Hậu phi Việt Nam
Đây là danh sách vợ của các vua Việt Nam từ thời nhà Ngô đến nhà Nguyễn.

Khái quát về thứ bậc trong cung
Đại Việt thông sử do Lê Quý Đôn biên soạn có đoạn viết: "Quốc thống nước ta nếu vẫn noi gương người xưa, phong tục cũ chưa đổi, có Đinh Tiên Hoàng lập năm Hoàng hậu, một là Đan Gia (丹嘉), hai là Trinh Minh (貞明), ba là Kiểu Quốc (矯國), bốn là Cồ Quốc (𡚝國), năm là Ca Ông (歌翁). Lê Đại Hành lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu (大勝明), cùng với Phụng Càn Chí Lý (奉乾至理), Thuận Thánh Minh Đạo (順聖明道), Trịnh Quốc (鄭國), Phạm Hoàng hậu là năm Hoàng hậu. Lý Thái Tổ lập sáu Hoàng hậu, duy có đích phu nhân gọi là Lập Giáo hoàng hậu (立教), quy chế xe kiệu và y phục khác hẳn với các cung khác, sau lại lập thêm ba Hoàng hậu nữa. Lý Thái Tông lập bảy Hoàng hậu, có Mai Hoàng hậu, Đinh Hoàng hậu, Vương Hoàng hậu, lại có nàng hầu được lập làm Thiên Cảm Hoàng hậu (天感). Lý Nhân Tông lập hai Hoàng hậu là Thánh Cực (聖極), Chiêu Thánh (昭聖), sau lại lập thêm ba Hoàng hậu là Lan Anh (蘭英), Khâm Thiên (欽天), Chấn Bảo (震寶)".
Triều đại nhà Lý, Thái Tông ban chỉ dụ về thứ bậc chốn nội cung: "Hoàng hậu và phi tần mười ba người, Ngự nữ mười tám người, Nhạc kỹ hơn trăm người". Ghi chú của chính sử không phân định về tôn ty danh phận, nhưng dựa theo sử liệu qua các đời Thánh Tông, Thần Tông, Anh Tông, nội cung phi tần trừ Nguyên phi (元妃) kế dưới Hoàng hậu, có danh phận cao nhất, còn có các tước vị Thần phi (宸妃), Quý phi (貴妃), Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Hiền phi (賢妃), Thứ phi (庶妃), Phu nhân (夫人). Bậc Phu nhân lệ được ban hai mỹ từ làm huy hiệu, như Thánh Tông có Ỷ Lan (倚蘭), Nhân Tông có Thần Anh (宸英), Thần Tông có Minh Bảo (明寶), Cảm Thánh (感聖), Phụng Thánh (奉聖), Huệ Tông có Thuận Trinh (順貞). Chế độ nội cung nhà Trần ban đầu xếp đặt thứ bậc theo cách gọi của nhà Lý. Thời Minh Tông có Sung viên (充媛) Lê thị, nhiều khả năng nhà Vua dựa theo lễ giáo cung đình phương Bắc mà dùng các tước vị trong Cửu tần (九嬪) ban phong cho nội cung.
Triều đại Lê sơ, Thánh Tông đặt ra chế độ nội cung:
- Tam phi (三妃): Quý phi (貴妃), Minh phi (明妃), Kính phi (敬妃).
- Cửu tần (九嬪):
- Tam chiêu (三昭): Chiêu nghi (昭儀), Chiêu dung (昭容), Chiêu viên (昭媛).
- Tam tu (三修): Tu nghi (修儀) Tu dung (修容), Tu viên (修媛).
- Tam sung (三充): Sung nghi (充儀), Sung dung (充容), Sung viên (充媛).
- Lục chức (六職): Tiệp dư (婕妤), Dung hoa (容華), Tuyên vinh (宣榮), Tài nhân (才人), Lương nhân (良人), Mỹ nhân (美人).
Các Hoàng đế Lê sơ thường không lập Hoàng hậu, chỉ lấy bậc Quý phi đứng đầu trông nom công việc nội cung.
Triều nhà Nguyễn thường không lập Hoàng hậu, trừ trường hợp Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, người vợ tào khang theo phò Gia Long từ thuở hàn vi, Khiêm Hoàng hậu được em chồng là Hiệp Hòa tôn phong và Nam Phương Hoàng hậu, Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, được Bảo Đại - vị Hoàng đế chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sách lập. Tất cả vợ chính của các Hoàng đế từ Minh Mạng đến Khải Định đều chỉ là Hoàng quý phi hoặc Nhất giai phi. Theo quy định nhà Nguyễn, Hoàng quý phi ở trên bậc nhất giai, giúp Hoàng thái hậu cất đặt và chỉnh tề công việc nội cung, là danh hiệu tôn quý nhất nội cung nhà Nguyễn.
Theo Nội các triều Nguyễn-Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, vào đầu thời Nguyễn, thứ bậc nội cung được quy định: "Lúc quốc sơ định lệ cung giai. Tam phi là Quý phi, Minh phi, Kính phi. Tam tu là Tu nghi, Tu dung, Tu viên. Cửu tần là Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tần, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần. Tam chiêu là Chiêu nghi, Chiêu dung, Chiêu viên. Tam sung là Sung nghi, Sung dung, Sung viên. Lục chức là Tiệp dư, Dung hoa, Nghi nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân".
Đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Minh Mạng có chỉ dụ định lại thứ bậc của nội cung, "Nay theo gương cổ nhân, đặt chín bậc phi tần ở nội cung, khiến cho chốn khuê môn trật tự phân minh, phong hóa tôn nghiêm, tuân theo mãi mãi":
- Hoàng quý phi (皇貴妃).
- Quý phi (貴妃), Hiền phi (賢妃), Thần phi (宸妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
- Đức phi (德妃), Thục phi (淑妃), Huệ phi (惠妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
- Quý tần (貴嬪), Hiền tần (賢嬪), Trang tần (莊嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
- Đức tần (德嬪), Thục tần (淑嬪), Huệ tần (惠嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
- Lệ tần (麗嬪), An tần (安嬪), Hòa tần (和嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
- Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
- Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
- Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
- Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
- Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流)
- Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).
Lại xuống dụ: "Trước đã chuẩn định nội cung chín bậc, trong đó có Đức phi, nay đổi làm Gia phi (嘉妃) ".
Các danh hiệu không cố định mà thay đổi qua các triều Hoàng đế hoặc ngay trong cùng một triều. Như hai năm sau khi ban hành chế độ trên, năm Minh Mạng thứ 19 (1838), Minh Mạng lại có chỉ dụ thay đổi trong bậc ngũ giai như sau: "Nguyên trước định lệ cung giai, Lệ tần, An tần, Hòa tần cùng là bậc ngũ giai, nay đổi làm An tần, Hòa tần, Lệ tần". Cũng trong năm này, danh xưng của các phi tần trong chín bậc lại có sự thay đổi như sau:
- Hoàng quý phi (皇貴妃).
- Quý phi (貴妃), Đoan phi (端妃), Lệnh phi (令妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
- Thành phi (誠妃), Trinh phi (貞妃), Thục phi (淑妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
- Quý tần (貴嬪), Lương tần (良嬪), Đức tần (德嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
- Huy tần (徽嬪), Ý tần (懿嬪), Nhu tần (柔嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
- Nhân tần (仁嬪), Nhã tần (雅嬪), Thuận tần (順嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
- Từ Lục giai Tiệp dư (六階婕妤) xuống đến Thất giai Quý nhân (七階貴人), Bát giai Mỹ nhân (八階美人), Cửu giai Tài nhân (九階才人), Tài nhân vị nhập giai (才人未入階) và Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女) không thay đổi.
Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Thiệu Trị lại cho đổi gọi Đoan phi làm Lương phi, vì chữ "Lương" (良) đã được đưa lên tấn phong cho bậc nhất giai nên Lương tần ở tam giai được đổi thành Thụy tần (瑞嬪).
Quốc Sử quán ghi lại trong Đại Nam thực lục vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 3 (1850), Tự Đức xuống dụ "Định rõ thứ bậc ở nội cung". Theo tờ dụ này, "Về Hoàng quý phi trở lên, đã có lệ sẵn, còn từ phi tần trở xuống, thì chia làm các bậc với các danh xưng và mỹ từ như sau":
- Thuận phi (順妃), Thiện phi (善妃), Nhã phi (雅妃) làm bậc nhất hay Nhất giai phi (一階妃).
- Cung phi (恭妃), Cần phi (勤妃), Chiêu phi (昭妃) làm bậc nhì hay Nhị giai phi (二階妃).
- Khiêm tần (謙嬪), Thận tần (慎嬪), Nhân tần (仁嬪), Thái tần (泰嬪) làm bậc ba hay Tam giai tần (三階嬪).
- Khoan tần (寬嬪), Giai tần (佳嬪), Tuệ tần (慧嬪), Giản tần (簡嬪) làm bậc bốn hay Tứ giai tần (四階嬪).
- Tĩnh tần (靜嬪), Cẩn tần (勤嬪), Tín tần (信嬪), Uyển tần (婉嬪) làm bậc năm hay Ngũ giai tần (五階嬪).
- Tiệp dư (婕妤) làm bậc sáu hay Lục giai Tiệp dư (六階婕妤).
- Quý nhân (貴人) làm bậc bảy hay Thất giai Quý nhân (七階貴人).
- Mỹ nhân (美人) làm bậc tám hay Bát giai Mỹ nhân (八階美人).
- Tài nhân (才人) làm bậc chín hay Cửu giai Tài nhân (九階才人).
- Tài nhân vị nhập giai (才人未入階), còn gọi là Tài nhân vị nhập lưu (才人未入流).
- Cung nga (宮娥), Thể nữ (婇女), gọi chung là Cung nhân (宮人).
Riêng hàng phi trong chín bậc ấy, đến tháng 12 năm Tự Đức thứ 14 (1862), Cần phi được đổi thành Đôn phi (敦妃), và sau đó một tháng, Chiêu phi được đổi thành Mẫn phi (敏妃). Đến năm Tự Đức thứ 23 (1870), Lượng tần (諒嬪) Nguyễn Văn thị được tấn phong làm Khiêm phi (謙妃), sau đổi làm Học phi (學妃).
Tháng 8 năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), Đồng Khánh ban dụ: "Căn cứ theo tấu trình của Cơ Mật viện và Lễ bộ nói rằng nội chức cũng cần có người, nên xin xem xét ban phong để sáng tỏ quốc điển, vì vậy đành phải chuẩn y cho phép thi hành. Nay xét những cung tần gồm năm người hầu hạ trong cung đã lâu ngày, nghiêm chỉnh tuân thủ phép tắc, truyền chuẩn y tấn phong cho Trần Đăng thị làm Quan phi (觀妃), Phan Văn thị làm Giai phi (佳妃), Hồ Văn thị làm Chính tần (正嬪), Nguyễn Văn thị làm Nghi tần (宜嬪), Trần Văn thị làm Dự tần (豫嬪)".
