Bước tới nội dung

Lý Cao Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lý Cao Tông
李高宗
Hoàng đế Việt Nam
Tiền Trị Bình Nguyên Bảo đời Lý Cao Tông
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì14 tháng 8 năm 1175 – 15 tháng 11 năm 1210
35 năm, 93 ngày<timeline>

ImageSize = width:200 height:50 PlotArea = width:170 height:30 left:14 bottom:20 TimeAxis = orientation:horizontal DateFormat = yyyy Period = from:1009 till:1225 AlignBars = early ScaleMajor = increment:216 start:1009 Colors =

id:canvas value:rgb(1,1,0.97)

BackgroundColors = canvas:canvas PlotData =

width:15 color:black
bar:era from:start till:end
bar:era from:1175 till:1210 color:red
</timeline>
Tiền nhiệmLý Anh Tông
Kế nhiệmLý Thẩm (trong thời gian trị vì của ông)
Lý Huệ Tông
Thông tin chung
Sinh(1173-07-06)6 tháng 7, 1173
Mất15 tháng 11, 1210(1210-11-15) (37 tuổi)
An tángThọ Lăng
Thê thiếpAn Toàn Hoàng hậu

Vương Trung Phi
Sở Hoàng Phi

Triệu Lan Phi
Hậu duệLý Hạo Sảm
Lý Thầm
Tên húy
Lý Long Cán (hay Trát)
Niên hiệu
Trinh Phù (1176 - 1185)
Thiên Tư Gia Thụy (1186 - 1201)
Thiên Gia Bảo Hựu (1202 - 1204)
Trị Bình Long Ứng (1205 - 1210)
Tôn hiệu
Ứng Thiên Ngự Cực Hoành Văn Hiến Vũ Linh Thiệu Chiếu Phù Chương Đạo Chí Nhân Ái Dân Lý Vật Duệ Mưu Thần Trí Cảm Hóa Cảm Chánh Thuần Phu Huệ Thị Từ Tuy Du Kiến Mỹ Công Toàn Nghiệp Thịnh Long Hiện Thần Cư Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế 應乾御極宏文憲武靈瑞照符彰道至仁愛民理物睿謀神智化感政醇敷惠示慈綏猷建美功全業盛龍見神居聖明光孝皇帝
Miếu hiệu
Cao Tông (高宗)
Triều đạiNhà Lý
Thân phụLý Anh Tông
Thân mẫuLinh Đạo hoàng hậu
Tôn giáoPhật giáo

Lý Cao Tông (chữ Hán: 李高宗 6 tháng 7 năm 1173 – 15 tháng 11 năm 1210) là vị hoàng đế thứ bảy của nhà Lý, cai trị từ năm 1175 đến năm 1210. Cao Tông lên ngôi khi chỉ mới 3 tuổi, gặp được các trung thần như Tô Hiến Thành, Ngô Lý Tín phò tá nên đất nước giữ ổn định được những ngày đầu, song đến khi tự mình chấp chính, vua lại chơi bời vô độ, bỏ bê chính sự, hình pháp không rõ ràng khiến dân tình đói kém, ca thán, giặc cướp nổi lên như ong.[1] Thời kỳ của Cao Tông đánh dấu sự suy tàn không thể vực dậy của nhà Lý hay còn gọi là Cao Tông Trung Suy (高宗中衰).

Thân thế

Ông tên thật là Lý Long Trát[1] hay Lý Long Cán (李龍𣉙), sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, là con trai thứ sáu của Lý Anh Tông,[1] mẹ là Đỗ Thụy Châu.[2] Ông sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tỵ (tức ngày 6 tháng 7 năm 1173), khi mới lên 3 tuổi đã được đưa lên ngôi. Vua cha Anh Tông truất ngôi con cả là Long Xưởng và phong ông là Hoàng thái tử, ủy thác cho Tô Hiến Thành giúp đỡ.[1] Sau khi Anh Tông mất (1175), hoàng hậu vợ chính của Anh Tông là Chiêu Linh Thái hậu muốn lập con mình là Lý Long Xưởng lên ngôi nhưng nhờ có sự kiên quyết của Thái úy Tô Hiến Thành, Cao Tông vẫn được tôn phù ở ngôi báu.[3] Lý Long Xưởng vốn là người chơi bời phóng đãng, tà dâm vô đạo, thông dâm với cả phi tần của vua cha Anh Tông. Đỉnh điểm của việc suy đồi đạo đức là việc thái tử thực hiện gian kế của mẹ ruột Chiêu Linh Thái Hậu để quyến rũ cung phi là Từ thị của vua cha, nhưng cung phi cự tuyệt và đem toàn bộ sự việc tố cáo với vua cha.[2] Vua liền cho phế ngôi thái tử của Long Xưởng, cho làm thứ dân và tống giam vào ngục.[4] Phế xong thái tử Long Xưởng, vua có ý muốn lập Long Trát lên ngôi nhưng hơi e dè vì Trong Trát vẫn còn nhỏ tuổi. Nhân lúc có nội nhân ẵm Long Trát ra, vua liền lấy làm lạ vì Long Trát cứ khóc liên tục để đòi đội mũ của vua. Đến khi vua tháo mũ đội cho thì Long Trát liền cười. Cho đó là điềm lạ, vua lại càng cương quyết lập Long Trát làm thái tử hơn.[4]

Long Cán cũng chính là anh thứ của Lý Long Tường, người sau này là Hoa Sơn Tướng quân của Cao Ly.

