Bước tới nội dung

Hải Mê Thất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hải Mê Thất
Tiền nhiệmQuý Do
Kế nhiệmMông Kha
Thông tin chung
Mất1251
Phối ngẫuQuý Do
Hậu duệKhoja
Naqu

Oa Ngột Hải Mê Thất (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; khoảng đầu thế kỷ 13 – 1251) là chính thất của Quý Do, vị Đại Hãn thứ ba của Đế quốc Mông Cổ, đồng thời là nữ nhiếp chính trên danh nghĩa của đế quốc từ sau khi Quý Do qua đời năm 1248 cho đến khi Mông Kha lên ngôi năm 1251.

Tiểu sử

Năm sinh chính xác của Oa Ngột Hải Mê Thất không rõ. Sử gia Anne Broadbridge cho rằng bà sinh vào đầu thế kỷ 13 dựa trên thời điểm kết hôn của bà.[1] Tên của bà có nguồn gốc Turk, mang ý nghĩa “Chúng tôi đã tìm kiếm một bé trai”, phản ánh việc cha mẹ bà được cho là thất vọng vì không có con trai.[2]

Oa Ngột Hải Mê Thất xuất thân từ bộ tộc Miệt Nhi Khất, bộ tộc bị Thành Cát Tư Hãn chinh phục năm 1204.[3] Sau khi người Miệt Nhi Khất nổi dậy năm 1216, đại tướng Tốc Bất Đài tiêu diệt các thủ lĩnh của họ vào năm 1218 và những người sống sót bị phân tán làm nô lệ trong đế quốc.[4]

Đầu thập niên 1220, Oa Ngột Hải Mê Thất được gả cho Quý Do, trưởng nam của Oa Khoát ĐàiThoát Liệt Ca Na.[5] Do xuất thân từ một bộ tộc đã tan rã và không mang lại nhiều liên minh chính trị, cuộc hôn nhân này được xem là không có giá trị chiến lược lớn. Một số học giả cho rằng Thoát Liệt Ca Na cố tình chọn bà vì cùng nguồn gốc Miệt Nhi Khất.[6]

Hai người có hai con trai là Khoja và Naqu. Ngoài ra còn có thể bà là mẹ của ba công chúa Elmish, Babaqan và một người con gái không rõ tên.[7]

Thời Quý Do Hãn

Oa Ngột Hải Mê Thất hầu như không can dự vào chính trị trong thời kỳ chồng bà còn sống.[8]

Từ năm 1235, Quý Do tham gia chiến dịch tây chinh chống Rus Kiev và tại đây ông mâu thuẫn gay gắt với Bạt Đô.[9]

Sau khi Oa Khoát Đài qua đời năm 1241, Thoát Liệt Ca Na nắm quyền nhiếp chính trong suốt 5 năm. Đến năm 1246, Quý Do đánh bại các ứng viên khác như Shiremun để lên ngôi Đại Hãn.[10]

Cuối năm 1247, Quý Do đem quân tiến về phía tây. Dù chính thức tuyên bố tiếp tục mở rộng đế quốc, nhiều người cho rằng mục tiêu thực sự của ông là đối thủ cũ Bạt Đô.[11]

Tuy nhiên, sức khỏe Quý Do suy giảm nhanh chóng và ông qua đời tại Qum-Senggir vào tháng 4 năm 1248.[12]

Nhiếp chính

Sau cái chết của Quý Do Hãn, với sự đề xuất của Bạt ĐôToa Lỗ Hòa Thiếp Ni, Oa Ngột Hải Mê Thất trở thành nhiếp chính của Đế quốc Mông Cổ.[13]

Bà gửi sứ giả thông báo cái chết của Đại Hãn và đưa thi hài ông về lãnh địa gần Tacheng ngày nay để an táng.[14]

Không giống Thoát Liệt Ca Na, Oa Ngột Hải Mê Thất thiếu kinh nghiệm chính trị và gần như bỏ mặc việc triều chính. Nhiều ghi chép cho biết bà dành phần lớn thời gian ở cùng các pháp sư và thầy shaman Mông Cổ.[15]

Trong lúc đó, Bạt Đô tổ chức đại hội Kurultai gần hồ Issyk-Kul nhằm đưa Mông Kha, con trai của Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni, lên ngôi.[16]

Nhiều quý tộc Mông Cổ phản đối vì đại hội không tổ chức tại trung tâm Mông Cổ. Oa Ngột Hải Mê Thất không trực tiếp tham dự mà chỉ cử Bala làm đại diện.[17]

Trong khi đó, hai con trai của bà là Khoja và Naqu hành động độc lập, còn bản thân bà lại ủng hộ Shiremun lên ngôi Đại Hãn.[18]

Đại hội Kurultai năm 1250 cuối cùng bầu Mông Kha làm Đại Hãn mới. Oa Ngột Hải Mê Thất cùng nhiều thành viên nhà Oa Khoát Đài từ chối công nhận kết quả này.[19]

Thất bại và cái chết

Sau lễ đăng cơ chính thức của Mông Kha ngày 1 tháng 7 năm 1251, Shiremun và Naqu âm mưu đảo chính nhưng thất bại khi doanh trại bí mật bị phát hiện.[20]

Mông Kha bắt giữ phe đối lập và yêu cầu Oa Ngột Hải Mê Thất công khai thần phục. Sau khi bà từ chối, bà bị bắt và giải tới doanh trại của Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni.[21]

Tại đây, bà bị lột trần và tra tấn bằng roi gỗ cháy đỏ. Sau một phiên xử mang tính hình thức, bà bị kết tội phù thủy và bị hành quyết bằng cách quấn trong thảm nỉ rồi ném xuống sông Kherlen cho chết đuối.[22]

Tham khảo

  1. ^ Anne Broadbridge, Women and the Making of the Mongol Empire, 2018, tr. 196.
  2. ^ Christopher Atwood, Encyclopedia of Mongolia and the Mongol Empire, tr. 398.
  3. ^ Christopher Atwood, tr. 347.
  4. ^ Anne Broadbridge, tr. 196–197.
  5. ^ Christopher Atwood, tr. 211.
  6. ^ Anne Broadbridge, tr. 201.
  7. ^ Anne Broadbridge, tr. 197.
  8. ^ Christopher Atwood, tr. 418.
  9. ^ Timothy May, The Mongol Empire, tr. 122–123.
  10. ^ Anne Broadbridge, tr. 179–182.
  11. ^ Timothy May, tr. 130–131.
  12. ^ Christopher Atwood, tr. 212–213.
  13. ^ Bruno De Nicola, Women in Mongol Iran, tr. 74.
  14. ^ Ruth Dunnell, The Cambridge History of the Mongol Empire, tr. 75–76.
  15. ^ Christopher Atwood, tr. 419.
  16. ^ Timothy May, tr. 132–133.
  17. ^ Timothy May, tr. 133.
  18. ^ Anne Broadbridge, tr. 205.
  19. ^ Christopher Atwood, tr. 419.
  20. ^ Timothy May, tr. 135–137.
  21. ^ Anne Broadbridge, tr. 217–218.
  22. ^ Timothy May, tr. 138.