Nhà Ngô
Nhà Ngô (939-965) | |||
| 939 | 965 | 1945 | |
| Vương | Vương hậu | Tên thật | Chức vị | Ghi chú |
| Ngô Quyền | Dương Vương hậu | Dương Thị Vy | Vương hậu (939)[1] Quốc mẫu (950) |
Tên Dương Như Ngọc không được sử sách ghi nhận |
Nhà Đinh
Nhà Đinh (968-979) | ||||
| 939 | 968 | 979 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hoàng hậu | Tên thật | Ghi chú | |
| Đinh Tiên Hoàng | 1 | Đan Gia Hoàng hậu[2] | Hoàng Thị Thi | Bà sinh ra Đinh Hạng Lang và có hai con lấy hai con riêng khác của Vua Đinh |
| 2 | Trinh Minh Hoàng hậu[2] | Đinh Thị Tỉnh | Đệ nhị cung phi, sinh ra công chúa Phù Dung, sau có công đánh giặc Tống. | |
| 3 | Kiều Quốc Hoàng hậu[2] | Dương Thị Nguyệt | Là người truyền dạy di sản văn hóa Trò Xuân Phả và sinh ra công chúa Ngọc Nương | |
| 4 | Cồ Quốc Hoàng hậu[2] | Nguyễn Thị Sen | Được hậu thế suy tôn là thánh tổ nghề may, là người sinh ra công chúa Liên Hoa. | |
| 5 | Ca Ông Hoàng hậu[2] | Dương Vân Nga | Hoàng hậu hai triều Đinh - Lê, sinh ra Vua Đinh Toàn và Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân |
Nhà Tiền Lê
Nhà Tiền Lê (980-1009) | ||||
| 939 | 980 | 1009 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hoàng hậu | Tên thật | Ghi chú | |
| Lê Đại Hành | 1 | Đại Thắng Minh Hoàng hậu | Dương thị | nguyên là Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng, mẹ sinh Phế Đế Đinh Toàn nhà Đinh,[2] Linh Hiển Hoàng hậu nhà Lý. Tên dã sử Dương Vân Nga chứ không có trong chính sử. |
| 2 | Phụng Càn Chí Lý Hoàng hậu[2] | - | ||
| 3 | Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng hậu[2] | - | ||
| 4 | Trịnh Quốc Hoàng hậu[2] | - | ||
| 5 | Phạm Hoàng hậu[2] | Phạm thị | ||
| 6 | Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng hậu | - | có tên là Diệu nhưng không rõ họ. Mẹ sinh Lê Trung Tông, Lê Ngọa Triều. Danh hiệu Thái hậu do Lê Ngọa Triều truy tôn.[2] | |
| Lê Trung Tông | 1 | - | Phạm Thị Duyên | mẹ sinh Lê Long Duyên. Sau khi Trung Tông qua đời thì chạy trốn về khu vực cửa sông Cà Lồ. |
| Lê Long Đĩnh | 1 | Cảm Thánh Hoàng hậu | - | Còn 3 hoàng hậu khác không rõ danh hiệu và tên[2] |
| 2 | Cung nhân | Tiêu thị | Năm 1007, vua cử em trai là Minh Xưởng mang cống vật (tê ngưu trắng) sang nhà Tống để cầu xin kinh Phật. Đến mùa xuân năm 1009, khi Minh Xưởng từ nhà Tống trở về nước, không chỉ mang theo kinh Đại Tạng thành công mà còn dụ dỗ được một người con gái người Tống là Tiêu Thị dâng cho vua. Vua đã thu nhận Tiêu Thị làm cung nhân. |
Nhà Lý
Nhà Lý (1010-1225) | ||||
| 939 | 1010 | 1225 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Lý Thái Tổ (2 lần lập hoàng hậu, có tổng số 9 hoàng hậu[2][3]) | 1 | Lập Giáo Hoàng hậu | Lê Thị Phất Ngân[4] | Là vợ cả,[5] mẹ Vua Lý Thái Tông. |
| 2 | Tá Quốc Hoàng hậu[3] | - | ||
| 3 | Lập Nguyên Hoàng hậu[3] | - | ||
| Lý Thái Tông (lập 8 hoàng hậu,[3] nhưng chỉ có 4 bà có danh hiệu hoặc có họ rõ ràng) | 1 | Linh Cảm Kim Thiên Hoàng hậu | Mai thị[3] | mẹ sinh Lý Thánh Tông. |
| 2 | Thiên Cảm Hoàng hậu | Dương thị | Sách lập tháng 7 âm lịch năm Thông Thuỵ thứ hai (1035). Bà nguyên là vợ lẽ được sủng của vua.[6] Theo dã sử là vai cô của Thượng Dương Hoàng hậu. | |
| 3 | Vương Hoàng hậu | Vương thị[3] | ||
| 4 | Đinh Hoàng hậu | Đinh thị[3] | ||
| Lý Thánh Tông (lập tổng số 8 hoàng hậu,[7] nhưng chỉ có 1 hoàng hậu được ghi lại danh hiệu) | 1 | Thượng Dương Hoàng hậu | Dương thị | bị Linh Nhân Hoàng thái phi bức tử vào năm 1073, cùng với 72 Cung nhân |
| 2 | Phù Thánh Linh Nhân Hoàng hậu | Lê thị | mẹ sinh Lý Nhân Tông | |
| 3 | Thứ phi | Dương thị | Mẹ sinh của Thiên Thánh Công chúa | |
| Lý Nhân Tông | 1 | Thánh Cực Hoàng hậu | - | |
| 2 | Chiêu Thánh Hoàng hậu | - | không con | |
| 3 | Lan Anh Hoàng hậu | - | không con | |
| 4 | Khâm Thiên Hoàng hậu | - | không con | |
| 5 | Chấn Bảo Hoàng hậu | - | không con | |
| 6 | Thần Anh Hoàng hậu | - | mẹ nuôi của Lý Thần Tông. Danh hiệu Thần Anh Thái hậu do Thần Tông tôn[8] | |
| Lý Thần Tông (lập ít nhất 3 hoàng hậu[9]) | - | Chiêu Hiếu Hoàng hậu | Đỗ thị | vợ Sùng Hiền hầu, mẹ sinh ra Thần Tông |
| 1 | Lệ Thiên Hoàng hậu | Lý thị | con gái Lý Sơn[8] | |
| 2 | Linh Chiếu Hoàng hậu | Lê thị | con gái Phụ Thiên Đại vương và Thụy Thánh Công chúa; mẹ sinh Lý Anh Tông | |
| 3 | Chương Anh Thứ phi | Lý thị | ||
| 4 | Minh Bảo Phu nhân | Lê thị | con gái Lê Xương | |
| 5 | Nhật Phụng Phu nhân | - | ||
| 6 | Phụng Thánh Phu nhân | Lê Lan Xuân | Em gái của Linh Chiếu Hoàng hậu | |
| Lý Anh Tông | 1 | Chiêu Linh Hoàng hậu | Vũ thị | mẹ sinh Bảo Quốc Vương Lý Long Xưởng[10] |
| 2 | Linh Đạo Hoàng hậu | Đỗ Thụy Châu | mẹ sinh Lý Cao Tông.[11] | |
| 3 | Từ Nguyên phi | Từ thị[12] | ||
| 4 | Chế Thứ phi | Chế thị | bà là em gái của vua Jaya Harivarman I nước Chiêm Thành | |
| Lý Cao Tông | 1 | An Toàn Hoàng hậu | Đàm thị[10] | mẹ sinh Lý Huệ Tông |
| 2 | Trung phi | Vương thị | ||
| 3 | Hoàng phi | Sở thị | ||
| 4 | Lan phi | Triệu thị | ||
| Lý Huệ Tông | 1 | Thuận Trinh Hoàng hậu | Trần Thị Dung | con gái Trần Lý, em gái Trần Thừa, mẹ sinh Lý Chiêu Hoàng và Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu của nhà Trần[10] |
Nhà Trần
Nhà Trần (1225-1400) | ||||
| 939 | 1225 | 1400 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Trần Thái Tổ (truy tôn) |
1 | Thuận Từ Quốc Thánh Hoàng hậu | Lê Thị Diệu[13] | Mẹ sinh Trần Thái Tông, được tôn phong Hoàng thái hậu. |
| Trần Thái Tông | 1 | Chiêu Thánh Hoàng hậu | Lý Phật Kim (Thiên Hinh) | Nữ hoàng Nhà Lý, con gái Lý Huệ Tông và Linh Từ Quốc mẫu, em gái Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu, được lập làm Hoàng hậu nhà Trần sau khi nhường ngôi cho chồng. Sau bị giáng làm Chiêu Thánh Công chúa và tái giá với Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần. |
| 2 | Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu | Lý Ngọc Oanh | chị gái Chiêu Thánh Hoàng hậu, nguyên là vợ Trần Liễu; mẹ sinh Trần Thánh Tông[14] | |
| 3 | Huệ Túc Phu nhân | Hoàng Chu Linh | Con gái thổ quan nhà Tống Hoàng Bính. Rất giỏi bói toán[15]. | |
| Trần Thánh Tông | 1 | Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu | Trần Thị Thiều | con gái Khâm Minh Đại vương Trần Liễu và Thiện Đạo Quốc mẫu Trần Thị Nguyệt , mẹ sinh Trần Nhân Tông |
| 2 | Cung phi | Vũ Ngọc Lan | ||
| 3 | Cung phi | Trần Thị Khương | ||
| Trần Nhân Tông | 1 | Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu | Trần Thị Trinh | con gái Trần Hưng Đạo và Nguyên Từ Quốc mẫu, mẹ sinh Trần Anh Tông |
| 2 | Tuyên Từ Hoàng hậu | Trần Thị Tĩnh | em gái Khâm Từ Hoàng hậu.[16] | |
| 3 | Đệ Ngũ Cung phi | Đặng Thị Loan | Nguyên quán Nhân Thắng, Gia Bình, Bắc Ninh