Cai trị

Thời Tô Hiến Thành làm phụ chính

Sau khi vua cha Anh Tông băng hà vào tháng 8 năm 1175, thái tử Long Trát lên ngôi kế vị khi mới 3 tuổi. Tân vương tôn mẹ làm Chiêu Thiên Chí lý hoàng thái hậu, phong Đỗ An Di (em trai hoàng thái hậu) làm thái sư đồng bình chương sự, Tô Hiến Thành làm thái uý.[4]

Đến tháng giêng năm 1176, vua đổi niên hiệu thành Trinh Phù, đại xá thiên hạ. Tháng 3 năm 1177, giặc Chiêm Thành cướp phá châu Nghệ An.[1] Châu mục châu Thượng Nguyên người họ Dương làm phản triều đình.[5] Đến năm 1178, hết quốc tang tiên đế, Tô Hiến Thành cho quản lĩnh cấm binh, nghiêm quân kỷ, lại thưởng phạt bề tôi phân minh khiến cho lòng người trong nước đều quy thuận. Sang năm sau 1179, triều định lại cho tuyển trai tráng khỏe mạnh trong nước để sung vào quân đội, lại cho khảo xét công trạng các quan, phân loại những người có phẩm hạnh, thông chữ nghĩa, thông kim bác cổ, việc này khiến cho các quan chức không dám nhũng lạm.[1]

Tháng 6, ngày Giáp Thìn năm 1179, xảy ra thiên tượng lạ với 2 mặt trời cùng mọc,[1][6] như một điềm báo về những biến chuyển thay đổi triều đại sắp tới.

Sau khi Tô Hiến Thành mất

Gần 4 năm sau khi phụ chính Cao Tông, Tô Hiến Thành qua đời năm 1179 vì tuổi già. Trước khi mất, vì vua mới lên 7 tuổi nên Hiến Thành tiến cử Trần Trung Tá với Đỗ thái hậu.[1] Thái hậu dù khen hay nhưng cuối cùng không theo lời, chọn em trai là Đỗ An Di làm phụ chính.[7] Vua cùng Đỗ thái hậu xem con em các bậc tăng quan[lower-alpha 1] thi tụng kinh Bát Nhã. Vua cũng ngự ở điện Phượng Minh để xem các hoàng nam thi thơ phú và làm toán. Đến đầu mùa đông cùng năm, vua ngự ở điện Sùng Chương để coi khoa thi Tam giáo, các con em thi viết 5 bài thơ xưa và làm bài các môn: thơ, phú, kinh nghĩa và toán.[5]

Tháng giêng, năm 1181, thái tử cũ là Long Xưởng bấy giờ đã được phóng thích, bèn cầm đầu các gia thuộc và nô lệ đi trộm cướp bừa bãi, muốn mưu làm loạn.[7] Đến tháng 4, xảy ra nạn đói lớn, dân chết gần một nửa.[6][7]

Tháng giêng, năm 1182, vua xuống chiếu cầu hiền tài, lại sai tướng Ngô Lý Tín đem quân thủy bộ đi đánh trộm cướp.[7] Đỗ Thái hậu cho dùng Lý Kính Tu[lower-alpha 2] làm đế sư (thầy của vua), trong thì hầu việc giảng sách, ngoài thì dạy dân trung hiếu, từ đấy Chiêu Linh Thái hậu và Long Xưởng không dám manh tâm mưu khác nữa. Cũng trong năm này, Xiêm La sang triều cống Đại Việt.[7]

Năm 1183, tháng giêng, vua sai tướng Ngô Lý Tín đi đánh Ai Lao. Năm 1184, tháng 3, Chiêm Thành sang triều cống. Thương buôn các nước Xiêm La và Tam Phật Tề vào trấn Vân Đồn dâng vật báu để xin buôn bán với Đại Việt.[7] Mùa đông năm 1184, dân ở các làng[lower-alpha 3] Tư Nông, Trịnh và Ô Mễ[lower-alpha 4] dấy binh làm phản. Vua sai quan thái phó - hoạn quan Vương Nhân Từ đi đánh dẹp. Nhân Từ đánh hạ và san phẳng cả hai làng Đông Bái và Vạn Mễ. Nhân Từ sau đó tiến quân đến trại La Ao thì bị giặc mọi Sơn Lão đánh úp, quân triều đình thua to. Nhân Từ cho rút quân đến núi An Cối thì bị kẹt ở chỗ bùn lầy rồi bị giặc mọi Sơn Lão đâm chết.[8] Dù sử không chép trực tiếp, có thể căn cứ vào các biên niên sử trong Đại Việt sử ký toàn thư[9] và Đại Việt sử lược[10] để suy ra rằng Ngô Lý Tín thay chức Thái phó của Vương Nhân Từ sau khi Nhân Từ tử trận năm 1184.

Tháng giêng năm 1185, triều đình mở khoa thi, lấy đỗ Bùi Quốc Khái, Đặng Nghiêm cùng các sĩ tử khác đến 30 người.[7] Đến tháng 7, vua sai Kiến Ninh Vương là Long Ích thống lĩnh hơn 12000 quân đi đánh giặc mọi Sơn Lão để trả thù cho thất bại ở trận La Ao năm trước. Quân triều đình đánh bại và bắt giữ hết quân giặc ở thôn Đỗ Gia. Quan lang đi theo giặc Sơn Lão là Đinh Võ liền kêu khóc thảm thiết và bị người của triều đình là Nguyễn Đa Cẩm chửi mắng, nhục mạ rồi đái vào miệng. Giặc Sơn Lão trông thấy thế liền cắn vào dương vật của Đa Cẩm. Đa Cẩm liền đánh Đinh Võ sái quai hàm rồi ngã xuống đất gần chết. Long Ích liền sai người khớp mồm bọn Đinh Võ rồi đánh chết và đem đi phơi cho khô xác.[8]

Năm 1188, Thái sư Đỗ An Di từ trần, vua phong cho Thái phó Ngô Lý Tín làm phụ chính. Cũng trong năm 1188, trong nước xảy ra đại hạn rồi động đất gió bão. Đến năm 1189 thì lại xảy ra động đất và có thiên tượng lạ khi mặt trời, mặt trăng có sắc đỏ như máu.[9][10] Các thiên tai và thiên tượng xấu liên tiếp diễn ra trong hai năm như một điềm báo về những sóng gió sắp tới mà vương triều của Cao Tông phải đối mặt.

