor Gills". Gillingham F.C. ngày 1 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  62. ^ "New sponsor named". Gillingham F.C. ngày 23 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  63. ^ Nickalls, Amy (ngày 5 tháng 5 năm 2018). "Medway Council confirmed as new sponsor for Gillingham Football Club". Kent Online. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  64. ^ "Bauvill become new front of shirt sponsor". Gillingham F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2025.
  65. ^ "First Team". Gillingham F.C. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2024.
  66. ^ a b "Past Masters - Brian Yeo" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  67. ^ a b "Choose Your Greatest XI" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  68. ^ Triggs 2001, tr. 336.
  69. ^ "Past Masters - Dick Tydeman" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  70. ^ Triggs 2001, tr. 171.
  71. ^ Gillingham Football Club 1975-76 Supporters Handbook. The Blue Supporter's Association. 1975. tr. 25. Damien Richardson is current Player-of-the-Year. He earned the award with some great performances last season.
  72. ^ a b c d "Vote For Your Greatest Centre-Half" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  73. ^ a b Triggs 2001, tr. 331.
  74. ^ a b "Vote for Your Greatest Left Back" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  75. ^ "King Bruce". Kent Evening Post. tháng 5 năm 1982. Steve [Bruce], who has already won the supporter's association award, won this year's Player of the Year title with a landslide victory.
  76. ^ Triggs 2001, tr. 289.
  77. ^ "On This Day... - News - Gillingham" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  78. ^ "Choose Your Greatest No.2" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  79. ^ a b "Choose Your Greatest Striker" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  80. ^ Triggs 2001, tr. 251.
  81. ^ Triggs 2001, tr. 326.
  82. ^ Triggs 2001, tr. 199.
  83. ^ Triggs 2001, tr. 89.
  84. ^ Triggs 2001, tr. 139.
  85. ^ a b Hudd, Tony (tháng 5 năm 1994). "Emotional night as Banks scoops pool". Kent Evening Post. Skipper Richard Green bidding for an unprecedented third successive accolade, had to be content with being runner up.
  86. ^ Triggs 2001, tr. 306.
  87. ^ "Start of the Season". Official Matchday Magazine of Gillingham Football Club. Gillingham vs. Preston North End: 28. ngày 9 tháng 8 năm 1997. Andy Hessenthaler - Gillingham Player of the Year
  88. ^ Triggs 1999, tr. 128.
  89. ^ "Super Bob to Launch Legends Lounge" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  90. ^ "Hessenthaler quits as Gills boss". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 11 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  91. ^ "Smith signs four-year contract". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 9 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  92. ^ "Gills skipper collects glittering prizes". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  93. ^ "Gillingham 2-1 Palace" (bằng tiếng Anh). BBC Sport. ngày 4 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  94. ^ "Gills: only big fee would buy Spiller". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 6 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  95. ^ "Players sweat on futures". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 5 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  96. ^ "Keeper Brown wins player accolade". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  97. ^ "Lions try to tempt Gills midfielder". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 5 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  98. ^ "Royce crowned player of the year". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 4 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  99. ^ "Simon King is named Gillingham Player of the Year". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  100. ^ "Andy Barcham collects four trophies at sombre Gillingham awards night". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  101. ^ "Gillingham striker Cody McDonald takes plaudits with coveted player-of-the-year honour at club's awards ceremony". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 5 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  102. ^ "Adam Barrett, Stuart Nelson, Bradley Dack and Matt Fish scoop awards at the Gillingham player-of-the-year event". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  103. ^ "Keeper Stuart Nelson wins Gills' player-of-the-year award". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  104. ^ "John Egan Wins Player of the Year" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  105. ^ "Bradley Dack Dominates the Player of the Year Awards" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  106. ^ "Gillingham player-of-the-year for 2016-17 season is Josh Wright". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  107. ^ "Mark Byrne named Gillingham player-of-the-year for the 2017/18 season". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  108. ^ "Barry Fuller is named Gillingham player-of-the-year for the 2018/19 season". Kent Online (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  109. ^ "Connor Ogilvie named Player of the Year" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  110. ^ "Kyle Dempsey named Player of the Year" (bằng tiếng Anh). Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2022.
  111. ^ Cawdell, Luke (ngày 1 tháng 5 năm 2022). "Stuart O'Keefe voted Gillingham supporters' player of the year 2021/22; Chairman Paul Scally insists they will be a better club next season". Kent Online (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2022.
  112. ^ Cawdell, Luke (ngày 1 tháng 5 năm 2023). "Morris takes top award at Gillingham". Kent Online (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2023.
  113. ^ "Conor Masterson voted Player of the Year". Gillingham F.C. (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2024.
  114. ^ "Player of the Year Winners 2024/2025". www.gillinghamfootballclub.com (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.
  115. ^ "Who's Who". Gillingham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2023.
  116. ^ Bradley & Triggs 1994, tr. 20.
  117. ^ "Manager History for Gillingham". Soccerbase. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  118. ^ a b Bradley & Triggs 1994, tr. 394.
  119. ^ Bradley & Triggs 1994, tr. 396.
  120. ^ a b Bradley & Triggs 1994, tr. 397.
  121. ^ Bradley & Triggs 1994, tr. 398.
  122. ^ "Taylor-made for top job". BBC Sport. ngày 14 tháng 11 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2008.
  123. ^ "New Brompton Football Club". Sporting Life. ngày 9 tháng 5 năm 1900. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2023 – qua British Newspaper Archive.
  124. ^ Triggs 2001, tr. 158.
  125. ^ a b c d "All Time Gillingham Records & Achievements". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  126. ^ a b Triggs 2001, tr. 344.
  127. ^ Triggs 2001, tr. 226.
  128. ^ Triggs 2001, tr. 349.
  129. ^ "Rivalry Uncovered!" (PDF). The Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  130. ^ "Millwall 1-2 Gillingham". BBC. ngày 24 tháng 11 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  131. ^ "Gillingham vs Swindon Town". Gillingham F.C. ngày 14 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  132. ^ "Town set to pay price for crowd trouble". Swindon Advertiser. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  133. ^ Simon O'Hagan (ngày 10 tháng 1 năm 1996). "Butler's hat-trick lifts Gillingham to top". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2021.
  134. ^ "BBC News | UK | Football fan jailed for killing rival supporter". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2022.
  135. ^ "Kent Tonight Special: The 'Kent' Derby Preview". Kent Online. KM Media Group. ngày 4 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
  136. ^ Elligate 2009, tr. 22.
  137. ^ Elligate 2009, tr. 54.

Tác phẩm được trích dẫn

  • Triggs, Roger (1984). Gillingham Football Club: A Chronology 1893-1984. Kent County Libraries. tr. 1.
  • Triggs, Roger (1999). Images of England: Gillingham Football Club. Tempus Publishing. ISBN 978-0-75241-567-3.
  • Triggs, Roger (2001). The Men Who Made Gillingham Football Club. Tempus Publishing Limited. ISBN 0-7524-2243-X.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Gillingham F.C.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).