Vì không có hậu tự nên hồi hương giúp dân. | |
| Trần Anh Tông | 1 | Văn Đức Phu nhân | Trần thị | nguyên phối của Anh Tông, con gái Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, chị gái Bảo Từ Hoàng hậu. Tuy là chính thất Thái tử phi nhưng chỉ được lập làm Phu nhân, sau đó bị phế. |
| 2 | Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu | Trần Thị Phùng | con gái Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng, em gái bà Văn Đức. | |
| 3 | Chiêu Từ Hoàng hậu | Trần thị | con gái Trần Bình Trọng và Thụy Bảo Công chúa, mẹ sinh Trần Minh Tông[17] | |
| 4 | Đệ Nhị Cung phi | Nguyễn Thị La | ||
| 5 | Từ Ý Thái Hòa Đệ Tam Cung phi | Nguyễn Thị Nguyệt Ảnh | thường gọi Bà chúa Muối, mất khi mang thai | |
| 6 | Tĩnh Huệ phi | Phạm thị | con gái Phạm Ngũ Lão[18] | |
| 7 | Giao Châu Thứ phi | có tư tình với Đoàn Nhữ Hài, triều đình luận án chém cả, nhưng được Huệ Túc Phu nhân Hoàng thị (phi tần của Trần Thái Tông) xin tha tội, sau được tác hợp với Đoàn Nhữ Hài | ||
| 8 | Đức phi | Đa La Thanh | con gái sư người Hồ là Du Chi Bà Lam. | |
| 9 | Hiền phi | Trần Thị Thái Bình | sinh Huy Chân Công chúa | |
| 10 | Nữ quan | Vương thị | sinh Huệ Chân Công chúa | |
| 11 | Nữ quan | Nguyễn Thị Diên | Xuất gia đi tu. | |
| Trần Minh Tông | 1 | Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu | Trần thị | con gái Huệ Võ Đại vương Trần Quốc Chẩn, mẹ Trần Dụ Tông |
| 2 | Minh Từ Hoàng thái phi | Lê thị | cô của Lê Quý Ly và là em gái khác cha của Hiến Từ, mẹ sinh Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông[17] | |
| 3 | Đôn Từ Hoàng thái phi | Lê thị | cô của Lê Quý Ly, em Minh Từ, mẹ sinh Trần Duệ Tông[17] | |
| 4 | Triều Môn Thứ phi | Trần thị | sinh Trần Nguyên Trác. Được cho là chủ mưu trong vụ nguyền rủa con của Hiến Từ. | |
| 5 | Thiên Xuân Thứ phi | |||
| Trần Hiến Tông | 1 | Hiển Trinh Thần phi | Trần thị | con gái Bình chương Huệ Túc Vương Trần Đại Niên, sinh được một công chúa |
| Trần Dụ Tông | 1 | Huy Từ Nghi Thánh Hoàng hậu | Trần thị | em gái Hiển Trinh Thần phi |
| Dương Nhật Lễ | 1 | Hoàng hậu | Trần thị | con gái Trần Nghệ Tông |
| Trần Nghệ Tông | 1 | Thuận Từ Thục Đức Hoàng hậu | Trần thị | |
| 2 | Hưng Khánh Thái hậu | Không rõ họ tên | Mẹ sinh Hậu Trần Giản Định Đế. Hưng Khánh Thái hậu là gọi theo niên hiệu Hưng Khánh của Giản Định Đế. | |
| Trần Duệ Tông | 1 | Gia Từ Hiển Trinh Hoàng hậu | Lê thị | em họ Lê Quý Ly, mẹ sinh Trần Phế Đế |
| 2 | Thần phi | Nguyễn Thị Bích Châu, biểu tự Bích Lưu | hi sinh làm vật tế thần biển khi Duệ Tông lên đường đánh Chiêm Thành, dưới thời nhà Lê được truy tặng Chế Thắng Phu nhân[19] | |
| 3 | Cung phi | Trần Thị Ngọc Hòa | trong dân gian gọi là Hoàng hậu Bạch Ngọc. Mẹ sinh Huy Chân công chúa. | |
| Trần Phế Đế | 1 | Quang Loan Hoàng hậu | Trần Thục Mỹ | con gái Trần Nghệ Tông, sau tái giá với Trần Hãng |
| Trần Thuận Tông | 1 | Khâm Thánh hoàng hậu | Lê Thánh Ngẫu | con gái Lê Quý Ly với Huy Ninh công chúa, mẹ sinh Trần Thiếu Đế[20] |
Nhà Hồ
Nhà Hồ (1400-1407) | ||||
| 939 | 1400 | 1407 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hoàng hậu | Tên thật | Ghi chú |
| Hồ Quý Ly | Thái Từ Hoàng hậu | Trần Thị | con gái Trần Minh Tông, chồng trước là tông thất Nhân Vinh, sau tái giá lấy Hồ Quý Ly, mẹ sinh Hồ Hán Thương. |
| Hồ Hán Thương | Hiến Gia hoàng hậu[20] | Trần Thị |
Hậu Lê
Lê Sơ
Lê sơ (1428-1527) | ||||
| 939 | 1428 | 1527 | 1945 | |
Trừ Uy Mục Trần Hoàng hậu và Tương Dực Khâm Đức Hoàng hậu, tất cả các Hoàng hậu từ Lê Thái Tông trở đi đều có danh phận cao nhất là Quý phi, sau khi mất mới có thụy hiệu là Hoàng hậu.
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Lê Thái Tổ | 1 | Cung Từ Hoàng hậu | Phạm Thị Ngọc Trần | Mẹ sinh Lê Thái Tông |
| 2 | Trịnh Thần phi | Trịnh Thị Ngọc Lữ | Mẹ sinh Quận Ai Vương Lê Tư Tề, con cả của Lê Thái Tổ[21] và trưởng nữ Lê Thị Đào Nữ. Bị hàng vị khi con phạm tội. | |
| 3 | Phạm Huệ phi | Phạm Thị Nghiêu[21] | Bị Lê Thái Tông ép tự sát. | |
| Lê Thái Tông | 1 | Tuyên Từ Hoàng hậu | Nguyễn Thị Anh [22] | mẹ sinh Lê Nhân Tông, nhiếp chính hơn 10 năm, bị Lê Nghi Dân sát hại, sau Lê Thánh Tông truy tôn thụy hiệu Tuyên Từ Nhân Ý Chiêu Túc Hoàng thái hậu |
| 2 | Quang Thục Hoàng hậu | Ngô Thị Ngọc Dao[23] | mẹ sinh Lê Thánh Tông và Diệu quốc công chúa Lê Thị Ngọc Phương | |
| 3 | Lê Tu dung | Lê Nhật Lệ | Nguyên là Huệ phi, con gái Lê Ngân [24] | |
| 4 | Bùi Quý nhân | Bùi thị | con gái của Ngự sử Trung thừa Bùi Cầm Hổ. Sinh Cung vương Lê Khắc Xương. | |
| 5 | Lê Thứ nhân | Lê Ngọc Dao | Nguyên là Nguyên phi, con gái Lê Sát[8] | |
| 6 | Dương Thứ nhân | Dương Thị Bí | nguyên là Phi, sau bị giáng làm Chiêu nghi, cuối cùng bị giáng làm thứ nhân, mẹ sinh long phụng thai Lệ Đức Hầu Lê Nghi Dân và Vệ Quốc Trưởng Công chúa Lê Thị Ngọc Đường [25] | |
| Lê Thánh Tông | 1 | Huy Gia Hoàng hậu | Nguyễn Thị Hằng (Huyên)[26] | mẹ sinh Lê Hiến Tông, bị Lê Uy Mục giết chết, truy tôn là Huy Gia Trường Lạc Thánh Từ Tĩnh Mục Ôn Cung Như Thuận Hoàng thái hậu |
| 2 | Nhu Huy Hoàng hậu | Phùng Thục Giang Phùng Diễm Quý |
Con gái của Gián nghị đại phu Phùng Văn Đạt, cháu ngoại Trần Công Diễn (dòng dõi nhà Trần), mẹ sinh Kiến vương Lê Tân[27]. Cháu nội Lê Tương Dực truy tôn Nhu Huy Tích Quang Thuần Thánh Khâm Thận Ôn Mục Gia Hòa Lương Tín Đôn Thục Trinh Hiến Chương Phúc Hoàng thái hậu . | |
| 3 | Phạm Minh phi | Phạm thị | con gái Đô đốc Phạm Văn Liêu[28] | |
| 4 | Nguyễn Kính phi | Nguyễn thị | con gái Đô đốc thiêm sự Nguyễn Đức Nghị[29] | |
| 5 | Nguyễn Tài nhân | Nguyễn thị | Mẹ sinh Phúc vương Lê Tranh[30] | |
| 6 | Nguyễn Tu dung | Nguyễn Cẩn Kính | con gái Trung thư lệnh Nguyễn Trực[31] | |
| 7 | Nguyễn Quý phi | Nguyễn thị | Mẹ sinh Triệu vương Lê Thoan [31] | |
| 8 | Phạm Tu nghi | Phạm thị | Mẹ sinh Gia Thục Công chúa Lê Thanh Toại. | |
| 9 | Vũ Tài nhân | Vũ thị | Mẹ sinh Lương vương Lê Thuyên. | |
| 10 | Hà Tuyên vinh | Hà Thị Dĩ | Mẹ sinh Đường vương Lê Cảo. | |
| 11 | Cung tần | Đặng Thị Kim Ngàn | Mẹ sinh Nghĩa vương Lê Cảnh. | |
| 12 | Cung tần | Trịnh Thị Ngọc Luyện | Mẹ sinh Trấn vương Lê Kinh, Diễn vương Lê Thông và Kinh vương Lê Kiện. | |
| 13 | Cung tần | Bùi Đắc Lộc | Mẹ sinh Quảng vương Lê Tác | |
| Lê Hiến Tông | 1 | Trang Thuận Hoàng hậu | Nguyễn Ngọc Hoàn | Nguyên là Quý phi, người Bình Lăng, mẹ sinh Lê Túc Tông, truy tôn làm Trang Thuận Minh Ý Hoàng thái hậu[31] |
| 2 | Chiêu Nhân Hoàng hậu | Nguyễn Thị Cận | người Phù Chẩn, mẹ sinh Lê Uy Mục, truy phong Chiêu Nhân Hoằng Ý Hoàng thái hậu[32] | |
| 3 | Từ Trinh Liêm Hoàng hậu | Mai Ngọc Đỉnh | Nguyên là Chiêu nghi, người Biện Hạ huyện Vĩnh Phúc, mẹ sinh An vương Lê Tuân. Năm 1526, truy phong Từ Trinh Liêm Hoàng hậu | |