Thời kỳ Cao Tông Trung Suy

Khi còn nhỏ, Cao Tông là người ngoan lành, song khi lớn lên bắt đầu trực tiếp cầm quyền trị nước lại sinh ra ham mê săn bắn, chính sự pháp luật không rõ ràng, vơ vét của dân xây nhiều cung điện, bắt trăm họ xây dựng phục dịch nên trộm cướp nổi lên khắp nơi. Tháng giêng năm 1190, mẹ vua là Đỗ Thái hậu qua đời. Đến tháng 7 cùng năm thì phụ chính Ngô Lý Tín cũng mất. Vua dùng em của vợ (An Toàn nguyên phi) là Đàm Dĩ Mông, vốn là người không có học làm thái phó[9][10] nên việc triều chính dần suy sút từ đây.

Họa giặc giã, triều chính thối nát

Tháng 3 năm 1189, Cao Tông đi du hành khắp các nơi trong cả nước, đi đến đâu mà có thần linh lại cho xây dựng đền miếu.[9] Do chính sự triều Lý từ đây đã rối ren, lòng dân oán hận, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân và ly khai của các hào trưởng địa phương nổ ra.

Năm 1192, người giáp Cổ Hoằng ở Thanh Hóa làm phản, vua sai Đàm Dĩ Mông đi đánh và đánh dẹp được trong cùng năm.[11][lower-alpha 5] Cũng trong năm 1192, một người ở Diễn Châu là Hồ Điệp cũng dấy binh làm phản và cũng bị Đàm Dĩ Mông đánh dẹp và bắt được.[12] Đầu năm 1194, châu mục châu Chân Đăng là Hà Lê làm phản, vua lại sai Đàm Dĩ Mông đi đánh và bắt được.[12] Trước những cuộc nổi loạn liên tiếp diễn ra như vậy, vua lại chơi bời, hưởng lạc và cho xây dựng xa xỉ không ngớt. Tháng 7 năm 1194, vua cho lấy vàng và bạc mạ hai bước tượng Phạn Vương và Đế Thích rồi đem đặt tại hai ngôi chùa. Vua lại bày chơi đua thuyền rồi mở yến tiệc ở hậu cung.[12] Đến tháng 2 năm 1195, vua lại cho mở yến tiệc mùa xuân ở điện Thiên An. Cũng vào thời điểm này, trong nước lại xảy ra động đất, đến tháng 5 cùng năm thì lại có động đất và nạn dịch lớn. Đến tháng 3 năm 1197, vua đến chơi ở cửa biển Long Thủy, rồi cho xây cung Nghinh Thiềm và hành cung hơn 100 sở.[13] Lúc bấy giờ, lượng tăng đồ trong dân chúng khá lớn, không ít trong số này lại không giữ giới, hay làm điều xằng bậy. Vì trong nước vừa trải qua nạn giặc giã và thiên tai, dịch bệnh, cộng thêm việc xây cất của vua lại làm phu dịch trong dân chúng tăng lên không ngớt, Đàm Dĩ Mông lo sợ các tăng đồ có thể tụ tập dân chúng để làm điều thoán nghịch, nên đã tâu vua:[13]

“ Nay tăng đồ và phu dịch số lượng chẳng kém gì nhau. Bọn tăng đồ tự kết làm bè đảng, lập càn người lên làm chủ, tụ họp thành từng nhóm làm nhiều việc dơ bẩn. Hoặc ở giới trường, tịnh xá thì công khai ăn thịt, uống rượu. Hoặc nơi thiền phòng, tịnh viện thì kín đáo tự gian dâm với nhau. Ban ngày thì ẩn núp, ban đêm thì làm như chồn như chuột. Những hành vi làm bại hoại mỹ tục, làm thương tổn danh giáo dần dần sẽ thành thói quen, như thế mà không cấm thì lâu ngày tất sẽ càng thêm lên hơn nữa ”

Vua nghe theo lời tâu của Dĩ Mông mà xuống chiếu triệu tập và đánh dấu vào tay rồi bắt hoàn tục hết số tăng đồ vô lại.[13]

Năm 1198, người hương Cao Xá ở Câu Diễn là Ngô Công Lý cùng với người châu Đại Hoàng là Đinh Khả tự xưng là con cháu của Đinh Tiên Hoàng nổi loạn rồi bị đánh dẹp cũng trong năm.[11]

Trước họa giặc dã như thế, vua lại càng hưởng lạc và chơi bời vô độ hơn. Vua liên tục đi chơi ở các nơi để xem đánh cá, bắt voi, rồi lại mở đua thuyền và yến tiệc. Cùng lúc ấy, liên tục trong 3 năm từ 1199 đến 1201, trong nước liên tục xảy ra động đất.[14] Đến tháng 10 năm 1201, vua ngự tại hành cung Hải Thanh, đêm nào cũng sai nhạc công khảy đàn Bà Lỗ, mô phỏng theo điệu khúc Chiêm Thành. Âm thanh vừa trong trẻo lại thê lương như lời ai oán của kẻ vong quốc khiến ai nghe cũng đều rơi lệ. Tăng phó Nguyễn Thường thấy thế thì nói:[14]

“ Ta thấy trong Tựa Kinh Thi có nói, nhạc nước loạn thì ai oán, vì giận chính sự sai lạc; nhạc nước mất thì bi thương, vì nhớ dân khốn khổ. Nay thánh thượng du ngoạn không chừng, chính giáo rối loạn, dân chúng khổ sở, ngày càng trầm trọng, lại ngày ngày nghe âm thanh ai oán, chẳng phải là điềm loạn mất đó sao? Ta biết lần này xa giá trở về, sẽ không còn ngự cung ấy nữa! ”

Về sau, sự loạn vong trong nước quả đúng như lời nói ấy. Đến năm 1203, vua cho xây dựng hàng loạt cung điện. Đại Việt sử lược chép rõ:[14]