| 4 | Bùi Quý phi | Bùi thị | con gái Quảng Quận công Bùi Xương Trạch[33] | |
| 5 | Nguyễn Kính phi | Nguyễn thị | người Hoa Lăng, mẹ nuôi của Lê Uy Mục[32] | |
| Lê Uy Mục | 1 | Uy Mục Trần Hoàng hậu | Trần Thị Tùng (Xuân Tùng) | người Nhân Mục[34] |
| 2 | Lê Quý phi | Lê Thị Thanh | ||
| 3 | Cung nhân | Trần Thị Trúc | Bà là em gái Uy Mục Trần Hoàng hậu | |
| Lê Đức Tông | 1 | Huy Từ Hoàng hậu | Trịnh Thị Tuyên | Mẹ sinh Lê Tương Dực và Lê Minh Tông. Khi Lê Tương Dực còn là Giản Tu công đã dựng cờ nổi dậy chống lại Lê Uy Mục, bà cùng các con là Lê Sùng, Lê Vinh, Lê Quyên bị Uy Mục đế giết hại. |
| Lê Tương Dực | 1 | Khâm Đức Hoàng hậu | Nguyễn Thị Đạo | khi Tương Dực Đế mất, nhảy vào lửa để chết theo, truy tặng Khâm Đức Thuận Liệt Đôn Hoàng hậu[35] |
| Lê Minh Tông | 1 | Đoan Mục Hoàng hậu | Trịnh Thị Loan | Chính thất của Cẩm Giang Vương Lê Sùng, mẹ sinh Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng, khi Chiêu Tông lên ngôi tôn bà làm Hoàng thái hậu. Cùng với Cung Hoàng bị Mạc Đăng Dung ép tự tận. |
| Lê Chiêu Tông | 1 | Gia Khánh Hoàng hậu | Phạm Thị Ngọc Quỳnh | người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên, mẹ sinh Lê Trang Tông[36] |
| Lê Cung Hoàng | 1 | Nguyễn Quý phi | Nguyễn thị | con gái Thông Quốc công Nguyễn Thời Trung[36] |
| 2 | Đào Quý phi | Đào thị | con gái Lệ Quốc công Đào Đại La [cần dẫn nguồn] |
Lê trung hưng
Lê trung hưng (1533-1789) | ||||
| 939 | 1533 | 1789 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Lê Trang Tông | 1 | Trinh Thục Dụ Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Cửu | Mẹ sinh Lê Trung Tông |
| Lê Trung Tông | 1 | - | Nguyễn thị | Chỉ biết bà là con gái Nguyễn Kim |
| Lê Anh Tông | 1 | Ý Thận Tuấn Hoàng hậu | Nguyễn Thị Minh | Mẹ sinh trưởng hoàng tử Bản quốc công Lê Duy Bách. |
| 2 | Tuy Khánh Tuấn Hoàng hậu | Nguyễn Thị Ngọc | Mẹ sinh Lê Thế Tông | |
| Lê Thế Tông | 1 | Ý Đức Nghị Hoàng hậu | Nguyễn thị | Mẹ sinh Lê Kính Tông |
| 2 | Ngọc Sơn Uy phi | Lê Thị Đoan | Mẹ sinh trưởng hoàng tử Lê Duy Từ và tứ công chúa Lê Thị Ngọc Tham | |
| Lê Kính Tông | 1 | Đoan Từ Huệ Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Trinh | Con gái Bình An Vương Trịnh Tùng; bị ép lấy Lê Kính Tông, sinh ra Hoàng đế Lê Thần Tông |
| 2 | Đệ nhị vương phi | Trần thị | ||
| 3 | Đệ tam vương phi | Nguyễn Ngọc Nương | ||
| 4 | Đệ tứ vương phi | Đỗ thị | mẹ sinh hoàng nhị tử Vân Lĩnh công Lê Duy Hỗ | |
| Lê Thần Tông | 1 | Uyên Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Trúc | Nguyên là vợ Cường Quận công Lê Trụ, bà còn là cháu ngoại của Nguyễn Hoàng. Sau tái giá lấy Lê Thần Tông con gái Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, bỏ đi tu năm 1642 |
| 2 | Đoan Thuần Uyên Hoàng hậu | Phạm Thị Ngọc Hậu | Mẹ sinh Lê Huyền Tông | |
| 3 | Minh Thục Uyên Hoàng hậu | Nguyễn Thị Ngọc Bạch | Mẹ sinh Lê Chân Tông | |
| 4 | Chiêu nghi | Lê Thị Ngọc Hoàn | Mẹ sinh Lê Gia Tông | |
| 5 | Cung nhân | Nguyễn Thị Ngọc Tấn (Ngọc Trúc)[37] | Mẹ sinh Lê Hy Tông. | |
| Lê Chân Tông | 1 | Phương Từ Thuận Hoàng hậu | Trịnh thị | Con gái Trịnh Tráng. Mẹ sinh Diệu Sắt Tinh Thuỵ công chúa Lê Thị Ngọc Phù lấy Quốc vương Ayutthaya |
| Lê Huyền Tông | 1 | Mục Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Áng | Con gái Trịnh Tạc |
| Lê Hy Tông | 1 | Cung Nghi Chương Hoàng hậu | Nguyễn Thị Ngọc Đệ | Mẹ sinh vua Lê Dụ Tông. Sau truy tôn Ôn Từ Hoàng thái hậu |
| Lê Dụ Tông | 1 | Hòa Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Trang | Con gái Trịnh Cương, sinh ra Lê Duy Phường. Năm 1732, bị truất làm Quận quân, con trai là Lê Duy Phường bị truất làm Hôn Đức Công cùng năm |
| 2 | Trang Từ Hoà Hoàng hậu | Trần thị | Sinh mẫu vua Lê Thuần Tông. Sau truy tôn Trang Từ Hoàng thái hậu. | |
| 3 | Hiến Từ Hoà Hoàng hậu | Nguyễn thị | Sinh mẫu vua Lê Ý Tông. Sau truy tôn Hiến Từ Hoàng thái hậu. | |
| Lê Phế Đế | 1 | Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Nhu (Ngọc Yên)[38] | Con gái Trịnh Cương. |
| Lê Thuần Tông | 1 | Nhu Thận Giản Hoàng hậu | Đào Thị Ngọc Liễu | Sinh mẫu vua Lê Hiển Tông. |
| Lê Ý Tông | 1 | Tuyên Vũ Huy Hoàng hậu | Trịnh Thị Ngọc Du | |
| Lê Hiển Tông | 1 | Trinh Thuận Vĩnh Hoàng hậu | Trần Thị Ngọc Câu | Mẹ sinh An Định Thái tử Lê Duy Vĩ. Bị tước sắc phong khi con trai bị phế,được phục vị dưới thời cháu nội Lê Chiêu Thống. |
| 2 | Nguyễn Chiêu nghi | Nguyễn Thị Huyền | Mẹ sinh Lê Ngọc Hân. | |
| 3 | Nguyễn Chiêu nghi | Nguyễn Thị Điều | Mẹ sinh Lê Ngọc Bình. | |
| Lê Hựu Tông | 1 | An Định Hoàng thái tử phi | Trịnh Thị Ngọc Nhuận | Còn gọi Bà chúa Đỏ, vốn là Tiên Dung Quận chúa, con gái Trịnh Doanh. Được hứa hôn với Thái tử Lê Duy Vĩ, nhưng chưa kịp gả thì đã qua đời. Được truy phong làm Hoàng thái tử phi. |
| 2 | Mẫn Thái hậu | Nguyễn Thị Ngọc Đoan | Thiếp thất thái tử Lê Duy Vĩ, mẹ sinh Lê Chiêu Thống. | |
| Lê Chiêu Thống (Lê Mẫn Đế) | 1 | Nguyễn Quý phi | Nguyễn Thị Kim (Ngọc Tố) | Khi linh cữu Mẫn Đế cùng Thái hậu và con trai bà được rước về, bà uống thuốc độc tự tử, về sau được chép trong Liệt nữ truyện thời Nguyễn. |
Nhà Mạc
Nhà Mạc (1527-1592) | ||||
| 939 | 1527 | 1592 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Mạc Thái Tổ | 1 | Thái Tổ Vũ Hoàng hậu | Vũ Thị Ngọc Toàn | |
| 2 | Thái Tổ Nguyễn Quý phi | Nguyễn Thị Ngọc Tuyền | Mẹ sinh Mạc Thái Tông,Thái Tông lên ngôi tôn mẹ làm "Hoàng thái hậu". | |
| Mạc Thái Tông | 1 | Thận Nghi Bảo Huy phi | Trần Thị Hiền | con gái Thiết Sơn Bá Trần Chân |
| 2 | Ý Thận Huy Từ phi | Phạm thị | Mẹ sinh Mạc Hiến Tông. | |
| 3 | Hiển Mục Tuy phi | Vũ thị | Mẹ sinh Khiêm vương Mạc Kính Điển. Khiêm vương có con gái là Mạc Thị Giai - mẹ của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, các công nữ Ngọc Khoa, Ngọc Vạn, Ngọc Liên. | |
| Mạc Hiến Tông | 1 | Hiến Tông Hoàng hậu | - | sống tới năm 1579, trở thành Thái hoàng thái hậu thời Mạc Mậu Hợp |
| Mạc Tuyên Tông | 1 | Tuyên Tông Vũ Hoàng hậu | Vũ thị | sau trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính thời Mạc Mậu Hợp |
| 2 | Thứ phi | Bùi Thị Hương | mẹ sinh Mạc Mậu Hợp | |
| Mạc Mậu Hợp | 1 | Hoàng hậu | Nguyễn thị | sống tới năm 1600 thì bị quân Lê Trịnh giết. |
Chúa Trịnh
Chúa Trịnh (1545 - 1787) | ||||
| 939 | 1545 | 1787 | 1945 | |
Chúa Trịnh (chữ Nôm: 主鄭; chữ Hán: 鄭王, Trịnh Vương) là dòng dõi một vọng tộc phong kiến kiểm soát quyền lực nhà nước Đại Việt thời Lê Trung hưng của nhà Hậu Lê, khi nhà vua tuy không có thực quyền vẫn được duy trì ngôi vị. Các Chúa Trịnh xưng Vương, nên các Chính phi của các chúa đều là Vương phi.
| Vương | Vương phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Minh Khang Thái Vương
Thế Tổ |
1 | Từ Phúc Thái Vương phi | Lại Thị Ngọc Trân | Chính phi, mẹ sinh Đạt Nghĩa Công Trịnh Cối là con trưởng của Thế Tổ Minh Khang Thái Vương |
| 2 | Từ Nghi Thái Vương phi | Nguyễn Thị Ngọc Bảo | Thái phi, con gái Hưng Quốc công Nguyễn Kim. Khi phủ An Trường bị hỏa hoạn năm 1586, bà bị lửa thiêu mà chết. Sinh chúa Trịnh Tùng. | |
| 3 | Từ Hành Thái Vương phi | Trương Thị Ngọc Lãnh | Hiền phi | |
| Bình An Vương
Thành Tổ Triết Vương |
1 | Từ Huệ Triết Vương phi | Lại Thị Ngọc Nhu | Chính phi, con gái Cẩn Lễ Công Lại Thế Khanh, cháu gọi bằng bà cô của Chính phi Lại Thị Ngọc Trân. Sinh ra quan Hữu tướng tước Tín Lễ Công Trịnh Túc là con trưởng của Trịnh Tùng. |
| 2 | Từ Huy Triết Vương phi | Đặng Thị Ngọc Dao | Thái phi, mẹ sinh Trịnh Tráng | |
| 3 | Từ Ân Triết Vương phi | Ngô Thị Ngọc Lâm | Chiêu nghi, mẹ sinh hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh. | |
| Thanh Đô Vương
Văn Tổ Nghị Vương |
1 | Từ Huyên Nghị Vương phi | Trần Thị Ngọc Đài | Thái phi, mẹ sinh Trịnh Tạc. Trước kia là vợ của Ngô Đình Nga, sinh con trai là Hòa quận công. Sau khi Đình Nga tạo phản và bị giết, bà về thị phụng cho đức Văn Tổ. |
| 2 | Từ Thuận Nghị Vương phi | Nguyễn Phúc Ngọc Tú | Tây cung Chính phi, con gái Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng, mẹ của Sùng Nghĩa vương Trịnh Kiều và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. | |
| 3 | Từ Thiện Nghị Vương Phi | Nguyễn Phúc Ngọc Súy[39] | Đông cung Chính phi, con gái Lỵ Nhân công Nguyễn Hán, cháu chắt nội Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. | |
| Tây Định Vương
Hoằng Tổ Dương Vương |
1 | Từ Hậu Dương Vương phi | Trịnh Thị Ngọc Lung | Chính phi Quốc thái mẫu, mẹ nuôi vua Lê Gia Tông. |
| 2 | Từ Hựu Dương Vương phi | Vũ Thị Ngọc Lễ | Thái phi, sinh 4 vương tử, trong đó có Trịnh Căn | |
| Định Nam Vương
Chiêu Tổ Khang Vương |
1 | Từ Thận Khang Vương phi | Nguyễn Thị Ngọc Phụng | Hiền phi. Là người vợ từ thuở còn hàn vi, rất được chúa thương yêu. Bảo dưỡng Tấn Quang vương Trịnh Bính |
| 2 | Diệu Mỹ Khang Vương phi | Phạm Thị Ngọc Quyền | Thục phi tặng Chiêu nghi gia tặng Thục huấn, mẹ sinh Lương Mục vương Trịnh Vịnh | |
| 3 | Diệu Tĩnh Khang Vương phi | Ngô Thị Ngọc Uyên | Thuận phi tôn phong Bảo mẫu, có công bảo dưỡng đức Hy Tổ Nhân vương. | |
| Lương Mục Vương
Thuần Tổ |
1 | Từ Thận Huệ phi | Nguyễn Thị Ngọc Duệ (Ngọc Bích) | Mẹ sinh Tấn Quang vương Trịnh Bính |
| Tấn Quang Vương
Duệ Tổ |
1 | Từ Tuyên Thái phi | Trương Thị Ngọc Chử | Mẹ sinh Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương. |
| 2 | Ôn Dung Chính phi[40] | Trần Thị Ngọc Nhiên | ||
| 3 | Từ Thạc Thứ phi | Ngọc Hội (Không rõ họ) | Thứ phi tặng phong Huệ nga, sinh vương tử trưởng là Doãn Trung công Trịnh Đạc. | |
| An Đô Vương
Hy Tổ Nhân Vương |
1 | Từ Đức Nhân Vương phi | Vũ Thị Ngọc Nguyên[41] | Thái phi Quốc thánh mẫu, tục gọi là Bà chúa Me, từng can dự chính sự. Được ban phong hiệu Chiêu viên, sau được Trịnh Giang tôn làm Thái phi. Mẹ sinh Uy Nam Vương và Minh Đô Vương, bảo dưỡng vua Lê Ý Tông. |
| 2 | Từ Trinh Thứ phi | Trần Thị Ngọc Diễm | ||
| 3 | Từ Thạc Thứ phi | Trần Thị Ngọc Tần | em gái bà Ngọc Diễm | |
| Uy Nam Vương
Dụ Tổ Thuận Vương |
1 | Trang Thục Thuận Vương phi | Lê Thị Ngọc Thanh | Thái phi, mẹ sinh Án Đô vương Trịnh Bồng |
| Minh Đô Vương
Nghị Tổ Ân Vương |
1 | Trang Trinh Ân Vương phi | Nguyễn Thị Ngọc Vinh | Chính phi, sinh thời được nhà chúa sủng ái hết mực, yêu quý như vàng nên thường gọi là Đức bà Vàng, sinh Tiên Dung Quận chúa Ngọc Nhuận[42] và người con trưởng Mẫn Tuệ công Trịnh Nhuận mất sớm. |
| 2 | Từ Trạch Ân Vương phi | Nguyễn Thị Ngọc Diễm | Thái phi Quốc thánh mẫu, còn gọi Đức bà Sét, mẹ sinh Trịnh Sâm | |
| Tĩnh Đô Vương
Thánh Tổ Thịnh Vương |
1 | Ý Thục Thịnh Vương phi | Hoàng Thị Khoan | Chính phi, người xinh đẹp, tỏa hương thơm nên được gọi là Ngọc Phương, sinh 2 Quận chúa Ngọc Anh và Ngọc Lan. Từ vị trí Thục huấn, bà được chúa Trịnh Sâm nâng làm Chiêu nghi rồi tặng làm Vương chính phi. |
| 2 | Dương Thái phi | Dương Thị Ngọc Hoan | mẹ sinh Trịnh Khải | |
| 3 | Đặng Tuyên phi | Đặng Thị Huệ[43] | tục gọi Bà chúa chè, mẹ sinh Trịnh Cán, là Chính cung Tu Dung, sau Trịnh Cán lên ngôi chúa thì tôn làm Tuyên phi. | |
| Đoan Nam Vương
Linh Vương |
Linh Vương phi | Nguyễn Thị Xuân | Sinh Thế tử Trịnh Vân. | |
| Án Đô Vương | 1 | Trinh Thận Chính phi[44] | Nguyễn Thị Ngọc Viên | Bị nghịch Chỉnh (tức Nguyễn Hữu Chỉnh) đem binh bức giá, bà phi bị làm nhục mà chết. |
| 2 | Trang Khiết Thục phi | Phùng Thị Ngọc Diên | Mất ngày 1 tháng 11 năm Kỷ Hợi (1779), được 29 tuổi. Sinh 3 Vương tử. |
Chúa Nguyễn
Chúa Nguyễn (1558 - 1777) | ||||
| 939 | 1558 | 1777 | 1945 | |
Chúa Nguyễn là cách gọi chung trong sử sách và dân gian về một số nhà cai trị các vùng đất từ Thuận Hóa (phía nam đèo Ngang hiện nay) vào miền nam của Việt Nam, bắt đầu vào đầu giai đoạn Lê Trung Hưng của nhà Hậu Lê, hay giữa thế kỷ 16, cho đến khi bị nhà Tây Sơn tiêu diệt năm 1777. Họ là tiền thân của nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng của Việt Nam.
| Chúa | Phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Nguyễn Kim | 1 | Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Đức phi | Nguyễn Thị Mai | mẹ sinh chúa Tiên Nguyễn Hoàng, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Tín Chiêu Ý Hoằng Nhân Thục Đức Tĩnh Hoàng hậu. |
| Nguyễn Hoàng | 1 | Từ Lương Quang Thục Ý phi | Nguyễn thị | mẹ sinh Nguyễn Phúc Nguyên, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ Hoàng hậu |
| 2 | Đoan Quốc thái phu nhân | sinh Hòa Quận công Nguyễn Hà | ||
| 3 | Minh Đức Vương thái phi | sinh Tường Quận công Nguyễn Phúc Khê | ||
| Nguyễn Phúc Nguyên | 1 | Huy Cung Từ Thận Thuận phi | Mạc Thị Giai | con gái cả của Khiêm Vương Mạc Kính Điển, mẹ sinh Nguyễn Phúc Lan cùng hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, nhà Nguyễn truy tôn là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng hậu |
| Nguyễn Phúc Lan | 1 | Trinh Thục Từ Tĩnh Huệ phi | Đoàn thị | mẹ sinh Nguyễn Phúc Tần, nhà Nguyễn truy tôn là Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu Hoàng hậu |
| Nguyễn Phúc Tần | 1 | Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang phi | Chu Thị Viên | chính thất phu nhân của chúa, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết Hoàng hậu |
| 2 | Từ Tiên Huệ Thánh Tĩnh phi | Tống Thị Đôi | mẹ sinh Nguyễn Phúc Thái, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết Hoàng hậu | |
| Nguyễn Phúc Thái | 1 | Từ Tiết Tĩnh Thục Hiến phi | Tống Thị Lĩnh | mẹ sinh Nguyễn Phúc Chu, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa Hoàng hậu |
| Nguyễn Phúc Chu | 1 | Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính phi | Tống Thị Được | mẹ sinh Nguyễn Phúc Chú, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh Hoàng hậu |
| 2 | Từ Đức Kính phi | Nguyễn Thị Lan | sinh thời bà rất được sủng ái, khi mất chúa thương tiếc viết thơ tưởng nhớ bà. | |
| 3 | Chiêu phi | Nguyễn Thị Biện | ||
| Nguyễn Phúc Chú | 1 | Từ Ý Quang Thuận Thục phi | Trương Thị Thư | mẹ sinh Nguyễn Phúc Khoát, nhà Nguyễn truy tôn là Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh Hoàng hậu |
| Nguyễn Phúc Khoát | 1 | Ôn Thành Vương thái phi | Trương Thị Dung | mẹ sinh Nguyễn Phúc Luân, nhà Nguyễn truy tôn là Ôn Thành Huy Ý Trang Từ Dục Thánh Hiếu Vũ Hoàng hậu |
| 2 | Từ Mẫn Chiêu nghi | Trần Thị Xạ | Nhập phủ trước khi Vũ vương lên ngôi, sau phong làm Quý nhân, khi mất được tặng làm Chiêu nghi. Sinh thời bà rất được Vũ vương sủng ái. | |
| 3 | Công nữ | Nguyễn Phúc Ngọc Cầu | em họ của chúa, sinh Định vương Nguyễn Phúc Thuần. | |
| 4 | Tả cung tần | Trương Thị Hoàng | mẹ sinh Hiếu Tuyên vương Nguyễn Phúc Hạo. Cháu trai của bà là chúa Nguyễn Phúc Dương, người cai trị song song với chúa Nguyễn Phúc Thuần. | |
| Nguyễn Phúc Thuần | 1 | Định vương Chính phi | Nguyễn Thị Châu | người Tống Sơn, Thanh Hóa, là con của Quận công Nguyễn Cửu Sách. Mất trong thời loạn lạc ở Gia Định, không rõ mộ táng ở đâu. Sinh Nguyễn Phúc Ngọc Thục. |
| Nguyễn Phúc Luân | 1 | Ý Tĩnh Hiếu Khang Hoàng hậu | Nguyễn Thị Hoàn | mẹ sinh vua Gia Long |
| 2 | Ý Thận Huy Gia Từ phi | Nguyễn thị | chị gái bà Nguyễn Thị Hoàn. |
Nhà Tây Sơn
Nhà Tây Sơn (1778-1802) | ||||
| 939 | 1778 | 1802 | 1945 | |
| Hoàng đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Thái Đức | 1 | Hoàng chính hậu | Trần Thị Huệ | sinh Đông Cung thế tử Nguyễn Văn Bảo |
| Quang Trung | 1 | Nhân Cung Vũ Hoàng chính hậu | Phạm Thị Liên | Hoàng Chính hậu, chị em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Đắc Tuyên |
| 2 | Kế Hoàng hậu | Bùi Thị Nhạn | Kế hậu, là em của Bùi Đắc Tuyên, cô ruột của Nữ tướng Bùi Thị Xuân | |
| 3 | Nhu Ý Vũ Hoàng hậu | Lê Ngọc Hân | Bắc cung Hoàng hậu, con gái thứ chín vua Lê Hiển Tông | |
| Cảnh Thịnh | 1 | Hoàng chính hậu[45] | Lê Ngọc Bình | em gái Lê Ngọc Hân, sau trở thành Cung Thận Đức phi của Gia Long Hoàng đế nhà Nguyễn |
Nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn (1802-1945) | |||
| 939 | 1802 | 1945 | |
Trừ Thừa Thiên Cao Hoàng hậu và Nam Phương Hoàng hậu, các Hoàng hậu khác của nhà Nguyễn đều được truy phong sau khi mất. Kể từ đời Thiệu Trị, chức cao nhất trong hậu cung nhà Nguyễn là Hoàng quý phi.