“ Tháng giêng, xây cất cung mới ở phía tây tẩm điện. Ở giữa dựng điện Thiên Thụy. Bên tả dựng điện Thiên Minh. Bên hữu dựng điện Thiềm Quang. Phía trước là điện An Chánh Nghi. Ở trên lại dựng điện Kính Thiên. Bậc thiềm gọi là Lệ Diêu. Nơi giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm. Bên hữu mở cửa Việt Thành. Bậc thiềm gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. Trên điện Thắng Thọ dựng cái gác Thánh Thọ. Bên tả dựng gác Nhựt Kim. Bên hữu dựng gác Nguyệt Bảo. Chung quanh làm mái hiên. Bậc thiềm nhà ở giữa gọi là Kim Tinh. Bên hữu cái gác Nguyệt Bảo dựng cái gác Lương Thạch. Phía tây dựng nhà tắm. Đằng sau làm cái gác Phú Quốc. Bậc thiềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng cửa Thẩu Viên. Đào hồ nuôi cá, trên hồ dựng đình Ngoạn Y. Đình ba mặt là cây cối, có những thứ hoa lạ, những loài cây khác thường. Nước hồ thông ra sông. Hồ được chạm trỗ sửa sang rất công phu. Cái công việc kiến trúc đẹp đẽ này buổi xưa chưa có. ”

Khi đang xây dở gác Kinh Thiên, có chim khách đến làm tổ, quần thần can gián nói: "Xưa Minh Đế nhà Ngụy xây điện Lăng Tiêu, có chim khách làm tổ, Cao Đường Long có nói 'Chim khách làm tổ, chim cưu ở đó. Xin bệ hạ xét lời của Cao Đường Long, trước cốt sửa đức, sau hãy khởi công mới phải", cho là điềm báo sắp có vương tộc mới thay thế triều Lý, khuyên vua ngừng việc xây cất.[15] Lý Cao Tông lại mang việc này hỏi hoạn quan Phạm Bỉnh Di. Bỉnh Di thưa rằng: ''Cái gác làm hoàn thành mà chim khách đến làm tổ, lại sanh ra chim con, như thế là trời cho bệ hạ cái điềm tốt vẫn giữ trăm đời.'' Vua nghe theo lời Bỉnh Di, càng cho xây gấp khiến trăm họ khốn khổ.[16]

Tháng 7 năm 1203, vua nước Chiêm Thành là Bố Trì (布池 Vidyanandana)[lower-alpha 6] vì có biến trong nước nên mang gia quyến và lực lượng trung thành của mình tới cửa biển Cơ La, định nương nhờ nhà Lý.[15] Vua sai Đàm Dĩ Mông và Đỗ An lo liệu việc này. Dĩ Mông và Đỗ An liền dẫn quân xuống Nghệ An. Sắp đến cửa biển Cơ La, Đỗ An bàn với Dĩ Mông rằng Bố Trì mang quân tới Nghệ An như vậy là có gian ý. Dĩ Mông nói lại ý đó với điện tiền chỉ huy sứ tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục là Phạm Diên thì cả hai cho rằng Bố Trì vì hoạn nạn nên mới nương nhờ Đại Việt nên không có gì phải nghi ngờ. Dĩ Mông lấy làm giận mà đem quân về. Thanh và Diên sau đó sợ vì đã làm trái ý Dĩ Mông nên liền phát binh đánh úp Bố Trì nhưng mưu bị lộ.[17] Bố Trì phản công, giết Đỗ Thanh, Phạm Diên và hơn 200 binh lính Nghệ An.[15] Sau đó, Bố Trì xua quân cướp bóc Nghệ An, rồi rút về nước.[15] Cũng sau sự kiện này, Chân Lạp lại chiếm được Chiêm Thành, biến nơi này thành một tỉnh trực thuộc, giao cho Dhanapati Grama cai quản. Chiêm Thành trở thành thuộc địa của Chân Lạp từ năm 1203 đến 1220.

Tháng 9 năm 1203 lại có cuộc nổi loạn của 2 người châu Đại Hoàng là Phí Lang và Lý Bảo Lương.[lower-alpha 7] Bảo Lương trước đây vốn là tướng của triều đình, vì chậm trễ trong việc xây gác Thánh Nhựt nên bị Đàm Dĩ Mông đánh. Từ đó, Bảo Lương nuôi mối thù với Dĩ Mông. Bảo Lương lại cùng quan lại bộ Thượng thư Từ Anh Nhị tâu vua tội sâu dân mọt nước của Đàm Dĩ Mông nên vua xuống chiếu giáng Dĩ Mông từ Thái phó Phụ chánh xuống hàng đại liêu.[17] Đại Việt sử ký toàn thư lại chép rằng cả Phí Lang và Bảo Lương vốn trước đây đã tâu các tội mọt nước hại dân của Đàm Dĩ Mông, rồi bị Dĩ Mông đánh, nên sinh lòng oán hận.[15] Hai người này nhân khi rối ren liền làm phản. Vua sai Trần Lệnh Hinh làm Nguyên soái và Thượng thư Từ Anh Nhữ[lower-alpha 8] đem quân từ phủ Thanh Hóa tiến đánh Phí Lang xong bị thua, cả hai tướng đều bị giết;[15] đến tháng 1 năm sau 1204 lại sai Đỗ Kính Tu đi đánh.[18] Kính Tu không dám tiến đánh vào sâu trong vùng của quân nổi loạn mà chỉ chia nhỏ quân đi đánh các đạo, rồi viết thư dâng vua, than rằng thời tiết mùa hạ oi bức, binh lính già yếu, hành quân gặp lam chướng, lại hết lương thực. Vua bèn hạ lệnh rút quân về. Đến tháng 5, vua lại sai Quan nội hầu là Đỗ Anh Doãn đi đánh Đại Hoàng nhưng lại bại trận và kéo quân về.[17]

Tháng 3 năm 1204, nhà Tống còn xua quân sang quấy phá biên giới Đại Việt khiến nhân dân phải chạy loạn vô cùng khổ sở. Trong triều, vua giờ đây chỉ còn ham thích tiền của, yến tiệc và xây cất xa hoa. Để có tiền cho những việc này, vua chủ trương cho các quan lại mua quan bán tước, lợi dụng việc kiện cáo ruộng đất, sản vật để trục lợi.[18][19] Việc hình luật trong nước trở nên vô cùng thối nát, quan lại chỉ lo thu nạp tiền của người kiện cáo chứ không màn phân xử đúng sai. Cho nên quốc khố thì tiền của chất cao như núi nhưng trăm họ thì oán thán, đói rách, cùng quẫn. Giặc cướp nổi lên như ong.[19]

Đến tháng 10 năm 1204, vì lo sợ thanh thế của quân nổi loạn Đại Hoàng, vua sai Đàm Dĩ Mông đem binh ở các đạo đi đắp bờ lũy từ kinh Bà Câu theo hướng bắc đến trại Văn Lôi để ngăn quân Đại Hoàng. Dĩ Mông lại sai người đóng vài chục thuyền lầu rồi bố trí cung thủ ở trên để phòng thủ nếu quân Đại Hoàng tiến đến. Sau khi Dĩ Mông về kinh thì đến năm sau 1205, quân Đại Hoàng tiến đến đánh khúc sông ấy. Quân triều đình thua to, số cung thủ đều bị quân Đại Hoàng tiêu diệt hết. Rồi quân Đại Hoàng tiến lên bờ đánh trống, hò reo ầm ĩ khiến quân triều đình hoảng sợ trước khí thế của quân nổi loạn nên đều bỏ chạy.[19] Cũng trong năm 1205, giặc mọi Quan Sạn nổi lên làm loạn, san bằng một dãy xóm, đốt kho thóc và gần hết nhà cửa của một bộ lạc rồi thiêu hủy hành cung Ứng Phong. Sau đó, giặc kéo đến Hiện Động thì bị người ở động ấy đón đánh và phá được.[19] Đến tháng 8 năm 1205, vua sai quan Thị vệ đô Hỏa đầu là Nguyễn Vị đi chiêu dụ quân Đại Hoàng. Nguyễn Vị đến, Phí Lang cùng với hơn 170 hào trưởng ra hàng.[19]

Đến năm 1206, cả Đại Việt giờ đã loạn, đường sá tắc nghẽn, nhưng vua vẫn cứ chơi bời trác táng, xây đền đài không ngớt, lại còn tin vào những điều quỷ dị, mê tín, nghe ngoài thành có trộm cướp thì lại lờ đi như không biết.[20]

Đến năm 1207, lại tiếp tục có cuộc nổi loạn của người Man ở núi Tản Viên, thanh thế rất lớn, quân triều đình không ngăn được.[18] Người Man vẫn cát cứ ở vùng núi Tản Viên đến hết thời nhà Lý.[21] Cũng trong năm 1207, quân Đại Hoàng do Phí Lang cầm đầu lại tiếp tục làm phản, đánh ấp Tạp Tự. Người ở châu Quốc Oai là Đoàn Khả Liệt và Vương Mãn cũng dấy binh, chống lại triều đình.[20] Vua xuống chiếu tuyển trai tráng khoẻ mạnh xung vào quân đội để đánh giặc cướp nhưng tình hình khủng hoảng vẫn không cải thiện được gì. Tình thế của Đại Việt trong năm 1207 đã quá rối ren, khủng hoảng, giặc cướp và phản loạn nổi lên khắp nơi. Bấy giờ, vua mới thấy hối hận vì những việc đã qua, bèn xuống chiếu tạ lỗi với dân:[22]

“ Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơi cửu trùng, không biết được cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai? Nay trẫm sẽ sửa lỗi, cùng dân đổi mới. Những người có đất đai, sản nghiệp bị mất về tay các quan thì được trả lại tất cả. ”

Đến năm 1208, cả nước gặp nạn đói to, người chết đói hàng loạt, đến tháng 10, lại có lũ lụt.[18] Tháng chạp năm 1208, nhân lúc triều đình đang bận đối phó với loạn Đoàn Thượng, thì Vi Trí Cương, người của nhà Tống ở Lộc Châu đem quân đánh Lạng Châu.[22]

Gian thần Phạm Du

Tháng 3 năm 1207, hào trưởng ở Hồng Châu (Hải DươngHải Phòng) là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ nổi dậy,[20][lower-alpha 9] xây đắp thành lũy, xưng vương hiệu.[23] Đoàn Thượng vốn là tướng của Cao Tông, lại có cùng một vú nuôi với Cao Tông. Giữa lúc thế nước rối ren, vua sai Đoàn Thượng mộ binh vùng Hồng Châu đi đánh giặc cướp. Đoàn Thượng nhân cớ ấy mà xây dựng lực lượng riêng, làm oai với triều đình, gây điều tai ác.[24] Đến khi về triều, Đoàn Thượng bị các quan hặc tội và tâu vua tống giam Thượng vào ngục. Đoàn Thượng liền tuốt gươm rồi khỏa thân làm loạn triều đình, rồi chạy về Hồng Châu, tụ họp bè đảng cướp bóc lương dân, xây đắp thành lũy, xưng vương, cát cứ chống triều đình.[23][24]

Cao Tông phái rất nhiều quân đi đánh Hồng Châu. Đàm Dĩ Mông đem quân đạo Đại Thông (miền Hà Đông cũ dọc sông Đáy), Phạm Bỉnh Di đem quân đạo Khả Liễu, Trần Hinh đem quân đạo Phù Đái (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Bảo Trinh hầu đem quân đạo Nam Sách (Nam Sách, Hải Dương), cùng họp nhau đánh Đoàn Thượng.[20] Thấy thế lực quân triều đình quá mạnh, Đoàn Thượng liền ngầm sai người đem của cải đút lót cho Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du, xin triều đình rút quân về. Phạm Du cố vì Thượng mà xin với Cao Tông và vua liền sai sứ triệu Đàm Dĩ Mông về.[20] Cuộc liên minh giữa Thượng và Du bắt đầu từ đó, đồng thời từ đây cũng nảy sinh hiềm khích giữa Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di với Phạm Du.[22]

Đầu năm 1209, Cao Tông sai Phạm Du coi việc quân ở châu Nghệ An.[22] Bấy giờ miền này đang đói lớn, số người bị chết đói rất nhiều. Những người còn sống sót cũng bị phá sản, lưu vong. Nhân cơ hội ấy, Phạm Du nói với vua rằng:

“ Nay thiên hạ rối loạn, bọn gian tặc nổi lên khắp nơi... xin cho phép tôi được tuyển bọn trai tráng để tự đề phòng, mới mong khỏi lo tai họa. ”

Vua bằng lòng. Phạm Du bèn chiêu tập những người vong mệnh ngang nhiên đi đánh cướp khắp các nơi.[25][22][26] Quân nổi loại ở châu Quốc Oai từ năm 1207 trước đó cũng đem quân đến đóng ở Tây Kết. Từ đó đường đất bị cắt đứt, thuyền bè không đi lại được. Cao Tông thấy tình hình nguy khốn liền sai Phạm Bỉnh Di lấy quân ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên) để đánh Phạm Du. Phạm Du thua, phải chạy về Cổ Miệt, rồi họp binh với Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ở Hồng Châu đánh trả lại quân Đằng Châu của Bỉnh Di. Bỉnh Di bị thua.[25][22]

Tháng 2 năm 1209, Bỉnh Di lại đem binh ở Đằng Châu, Khoái Châu đi đánh Du. Phạm Du thua trận bỏ trốn lên Hồng Châu. Bỉnh Di tịch biên gia sản của Du rồi đốt hết. Vì thế, Phạm Du lại càng thù Bỉnh Di hơn.[25][27] Phạm Du ngầm sai người về kinh đút lót cho bọn quan lại trong triều, nói rằng Bỉnh Di tàn ác, giết hại người vô tội và kể lể tình oan, xin về kinh đợi tội.[28]

Tháng 4 năm 1209, Phạm Bỉnh Di đánh tan quân Đoàn Thượng và Đoàn Chủ, Đoàn Chủ bị đâm chết. Sau đó, vua vì tin lời tấu bậy của Phạm Du nên sai Trần Hinh triệu Phạm Du về kinh, đến tháng 7, lại triệu Phạm Bỉnh Di về kinh. Phạm Du về kinh trước hầu Cao Tông, được vua tin cẩn. Bỉnh Di đến kinh sau, đang chuẩn bị vào triều phụng mệnh thì có người ngăn lại rồi kể chuyện Phạm Du tâu bậy với vua cho Bỉnh Di nghe. Bỉnh Di vì cho rằng mình là người trung quân ái quốc, có công phò vua đánh giặc nên không sợ lời gièm pha của Phạm Du mà vẫn quyết vào triều. Cao Tông liền sai bắt Bỉnh Di và con là Phụ giam ở Thủy Viên, toan làm tội.[28]

Loạn Quách Bốc

Tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin đó, liền đem binh lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ.[29] Du cùng em là bọn Phạm Kinh liền lấy binh khí tự tay giết Bỉnh Di và con của Bỉnh Di là Phụ rồi cùng Cao Tông chạy trốn.[27] Quách Bốc kéo quân vào được trong thành nội, liền tôn hoàng tử nhỏ là Thầm lên làm vua. Triều thần của vua như Đàm Dĩ Mông, Nguyễn Chính Lại bị kẹt lại trong cung và quy hàng Quách Bốc rồi được Bốc phong tước.[30]

Cao Tông chạy về Quy Hóa (phía bắc Tam Nông, Phú Thọ ngày nay)[28] nương nhờ nhà Hà Vạn, một thủ lĩnh miền thiểu số có thế lực.[31] Thái tử Sảm cùng mẹ là Nguyên phi Đàm thị và hai em gái chạy về Hải Ấp, Thái Bình dưới quyền cai quản của Trần Lý. Họ Trần đón thái tử Sảm về Lỵ Nhơn rồi lập làm vua, tôn xưng là Thắng Vương, và giáng hoàng tử Thẩm đang ở Thăng Long xuống tước vương. Sau đó, thái tử Sảm trở về Hải Ấp để nương náu rồi lấy con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung làm vợ, phong cho làm phi. Lý Sảm lại phong cho Trần Lý tước Minh Tự, em vợ Trần Lý là Tô Trung Từ được phong tước Điện tiền Chỉ huy sứ, Phạm Ngu - người của Trần Lý - được phong Thượng Phẩm Phụng Ngự. Dù đang còn ở Thăng Long và quy hàng Quách Bốc, Đàm Dĩ Mông vẫn được Thắng Vương Sảm phong làm Thái úy, Nguyễn Chánh Lại được phong làm Tham tri Chính sự.[27] Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư phê phán việc thái tử Sảm lấy vợ rồi tự tiện phong tước trong lúc chạy loạn này.[30]

Trần Lý vốn là gia chủ họ Trần, nhận được tước phong liền lập tức phát động dòng họ mộ binh đánh Quách Bốc, phò thái tử.[32] Họ Trần uy vọng rất cao ở khắp vùng Hải Ấp, trai tráng nghe lời mộ mà nườm nượp đến tòng quân.

Cùng lúc đó, biết tin Thái tử Sảm lập triều đình riêng và tự ý phong tước cho Trần Lý, Tô Trung Từ, Phạm Ngu... nên vua Lý Cao Tông ở Quy Hóa muốn đánh dẹp, bèn sai Phạm Du đi để liên lạc với họ Đoàn (Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi) ở vùng Hồng. Nhưng Du lại ham sắc, tư thông với công chúa Thiên Cực, nên lỡ hẹn với họ Đoàn. Khi Du lên thuyền đi gặp họ Đoàn, tới Ma Lãng thì bị đồng minh bấy giờ của họ Trần là lính dưới quyền hào trưởng Bắc Giang Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải đón bắt giao cho Thái tử Sảm giết chết.[33]

Trần Lý và Tô Trung Từ mang quân đánh về kinh thành dẹp Quách Bốc. Cuối năm 1209, loạn Quách Bốc bị dẹp, Trần Lý lại bị bọn giặc khác giết.[30][lower-alpha 10] Họ Trần mới đón vua Cao Tông từ Quy Hóa về cung.[28] Sử sách chép không rõ về kết cục của Quách Bốc, Lý Thầm. Toàn thư ghi đại lược: "Trừng trị bọn Quách Bốc làm loạn, xử tội theo mức độ khác nhau". Cương mục cũng ghi vắn tắt: "Vua xét tội tùy theo nặng nhẹ có sai biệt". Sách Việt sử Tiêu án không đề cập tới việc xử tội phe Quách Bốc. Các sử gia nhận định không có tài liệu nào nói tới việc bắt hay giết Quách Bốc, Lý Thầm.