| Hoàng Đế | Hậu phi | Tên thật | Ghi chú | |
| Gia Long | 1 | Thừa Thiên Cao Hoàng hậu | Tống Thị Lan | mẹ sinh Anh Duệ Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, con gái Thái bảo Khuông Quận công Tống Phước Khuông và bà Quốc phu nhân Lê Thị |
| 2 | Thuận Thiên Cao Hoàng hậu | Trần Thị Đang | mẹ sinh Hoàng đế Minh Mạng, con gái Lễ bộ Tham tri Trần Hưng Đạt | |
| 3 | Cung Thận Đức phi | Lê Thị Ngọc Bình | Công chúa của Lê Hiển Tông, em gái Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Từng là Hoàng hậu của Cảnh Thịnh Đế nhà Tây Sơn[45]. | |
| 4 | Trinh Nhã Chiêu nghi | Nguyễn Thị Điền | ||
| 5 | Trinh Thục Chiêu dung | Lâm Thức | Mất tại Gia Định, trước khi vua Gia Long lên ngôi. | |
| 6 | Huy Thục Chiêu dung | Phạm Thị Lộc | ||
| 7 | Uyên Thuận Chiêu dung | Nguyễn Thị Tần | ||
| 8 | Trang Ý Chiêu dung | Hoàng Thị Chức | ||
| 9 | Trang Thục Chiêu dung | Tống Thị Thuận | ||
| 10 | Tĩnh Thục Tiệp dư | Dương Thị Sự | ||
| 11 | Ôn Tĩnh Tiệp dư | Dương Thị Dưỡng | ||
| 12 | Cung Lệ Mỹ nhân | Trịnh Thị Thanh | ||
| 13 | Như Ý Mỹ nhân | Cái Thị Thu | ||
| 14 | Cung Lệ Mỹ nhân | Nguyễn Thị Vĩnh | ||
| 15 | Lương Dung Mỹ nhân | Trần Thị Thể | ||
| 16 | Tài nhân | Trần Thị Hán | ||
| 17 | Tài nhân | Phan Thị Hạc | ||
| 18 | Tài nhân | Nguyễn Thị Uyên | ||
| 19 | Tài nhân | Đặng Thị Duyên | ||
| 20 | Tả cung tần | Tống Thị Lâu | ||
| 21 | Cung tần | Nguyễn Thị Thụy | ||
| 22 | Cung tần | Nguyễn Thị Ngạn | Con gái của Nguyễn Đức Xuyên, sinh năm 1797, nhập cung 1812. Đến khi vua sắp mất thì cho về nhà theo ý bà vẫn còn giữ tiết không tái giá. | |
| Minh Mạng | 1 | Tá Thiên Nhân Hoàng hậu | Hồ Thị Hoa | mẹ sinh vua Thiệu Trị, người huyện Bình An, Biên Hòa, con của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi. Mất trước khi vua Minh Mạng lên ngôi, được truy phong làm Thuận Đức Chiêu nghi rồi Thuận Đức Thần phi. Vua Thiệu Trị lên ngôi đã truy tôn bà thụy hiệu Hoàng hậu. |
| 2 | Tuệ Khiết Hiền phi | Ngô Thị Chính | Là phi tần được vua Minh Mạng cực kì sủng ái. | |
| 3 | Đoan Lệ Gia phi | Phạm Thị Tuyết | Mất trước khi vua Minh Mạng lên ngôi, được truy phong làm Đoan Lệ Tu nghi rồi Đoan Lệ Gia phi. | |
| 4 | Uyên Thục Trang tần | Trần Thị Tuyến | ||
| 5 | Đoan Liệt Thục tần | Nguyễn Thị Bảo | Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), bà bị liên can đến án người nhà ăn trộm vàng trong cung, nên bị tước đoạt hết sách phong. Năm sau (1837), bà được khôi phục làm Lục giai Tiệp dư. Tự Đức năm thứ 4 (1851), bà qua đời, vua Tự Đức gia ân hoàn lại sách phong Thục tần cho bà, ban thụy là Đoan Liệt. | |
| 6 | Uyển Thuận Huệ tần | Trần Thị Huân | Phi tần sinh nhiều con nhất trong hậu cung vua Minh Mạng. | |
| 7 | Hoa Diễm An tần | Hồ Thị Tùy | Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi, sơ phong bà tước vị Tài nhân. Sau đó bà lần lượt được tấn phong làm Mỹ nhân (1824), Tiệp dư (1829) đều ở hàng Lục chức. Năm 1836, sau khi cấp bậc nội cung được định lại, bà được tấn làm Ngũ giai An tần. | |
| 8 | Tĩnh Nhã Hòa tần | Nguyễn Thị Khuê | ||
| 9 | Thục Tắc Lệ tần | Nguyễn Thị Thúy Trúc | ||
| 10 | Tịnh Nhu Tiệp dư | Lê Thị Ái | Chị gái bà Lê Thị Lộc. | |
| 11 | Dao Thụ Tiệp dư | Nguyễn Thị Viên | ||
| 12 | Trang Thuận Quý nhân | Lương Thị Nguyện | ||
| 13 | Trang Thuận Quý nhân | Cái Thị Trinh | ||
| 14 | Đoan Tịnh Quý nhân | Nguyễn Thị Trường | ||
| 15 | Đoan Ý Quý nhân | Đỗ Thị Tùng | ||
| 16 | Trang Thuận Quý nhân | Đỗ Thị Tâm | chị em ruột bà Đỗ Thị Tùng, Đỗ Thị Cương. | |
| 17 | Trang Thuận Quý nhân | Lê Thị Lộc | Em gái bà Lê Thị Ái. | |
| 18 | Đoan Tịnh Quý nhân | Nguyễn Thị Hạnh | ||
| 19 | Thục Thận Mỹ nhân | Nguyễn Thị Bân | ||
| 20 | Đoan Ý Mỹ nhân | Đoàn Thị Thụy | ||
| 21 | Tài nhân | Đinh Thị Nghĩa | ||
| 22 | Tài nhân | Trần Thị Tiền | ||
| 23 | Tài nhân | Nguyễn Thị Tính | ||
| 24 | Thục Thận Tài nhân | Đỗ Thị Cương | chị em ruột bà Đỗ Thị Tùng, Đỗ Thị Tâm. | |
| 25 | Trang Thận Tài nhân | Trần Thị Thanh | ||
| 26 | Tài nhân | Trần Thị Trúc | ||
| 27 | Tài nhân vị nhập giai | Trần Thị Tiêm | ||
| 28 | Tài nhân vị nhập giai | Bùi Thị San | ||
| 29 | Cung nhân | Trần Thị Nghiêm | ||
| 30 | Cung nhân | Nguyễn Thị Xuân | ||
| 31 | Cung nhân | Lý Thị Cầm | ||
| 32 | Cung nhân | Cao Thị Diệu | ||
| 33 | Cung nhân | Đặng Thị Yểu Điệu | ||
| 34 | Cung nhân | Lê Thị Đính | ||
| 35 | Cung nhân | Trần Thị Mỹ | ||
| 36 | Cung nhân | Trần Thị Nhã | ||
| 37 | Cung nhân | Trần Thị Nhạn | ||
| 38 | Cung nhân | Hồ Thị Thể | ||
| 39 | Cung nhân | Lê Thị Thông | ||
| 40 | Cung nhân | Phan Thị Viên | ||
| 41 | Cung nhân | Nguyễn Thị Vĩnh | ||
| 42 | Cung nhân | Nguyễn Thị Dược | ||
| 43 | Thứ nhân | Lê Thị Tường | nguyên là Cung tần nhưng vì án Lê Chất mà bị phế, giam cầm đến chết | |
| Thiệu Trị | 1 | Nghi Thiên Chương hoàng hậu | Phạm Thị Hằng | người Gò Công, con gái Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, mẹ sinh Hoàng đế Tự Đức Nguyễn Phúc Hồng Nhậm |
| 2 | Huy Thuận Lệnh phi | Nguyễn Thị Nhậm | con gái Kinh Môn Quận công Nguyễn Văn Nhơn | |
| 3 | Huy Thuận Lương phi | Võ Thị Viên | phi tần được Hoàng đế Thiệu Trị sủng ái nhất. Mẹ sinh Gia Hưng Vương Nguyễn Phúc Hồng Hưu, người mang án thông đồng với người Pháp và loạn luân với em gái là Phục Lễ Công chúa Nguyễn Phúc Gia Phúc. | |
| 4 | Ý Thuận Thục phi | Nguyễn Thị Xuyên | mẹ sinh Thụy Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y, bà nội Hoàng đế Dục Đức | |
| 5 | Tam Giai Quý tần | Đinh Thị Hạnh | Có tài liệu ghi là họ hàng xa với bà Từ Dụ, mất trước khi vua Thiệu Trị lên ngôi, ban đầu được tặng làm Diễm nhân, vua lên ngôi truy tặng làm Tam giai Quý tần. Sinh mẫu của An Phong Quận vương Hồng Bảo, người mang án phản nghịch dưới triều Tự Đức. | |
| 6 | Tam giai Thụy tần | Trương Thị Thận | Sinh mẫu của vua Hiệp Hòa, được tôn Hoàng thái phi khi con lên ngôi, sau bị giáng Đoan tần khi vua Hiệp Hòa bị phế. | |
| 7 | Nhã Thuận Đức tần | Nguyễn Thị Huyên | ||
| 8 | Trinh Tường Kỷ tần | Trương Thị Vĩnh | Sinh mẫu của Kiên Thái vương Hồng Cai, tổ mẫu của 3 vua: Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh; tằng tổ mẫu vua Khải Định; cao tổ mẫu vua Bảo Đại. Nguyên là Tài nhân, thời Khải Định bà được truy tặng làm Tam giai Kỷ tần. | |
| 9 | Tứ giai Nhu tần | Nguyễn Thị Yên | Chị của Ý Thuận Thục phi Nguyễn Thị Xuyên | |
| 10 | Ngũ giai Nhàn tần | Phan Thị Kháng | ||
| 11 | Ngũ giai Thuận tần | Hoàng Thị Dĩnh | ||
| 12 | Tiệp dư | Nguyễn Đình Thị Loan | ||
| 13 | Tiệp dư | Hồ Thị Nghi | ||
| 14 | Quý nhân | Ngô Thị Xuân | ||
| 15 | Thục Thuận Tài nhân | Trương Thị Thúy | ||
| 16 | Thục Thuận Tài nhân | Nguyễn Thị Kinh | ||
| 17 | Lệnh Thuận Tài nhân | Mai Thị Tiêm | ||
| 18 | Tài nhân | Võ Thị Duyên | ||
| 19 | Tài nhân | Phan Thị Diệu | ||
| 20 | Tài nhân | Nguyễn Thị Phương | ||
| 21 | Tài nhân | Nguyễn Thị Vị | ||
| 22 | Tài nhân | Trần Thị Sâm | ||
| 23 | Tài nhân | Phan Thị Thục | ||
| 24 | Tài nhân | Đỗ Thị Trinh | ||
| 25 | Tài nhân | Trương Thị Lương | ||
| 26 | Tài nhân | Nguyễn Thị Khuê | ||
| 27 | Thục Thuận Tài nhân | Phan Thị Quý | ||
| 28 | Cung nhân | Nguyễn Viết Thị Lệ | ||
| 29 | Cung nhân | Nguyễn Thị Hân | ||
| 30 | Cung nhân | Bùi Thị Bút | ||
| 31 | Cung nhân | Nguyễn Thị Huệ | ||
| 32 | Cung nhân | Hồ Thị Ý Nhi | Mẹ sinh Phục Lễ Công chúa Nguyễn Phúc Gia Phúc, người mang án loạn luân tai tiếng với anh trai là cùng cha khác mẹ là Gia Hưng Vương Nguyễn Phúc Hồng Hưu. | |
| 33 | Cung nhân | Nguyễn Thị Hương Nhị | ||