Năm 1210, do sợ bị vua buộc tội vì đã nhận tước phong của thái tử Sảm, Tô Trung Từ cho người đến bắt thái tử về nhà mình. Được tin ấy, vua sai quan Thượng phẩm Phụng ngự là Đỗ Quảng sang nhà Tô Trung Từ để đón thái tử. Những người được thái tử Sảm phong tước cũng đều sợ mà trốn hết cả. Đàm Dĩ Mông lúc này cũng đã trốn ở làng An Lãng rồi chiêu mộ 5 đội binh để lùng bắt hết những người được thái tử phong tước để dâng vua chuộc tội. Quân của Dĩ Mông tiến đánh làng Tức Mặc của họ Trần thì bị thua. Các đạo binh khác phò Dĩ Mông nghe tin thất trận cũng kéo quân về. Đến tháng 7, Dĩ Mông bắt được 28 người được thái tử Sảm phong tước rồi đem vào cung nộp và gặp quan Đỗ Anh Doãn.[33] Anh Doãn liền mắng Dĩ Mông tội quy hàng giặc. Dĩ Mông hổ thẹn rồi lui về. Dù trước đã hàng phục Quách Bốc, Đàm Dĩ Mông vẫn không bị trị tội, và vẫn được giữ chức thái úy.[28]

Qua đời

Ngày 28 Nhâm Ngọ, năm Canh Ngọ (tức 15 tháng 11 năm 1210), Cao Tông mất ở cung Thánh Thọ, hưởng dương 38 tuổi, an táng tại Thọ Lăng. Trước khi mất, Cao Tông ủy thác cho Đỗ Kính Tu việc triều đình.[24]

Thái tử Lý Sảm lên ngôi, tức là vua Lý Huệ Tông. Vua Lý Huệ Tông truy tôn cho cha miếu hiệu là Cao Tông, thụy hiệu là Ứng Thiên Ngự Cực Hoành Văn Hiến Vũ Linh Thiệu Chiếu Phù Chương Đạo Chí Nhân Ái Dân Lý Vật Duệ Mưu Thần Trí Cảm Hóa Cảm Chánh Thuần Phu Huệ Thị Từ Tuy Du Kiến Mỹ Công Toàn Nghiệp Thịnh Long Hiện Thần Cư Thánh Minh Quang Hiếu Hoàng Đế.

Tình hình trong nước ngày càng rối ren hơn. Tính đến thời điểm này, trong nước tồn tại 2 lực lượng quân sự lớn là họ Trần và Đoàn Thượng, trở thành mối nguy với triều đình Thăng Long. Được hơn 10 năm sau ngày Cao Tông mất, nhà Lý mất về tay họ Trần (1225).

Sử sách gọi thời kỳ của ông là "Cao Tông Trung Suy"

Gia đình

Thân Phụ: Lý Anh Tông

Thân Mẫu: Linh Đạo Hoàng hậu

Phi Tần
STT Danh hiệu Tên Ghi chú
1 An Toàn Hoàng hậu Đàm thị Thân mẫu vua Lý Huệ Tông
2 Trung Phi Vương thị
3 Hoàng Phi Sở thị
4 Lan Phi Triệu thị
Hoàng Tử
STT Danh hiệu Tên Năm sinh Mẹ
1 Lý Huệ Tông Lý Sảm 1194-1226 An Toàn Hoàng hậu Đàm thị
2 Lý Thầm 1202-?

Nhận định

Lý Cao Tông trong suốt 37 năm trị vì đã chứng kiến sự suy yếu không thể vực dậy của nhà Lý vì lối ăn chơi hưởng lạc của mình. Trước khi qua đời, ông đã cho ban chiếu hối lỗi để tạ tội với thần dân của mình. Vua Lý Cao Tông lên ngôi khi chỉ mới 3 tuổi với sự trợ giúp của Thái úy Tô Hiến Thành. Lớn lên, khi trực tiếp cầm quyền trị nước, Cao Tông ham mê săn bắn, chính sự pháp luật không rõ ràng, vơ vét của dân xây nhiều cung điện, bắt trăm họ phục dịch nên trộm cướp nổi lên khắp nơi.

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư nhận định về Lý Cao Tông như sau:

Trong sách Việt sử Tiêu án, Ngô Thì Sĩ viết:

Vua Cao Tông ham chơi bời, lại thiếu sáng suốt. Trước nghe theo Phạm Bỉnh Di bắt dân phu hoàn thành nhanh cung thất, sau lại nghe Phạm Du sàm tấu mà giết Bỉnh Di. Thực ra không phải vì trước đây Bỉnh Di là sủng thần mà sau đó bị thất sủng, mà vì vua Cao Tông chỉ thích hưởng lạc nên điều Bỉnh Di tâu việc đốc công là hợp ý vua mà thôi.

Theo nhận định của các nhà chuyên môn, chính sự nhà Lý tới thời Cao Tông đã rất lỏng lẻo do lỗi lầm của nhà vua:

  • Trước sai Phạm Bỉnh Di dẹp Phạm Du, sau lại nghe lời tâu bậy của Du mà tin dùng Du, coi Du là "phải", Bỉnh Di là "trái".
  • Bộ tướng Quách Bốc của Bỉnh Di không hẳn đã có một đạo quân hùng hậu, vậy mà triều đình trung ương nghe tin Bốc kéo vào liền hốt hoảng bỏ chạy không dám chống cự; vua một nơi, hoàng hậu cùng hoàng tử và công chúa một nơi.
  • Đàm Dĩ Mông thần phục Lý Thầm và Quách Bốc, lẽ ra phải trị tội như Lê Chiêu Tông giết thái sư Lê Quảng Độ theo Trần Cảo sau này, nhưng Cao Tông lại dung tha cho Mông, để làm đại thần.

Bởi bên dưới khinh nhờn luật nước vẫn được dung túng, nên sau này quần hùng nổi dậy, nay đánh mai hàng, loạn mãi không chấm dứt được. Dân bị bóc lột đã oán triều đình. Công thần bị giết oan, lòng người càng chia lìa. Bởi vậy các sử gia nhận định rằng lỗi làm mất nhà Lý bắt đầu từ Cao Tông.

Tuy nhiên, việc Cao Tông ban chiếu tạ lỗi với nhân dân vào năm 1207 cũng là một điểm đáng ghi nhận. Với chiếu hối lỗi, Lý Cao Tông được xem là vị vua đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam "dám" hạ mình xin lỗi dân, song năm 1207 đã là những năm cuối đời của ông. Ba năm sau, Lý Cao Tông qua đời khi đất nước đã căn bản dẹp yên được những cuộc nổi loạn lớn và triều đình phải dựa hẳn vào thế lực nhà họ Trần. Vì vậy, chiếu nhận lỗi của vị vua này được giới sử học xem như là những lời hối lỗi quá muộn màng và hối chỉ để mà hối thôi chứ không thực hiện một biện pháp gì để chấn chỉnh hoặc tình trạng đã quá tệ để có thể thay đổi được.

Trong văn hoá đại chúng

Năm Tác Phẩm Diễn Viên
2013 Thái sư Trần Thủ Độ NSND Hoàng Dũng

Xem thêm

Chú giải

  1. ^ Các tu sĩ làm quan trong triều
  2. ^ Nguyên họ Đỗ, được ban họ vua.
  3. ^ Đại Việt Sử lược và Đại Việt sử ký toàn thứ chép là "sách" (theo đơn vị hành chính thời Lý)
  4. ^ Chú giải trong Đại Việt sử ký toàn thư, bản in năm 1993 phỏng đoán các sách này thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ, tức Hà Nội và Phú Thọ ngày nay.
  5. ^ Đại Việt sử lược chép người giáp Cổ Hoàng làm phản vào mùa thu năm 1188 rồi không chép gì thêm (trang 83 - Quyển III), đến năm 1192 thì vua mới sai Đàm Dĩ Mông đánh dẹp (trang 84 - Quyển III).
  6. ^ Vidyanandana, còn xưng hiệu là Suryavarman. Năm 1203, chú của Sūryavarman là Dhanapati Grama (còn gọi là Bố Điền hoặc Bố Do) liên kết với vua Chân Lạp Jayavarman VII tấn công Sūryavarman. Ông không chống nổi, phải mang theo hơn 200 chiến thuyền chạy đến cửa biển Kỳ La của Đại Việt.
  7. ^ Đại Việt sử lược chép Bảo Lương họ Nguyễn, tức họ Lý vì Đại Việt sử lược theo lệ kiêng huý đời Trần đổi Lý thành Nguyễn.
  8. ^ Đại Việt sử ký toàn thư chép là Từ Anh Nhữ
  9. ^ Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám Cương mục đều chép Đoàn Thượng, Đoàn Chủ khởi binh vào năm 1212, thời Lý Huệ Tông. Việc này là không hợp lý vì cuộc nổi loạn này dẫn đến loạn Quách Bốc xảy ra thời Cao Tông. Chú giải 3, Đại Việt sử lược trang 90 có nhắc đến việc chép mâu thuẫn năm của sự kiện này.
  10. ^ Đại Việt sử ký toàn thư chỉ chép là Trần Lý bị bọn giặc khác giết, chứ không rõ là lực lượng nào.
  11. ^ Chỉ họ Trần.

Chú thích

  1. ^ a ă â b c d đ e Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 147.
  2. ^ a ă Khuyết danh 1377, tr. 78.
  3. ^ Khuyết danh 1377, tr. 79.
  4. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 146.
  5. ^ a ă Khuyết danh 1377, tr. 80.
  6. ^ a ă Khuyết danh 1377, tr. 81.
  7. ^ a ă â b c d đ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 148.
  8. ^ a ă Khuyết danh 1377, tr. 82.
  9. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 149.
  10. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 83.
  11. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 150, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Cao Tông Hoàng Đế.
  12. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 84.
  13. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 85.
  14. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 86.
  15. ^ a ă â b c d Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 151, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Cao Tông Hoàng Đế.
  16. ^ Khuyết danh 1377, tr. 87.
  17. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 88.
  18. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 152, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Cao Tông Hoàng Đế.
  19. ^ a ă â b c Khuyết danh 1377, tr. 89.
  20. ^ a ă â b c Khuyết danh 1377, tr. 90.
  21. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 159, Quyển V, Kỷ nhà Trần: Thái Tông Hoàng Đế.
  22. ^ a ă â b c d Khuyết danh 1377, tr. 91.
  23. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 154, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Huệ Tông Hoàng Đế.
  24. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 184, Chính Biên - Quyển V.
  25. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 152, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Huệ Tông Hoàng Đế.
  26. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 182, Chính Biên - Quyển V.
  27. ^ a ă â Khuyết danh 1377, tr. 92.
  28. ^ a ă â b c Quốc sử quán triều Nguyễn 1884, tr. 183, Chính Biên - Quyển V.
  29. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 152.
  30. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 153.
  31. ^ Lê Tắc (1335), An Nam chí lược, Quyển Đệ Thập Nhị, tr. 104, "Long Trát (tức Cao Tôn)"; NXB: Đại học Huế
  32. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 153, Quyển IV, Kỷ nhà Lý: Huệ Tông Hoàng Đế.
  33. ^ a ă Khuyết danh 1377, tr. 93.

Tài liệu tham khảo

  • Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ, quyển IV: Cao Tông Hoàng Đế , Hanoi: Social Science Publishing House
  • Khuyết danh (1377), Đại Việt sử lược, quyển III: Vua Cao Tông, wikisource
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1884), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hanoi: Education Publishing House

Liên kết ngoài