| 34 | Cung nhân | Nguyễn Đức Thị Ân | ||
| Tự Đức | 1 | Lệ Thiên Anh hoàng hậu | Võ Thị Duyên | mẹ nuôi của Hoàng đế Dục Đức. Thời Hiệp Hòa, bà với thân phận "Hoàng tẩu" (tức chị dâu) của Tân đế nên được phong Khiêm Hoàng hậu. |
| 2 | Nhất giai Thiện phi | Nguyễn Thị Cẩm | mẹ nuôi của Hoàng đế Đồng Khánh | |
| 3 | Huy Thuận Học phi | Nguyễn Thị Hương | mẹ nuôi của Hoàng đế Kiến Phúc, tôn hiệu Hoàng thái phi của bà về sau bị Đồng Khánh tước bỏ. | |
| 4 | Nhã Thuận Mẫn tần | Lê thị | Từ Cung tần, bà được sách phong làm Tam giai Thận tần rồi Nhị giai Cung phi (1860). Sau bị giáng xuống làm Tam giai Mẫn tần (1862). | |
| 5 | Nhã Thuận Lễ tần | Nguyễn Nhược Thị Bích | Tác phẩm nổi tiếng của bà là Loan dư Hạnh Thục ca. | |
| 6 | Tam giai Đoan tần | Trương thị | ||
| 7 | Nhã Thuận Thận tần | Hồ thị | ||
| 8 | Tam giai Diệu tần | Hoàng Thị Huệ | ||
| 9 | Nhàn Thuận Kiệm tần | Bùi thị | ||
| 10 | Ngũ giai Nhàn tần | Phan thị | ||
| 11 | Ngũ giai Tĩnh tần | Không rõ họ | ||
| 12 | Thục Trang Cẩn tần | Nguyễn Lương thị | ||
| 13 | Nhã Thuận Tín tần | Nguyễn Thanh thị | ||
| 14 | Trinh Mỹ Tiệp dư | Nguyễn Trinh thị | ||
| 15 | Nhu Thuận Tiệp dư | Võ thị | ||
| 16 | Quý nhân | Trần Thị Tiến | Từng tái giá với Lê Đình Vũ, bị Khoa đạo Trần Hữu Khác đe dọa để đòi hối lộ. Sau đó Trần Hữu Khác bị bãi chức, không thấy ghi chép hình phạt với vợ chồng Thị Tiến. | |
| 17 | Mỹ nhân | Nguyễn Đình thị | Em gái của Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm. | |
| 18 | Tài nhân | Nguyễn Nhược thị | Em gái của Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích. | |
| 19 | Tài nhân | Trương Thị Ân | ||
| 20 | Tài nhân | Lê thị | ||
| 21 | Cung nhân | Nguyễn Giai Thị Bằng. | ||
| Dục Đức | 1 | Từ Minh Huệ hoàng hậu | Phan Thị Điều | Mẹ sinh Thành Thái. |
| 2 | Tứ giai Chiêm tần | Vũ Văn Thị Đông | Từ vị trí Lục giai Tiệp dư, bà được vua Khải Định tặng làm Tứ giai Chiên tần vào năm Khải Định thứ 4 (1919). | |
| 3 | Không rõ | Nguyễn Văn Thị Nghệ | Hiện tại chưa rõ xuất thân, cũng như các tước vị. Mẹ của Hoài Ân vương Nguyễn Phúc Bửu Kiêm. | |
| 4 | Không rõ | Tống Phúc Thị Ròn | Xuất thân từ gia tộc Tống Phúc thị (宋福氏) danh giá ở Tống Sơn, Thanh Hoá, là gia tộc của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Hiện tại chưa rõ các tước vị. Mẹ của Tân Phong Công chúa Nguyễn Phúc Châu Hoàn. | |
| Hiệp Hoà | 1 | Không có | Lê Thị Huân Duyên | Là phu nhân của Hiệp Hòa Đế. Do thời gian trị vì của Hiệp Hoà quá ngắn, bà chưa kịp được sách phong danh hiệu. Hiệp Hoà có 11 con trai và 6 con gái, nhưng không rõ những người con do bà sinh ra là ai. |
| Đồng Khánh | 1 | Đoan Hòa Quý phi[46] | Nguyễn thị | Nguyên phối phủ thiếp, mất trước khi vua đăng cơ không lâu, được tặng làm Nghĩa tần, vua Khải Định truy tặng làm Quý phi. Mẹ của hoàng trưởng nữ Ngọc Lâm Công chúa Dĩ Ngu. |
| 2 | Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu | Nguyễn Hữu Thị Nhàn | Tự là Học Khương, mẹ đích Hoàng đế Khải Định, con gái Vĩnh Lai Quận công Nguyễn Hữu Độ, còn gọi là đức Thánh Cung, mất năm Bảo Đại thứ 10 | |
| 3 | Hựu Thiên Thuần hoàng hậu | Dương Thị Thục | mẹ sinh Hoàng đế Khải Định, gọi là đức Tiên Cung | |
| 4 | Ý Thuận Quan phi | Trần Đăng Thị Đồng | Bị giáng làm Ngũ giai Tùy tần do lời nói, cử chỉ thô tục, đã từng răn dạy mà không chịu sửa đổi. Được phục vị Quan phi dưới thời Khải Định. | |
| 5 | Nhị giai Giai phi | Phan Văn thị | Bị giáng làm Bát giai Mỹ nhân do quản viện Thượng trân mà để thất thiếu các vật phẩm, lại giả ốm trễ nải. | |
| 6 | Tam giai Chính tần | Hồ Văn thị | Bị giáng làm Mỹ nhân do không chăm lo công việc. | |
| 7 | Tam giai Nghi tần | Nguyễn Văn thị | Bị giáng làm Tài nhân do tính tình thô bạo, tham lam, đố kị đủ cả, khi giao tiếp với cung nhân luôn tỏ ra bất thuận không nghe theo đức ý. | |
| 8 | Tứ giai Dụ tần | Trần Văn thị | ||
| 9 | Tiệp dư | Hồ Thị Quy | ||
| 10 | Tiệp dư | Mai Văn thị | ||
| 11 | Quý nhân | Nguyễn Văn thị | ||
| 12 | Mỹ nhân | Nguyễn Hữu thị | ||
| 13 | Tài nhân | Trịnh Văn thị | ||
| 14 | Tài nhân | Mai thị | ||
| 15 | Nữ quan | Nguyễn Thị Điền | Bị xử trảm vì trộm áo ngự. Vua cho giảm án thành xử giảo, thi hành ngay sau đó. | |
| 16 | Cung nhân | Bá Hiệp | ||
| 17 | Cung nhân | Lưu Ngân | Từng được vua Đồng Khánh chuẩn ban hôn với ngự y Nguyễn Bá Khánh để thưởng công chữa bệnh. Sau khi mãn tang vua, bà tái hôn với ông Khánh. | |
| Thành Thái | 1 | Hoàng quý phi | Nguyễn Thị Anh | mẹ đích Hoàng đế Duy Tân, con gái Nguyễn Thân |
| 2 | Cửu giai Tài nhân | Nguyễn Thị Định | mẹ sinh Hoàng đế Duy Tân | |
| 3 | Nhất giai Huyền phi | Nguyễn Hữu Thị Nga | con gái Vĩnh Lai Quận công, Cơ Mật viện Đại thần Nguyễn Hữu Độ, em gái Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu. | |
| 4 | Nhị giai Khoan phi | Hồ Thị Phương | ||
| 5 | Nhị giai Tiết phi | Đoàn Thị Châu | ||
| 6 | Nhị giai Minh phi | Không rõ họ | Không rõ lại lịch. Xuất hiện trong "bản tấu ngày 18 tháng 11 năm Duy Tân thứ 2".[47] | |
| 7 | Nhị giai Khang phi | |||
| 8 | Tam giai Khánh tần | |||
| 9 | Tam giai Tuấn tần | |||
| 10 | Tam giai Dịch tần | Trương thị | ||
| 11 | Tam giai Thịnh tần | Nguyễn thị | Nguyên là Thịnh tần, do tính ghen tuông, đố kỵ gây chuyện đánh Tiệp dư Dương thị, bị giáng làm Tài nhân. | |
| 12 | Tiệp dư | Dương thị | ||
| 13 | Mỹ nhân | Nguyễn Thị Kiều | ||
| 14 | Tài nhân | Giai Triệu | Tên thật là Công tôn nữ Thị Nhàn, con của Nguyễn Phúc Hồng Xúy, vai cô của Thành Thái. Để giấu vụ này, hoàng tộc đã đổi họ cho hai bà sang họ Hồ, sau này lại cải thành họ Nguyễn Công. | |
| 15 | Tài nhân | Chí Lạc | Tên thật là Công tôn nữ Thị Mừng, em ruột thứ phi Giai Triệu, vai cô của Thành Thái. | |
| 16 | Tài nhân | Dương Thị Ngọt | ||
| Duy Tân | 1 | Nhị giai Diệu phi | Mai Thị Vàng | con gái Thượng thư bộ Lễ Mai Khắc Đôn, quan phụ đạo của vua Duy Tân. |
| Khải Định | 1 | Nhất giai Hậu phi | Hoàng Thị Cúc | còn được gọi là đức Từ Cung hay Đoan Huy Hoàng thái hậu, mẹ của Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng thái hậu cuối cùng của Việt Nam |
| 2 | Phủ thiếp | Trương Như Thị Tịnh | Nguyên phối khi ông còn là Phụng Hóa công, đi tu trước khi Khải Định lên ngôi. | |
| 3 | Nhất giai Ân phi | Hồ Thị Chỉ | con gái của Khánh Mỹ Quận công Hồ Đắc Trung, em gái Hộ bộ Thượng thư Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Điềm, là phi tần được triều đình làm lễ tấn nội đình chính thức sau khi Khải Định lên ngôi. | |
| 4 | Tam giai Diệu tần | Phạm Thị Hoài | Con gái của Tham tá Nội các Phạm Hòe. Năm 1918 là Ngũ giai Diệu Tần, năm 1922 được phong Tam giai Diệu Tần. | |
| 5 | Tứ giai Dụ tần | Vũ Thị Dung | Con gái của Xuân Hoà Nam Võ Liêm và bà Nguyễn Thị Tịnh, bà Tịnh là cháu của Trấn Định Quận công Nguyễn Phúc Miên Miêu
Năm Khải Định thứ 4 (1919) bà nhập cung được phong làm Tứ giai Dụ tần. | |
| 6 | Ngũ giai Điềm tần | Nguyễn Đình Thị Liên | Năm Khải Định thứ 7 (1922), Thượng thư Nguyễn Đình Hoè là chú của bà, dâng bà vào trong nội đình. Năm đó bà nhập cũng được phong làm Ngũ giai Điềm tần. | |
| 7 | Lục giai Tiệp dư | Trần Thị Khuê | Thời gian nhập cung của bà không được chính sử triều Nguyễn ghi chép. Năm 1954 xuất gia ở chùa sư nữ Hồng Ân, pháp danh Từ Hòa. | |
| 8 | Quý nhân | Trần Đăng Thị Thông | Vua Khải Định đăng cơ phong bà làm Thất giai Quý nhân (1916). | |
| 9 | Tài nhân | Ngô Thị Trang | Vua Khải Định đăng cơ phong bà làm Cửu giai Tài nhân (1916). | |
| 10 | Tài nhân | ...Biểu | Được nhắc đến trong Bên lề sách cũ của Vương Hồng Sển. Đối chiếu với mộc bản kinh Lăng Nghiêm chùa Diệu Đế có thể bà hoặc Tài nhân tên Táo mang họ Mai. | |
| 11 | Tài nhân | ...Táo | Được nhắc đến trong Bên lề sách cũ của Vương Hồng Sển. Đối chiếu với mộc bản kinh Lăng Nghiêm chùa Diệu Đế có thể bà hoặc Tài nhân tên Biểu mang họ Mai. | |
| 12 | Cung nhân | Nguyễn Thị Vịnh | Được nhắc đến trong mộc bản Kinh Lăng Nghiêm chùa Diệu Đế và Bên lề sách của của Vương Hồng Sển. | |
| 13 | Lệnh nhân | Trương thị | Được nhắc đến trong mộc bản kinh Lăng Nghiêm chùa Diệu Đế. | |
| Bảo Đại | 1 | Nam Phương Hoàng hậu | Nguyễn Hữu Thị Lan | Hoàng hậu cuối cùng của Việt Nam |
Xem thêm
Tham khảo
- Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1993
- Đại Việt sử ký toàn thư
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
- Khâm định Việt sử thông giám cương mục
- Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng
Chú thích
- ^ "Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển 5". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ^ a ă â b c d đ e ê g h i k "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 1". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ^ a ă â b c d đ "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 2". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ^ Bí ẩn người vợ được Lý Công Uẩn đối đãi đặc biệt
- ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 1 Lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine. Tuy nhiên đến năm 1016 Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 2 Lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012 tại Wayback Machine lại ghi Lập Giáo hoàng hậu trong số 3 hoàng hậu khác được lập thêm. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 2 tạm ghi tồn nghi này lại, cho rằng có thể bộ sử đời trước có nhầm lẫn
- ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 119.
- ^ Đại Việt sử lược, tr 142
- ^ a ă â "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 3". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2015.
- ^ Đại Việt sử lược, tr 193
- ^ a ă â "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 4". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015.
- ^ Đại Việt sử lược, tr 216
- ^ Đại Việt sử lược, tr 215
- ^ "Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư・Quyển VI・Kỷ Nhà Trần・Anh Tông Hoàng Đế". Nomfoundation. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2021.
Giáp Ngọ, Hưng Long năm thứ 2 [1294], (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 31). Mùa xuân tháng 2, ngày mồng 7 ban bố các chữ quốc huý... các chữ nội huý: Thánh Từ hoàng hậu là Phong, Thuận Từ hoàng hậu là Diệu, Hiển Từ hoàng hậu là Oanh...
- ^ "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 5". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2015.
- ^ Theo dã sử phu nhân từng góp một phần giúp triều Trần tin tưởng Trần Hưng Đạo hơn sau biến cố của cha ông và Thuận Thiên
- ^ Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tuy nhiên Trần Xuân Sinh trong Thuyết Trần (tr 306) cho rằng Cương mục nhầm lẫn, vì các sách sử khác như Đại Việt sử ký toàn thư không nêu Tuyên Từ là em ruột Khâm Từ; có thể chỉ là em họ
- ^ a ă â "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 7". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015.
- ^ "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 6". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015.
- ^ Hành trạng của bà chủ yếu được biết qua tác phẩm Hải khẩu linh từ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thời nhà Lê. Có tranh cãi việc bà Bích Châu là truyền thuyết hay người thật
- ^ a ă "Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 8". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2015.
- ^ a ă Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 120
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 121
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 125
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 126
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 226
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 127
- ^ name="ReferenceH">Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 129
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 129
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 130-131
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 132
- ^ a ă â Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 133
- ^ a ă Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 134
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 135
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 136
- ^ Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 137
- ^ a ă Lê Quý Đôn, sách đã dẫn, tr 139
- ^ Do trùng tên với Trịnh hoàng hậu nên đổi thành Ngọc Tấn.
- ^ "鄭氏世家/第八世 - 维基文库,自由的图书馆". zh.wikisource.org (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2024.
- ^ Còn gọi Ngọc Suất
- ^ Theo Thế phả, thụy của bà là Ôn Dung, theo Loại chí là Từ Ôn.
- ^ Hoặc Ngọc Mị
- ^ Quận chúa được đính hôn với Thái tử Lê Duy Vỹ, nhưng chưa đầy một năm sau thì qua đời. Sau khi khâm liệm, truy sách làm Hoàng thái tử phi. Lễ thành phục (mặc đồ tang phục tưởng nhớ sau khi tạ thế 4 ngày) làm ở dinh bà Liêu công phu nhân là bảo mẫu của Quận chúa.
- ^ Thế phả chép tên bà là "Ngọc Huệ"
- ^ Hoặc Diệu Chánh
- ^ a ă Theo Quốc sử di biên, có lẽ bà chỉ là Phi tần chứ chưa phải là Hoàng hậu như nhiều thông tin, nhưng điều này còn tồn nghi.
- ^ Theo "Đồng Khánh - Khải Định chính yếu", bà được tặng làm Quý phi, thụy Đoan Hòa, nhưng trong "Thực lục, đệ thất kỷ" lại chép bà được truy tặng làm Nhất giai Nghĩa phi.
- ^ "Tấu bản ngày 18 tháng 11 năm Duy Tân thứ 2".
Năm Duy Tân thứ 2, ngày 18 tháng 11, Bộ Hộ tấu: Nay vâng lệnh ban phát Hiệp Kỷ Lịch năm Duy Tân thứ 3 (năm Kỷ Dậu). Số lịch dâng lên Hoàng phụ, Hoàng địch mẫu, Hoàng sinh mẫu, cùng với số lịch kính dâng lưu lại cho các giai cấp trong nội cung của Hoàng phụ và các Hoàng tử, Hoàng nữ tổng cộng bao nhiêu cuốn. Xin cẩn thận kê khai rõ ở bên trái, tiếp tục tuân theo lệ cũ, do các nha môn liên quan kính dâng. Còn như số lịch ứng ban phát trong ngoài Kinh thành, xin tuân theo lệ cũ mà thực hiện. Tâu trình sự việc, chờ chỉ dụ tuân theo.
Phụng kê:
(Số lịch do cơ quan chịu trách nhiệm đóng gói gửi đi, giao cho Tòa Khâm sứ chuyển tiếp gồm có) Dâng Hoàng phụ (1 quyển lịch da 8 sợi màu vàng, 10 quyển Bửu lịch, 20 quyển Quan lịch), Nhị giai 2 Tiết phi, Minh phi (mỗi vị 3 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Tứ giai 1 Khoan tần (2 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Bát giai Mỹ nhân 1 (1 quyển Bửu lịch), Hoàng tử 4 (mỗi vị 2 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Hoàng nữ 6 (mỗi vị 1 quyển Bửu lịch), tổng cộng 54 quyển lịch (trong đó có 1 quyển lịch da 8 sợi màu vàng, 24 quyển Bửu lịch, 29 quyển Quan lịch);
(Số lịch do Thái giám Bùi Nhuận - Quản vụ Điện Long Ân phụng trực kính dâng gồm có) Nhị giai 1 Khang phi (4 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Tam giai 2 Khánh tần, Tuấn tần (mỗi vị 3 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Thất giai Quý nhân 1 (1 quyển Bửu lịch), Bát giai Mỹ nhân 2 (mỗi vị 1 quyển Bửu lịch), Hoàng tử 5 (mỗi vị 2 quyển lịch, trong đó có 1 quyển Bửu lịch), Hoàng nữ 8 (mỗi vị 1 quyển Bửu lịch), tổng cộng 31 quyển lịch (trong đó có 19 quyển Bửu lịch)