Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc
Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc (tiếng Trung: 中華民國憲法; bính âm: Zhōnghuá Mínguó Xiànfǎ) là bản hiến pháp thứ năm và hiện hành của Trung Hoa Dân Quốc, được Trung Quốc Quốc dân Đảng phê chuẩn trong kỳ họp Quốc hội Lập hiến ngày 25 tháng 12 năm 1946 tại Nam Kinh, và được thông qua vào ngày 25 tháng 12 năm 1947. Hiến pháp này, cùng với Những điều sửa đổi, bổ sung, vẫn có hiệu lực tại các vùng lãnh thổ do Trung Hoa Dân Quốc kiểm soát.
| Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc | |
|---|---|
| 國史館 中華民國憲法正本 20180607.jpg Trang đầu của bản gốc Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc | |
| Tổng quan | |
| Khu vực |
|
| Phê chuẩn | 25 tháng 12 năm 1946 |
| Hiệu lực | 25 tháng 12 năm 1947 |
| Hệ thống | Cộng hòa lập hiến đại nghị đơn nhất |
| Tổ chức chính quyền | |
| Nhánh chính quyền | Năm (Hành chính viện, Lập pháp viện, Tư pháp viện, Khảo thí viện, Giám sát viện) |
| Nguyên thủ quốc gia | Tổng thống |
| Cơ quan lập pháp | Tam viện (Quốc dân Đại hội, Lập pháp viện, Giám sát viện)[1] |
| Hành pháp | Viện trưởng lãnh đạo Hành chính viện |
| Tư pháp | Tư pháp viện |
| Hình thức nhà nước | Nhà nước đơn nhất |
| Đại cử tri đoàn | Có (Quốc dân Đại hội) |
| Lịch sử | |
| Cơ quan lập pháp đầu tiên | 29 tháng 3 năm 1948 (Quốc dân Đại hội) 8 tháng 5 năm 1948 (Lập pháp viện) 5 tháng 6 năm 1948 (Giám sát viện)[2] |
| Chính phủ đầu tiên | 20 tháng 5 năm 1948 (Tổng thống) 24 tháng 5 năm 1948 (Viện trưởng) |
| Tòa án đầu tiên | 2 tháng 7 năm 1948 |
| Bãi bỏ | 1 tháng 10 năm 1949 (Trung Quốc đại lục) |
| Sửa đổi | xem Các điều bổ sung Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc |
| Địa điểm | Academia Historica, Trung Chính, Đài Bắc[3] |
| Cơ quan soạn thảo | Quốc hội lập hiến (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) |
| Người tạo | Trương Gia Sâm và các thành viên Quốc hội lập hiến |
| Người ký | 1.701 trong số 2.050 đại biểu, tại Nam Kinh |
| Thay thế | Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân quốc |
| Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc | |||||||||||||||||||||||||||
| Phồn thể | Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | ||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giản thể | Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). | ||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||
Hiến pháp này chưa bao giờ được thi hành rộng rãi do Nội chiến Trung Quốc tại Trung Quốc đại lục vào thời điểm ban hành Hiến pháp. Quốc dân Đại hội khóa I thông qua Điều khoản lâm thời trong thời kỳ động viên dẹp loạn vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, trao cho chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do Trung Quốc Quốc dân Đảng lãnh đạo những quyền hạn khẩn cấp và đình chỉ thi hành Hiến pháp trên thực tế.
Sau khi Trung Hoa Dân Quốc dời sang Đài Loan vào ngày 7 tháng 12 năm 1949, Điều khoản lâm thời cùng với thiết quân luật biến Đài Loan thành một nhà nước đơn đảng độc tài. Quá trình dân chủ hóa bắt đầu vào thập niên 1980. Thiết quân luật bị bãi bỏ vào năm 1987 và Điều khoản lâm thời bị bãi bỏ vào năm 1991. Những điều sửa đổi, bổ sung Hiến pháp được thông qua để phản ánh thẩm quyền thực tế của chính phủ và việc thực hiện quan hệ xuyên eo biển. Những điều sửa đổi, bổ sung cũng chuyển đổi chế độ chính trị từ thể chế đại nghị thành bán tổng thống chế với quốc hội đơn viện, tạo thành nền tảng cho nền dân chủ đa đảng ở Đài Loan.
Trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, nguồn gốc của Hiến pháp từ Trung Quốc đại lục đã khiến những người ủng hộ Đài Loan độc lập thúc đẩy ban hành hiến pháp mới cho Đài Loan.[4][5][6] Tuy nhiên, những nỗ lực của chính quyền Đảng Dân chủ Tiến bộ nhằm tạo ra một hiến pháp mới trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trần Thủy Biển thất bại vì Trung Quốc Quốc dân Đảng lúc bấy giờ kiểm soát Lập pháp viện.[7] Họ chỉ đồng ý sửa đổi Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, chứ không làm hiến pháp mới. Lần sửa đổi gần đây nhất của Hiến pháp là năm 2005, với sự đồng thuận của cả Trug Quốc Quốc dân Đảng và Đảng Dân chủ Tiến bộ.[8]
Lịch sử
| Ngày | Luật cơ bản khác | Vị trí chính quyền | Thời gian |
|---|---|---|---|
| 25/12/1947 – 10/5/1948 | — | Nam Kinh | 4 tháng |
| 10/5/1948 – 7/12/1949 | Điều khoản lâm thời trong thời kỳ động viên dẹp loạn | Nam Kinh, Quảng Châu, Trùng Khánh, Thành Đô | 1 năm, 6 tháng |
| 7/12/1949 – 30/4/1991 | Đài Bắc | 41 năm, 4 tháng | |
| 1/5/1991 – nay | Những điều sửa đổi, bổ sung Hiến pháp | 35 năm, 3 tháng |
Nguồn gốc
Trung Quốc thời phong kiến đã áp dụng hệ thống chính trị đan xen giữa sự phân bổ quyền lực theo chế độ phong kiến và chế độ chuyên chế tập trung. Ý tưởng về chế độ quân chủ lập hiến và hiến pháp thành văn đã trở nên có ảnh hưởng vào cuối thế kỷ 19, phần lớn được lấy cảm hứng trực tiếp từ tiền lệ của Hiến pháp Minh Trị ở Nhật Bản. Nỗ lực đầu tiên hướng tới chủ nghĩa hiến pháp ở Trung Quốc là trong cuộc Bách nhật duy tân diễn ra vào năm 1898 bởi Hoàng đế Quang Tự trẻ tuổi và những người ủng hộ có tư tưởng cải cách của ông, nhưng một cuộc đảo chính của những người theo chủ nghĩa quân chủ bảo thủ trung thành với Từ Hi Thái hậu đã chấm dứt nỗ lực này. Tuy nhiên, chính phe này cuối cùng đã áp dụng chính sách chuyển đổi sang chủ nghĩa hiến pháp. Tuy nhiên, văn kiện hiến pháp đầu tiên chỉ được công bố vào năm 1908, và văn kiện hiến pháp đầu tiên có hiệu lực pháp lý ("Mười chín Điều ước") đã không được thực hiện cho đến năm 1911, sau khi Cách mạng Tân Hợi nổ ra, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Thanh vào năm sau đó.
Lịch sử thuộc địa
Sau Chiến tranh Thanh – Nhật, Hiệp ước Shimonoseki trao cho Nhật Bản toàn quyền chủ quyền đối với Đài Loan. Việc Trung Quốc nhượng lại Quận Đài Loan sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chế độ hiến pháp của hòn đảo này: Nhật Bản đã ban hành Hiến pháp Minh Trị sáu năm trước đó. Sau đó, chế độ thực dân của Nhật Bản đã gây ra những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh việc áp dụng Hiến pháp Minh Trị đối với các chính quyền thuộc địa. Mặc dù chính quyền đầu sỏ Minh Trị tuyên bố rằng hiến pháp của họ sẽ không được áp dụng cho các thuộc địa, người dân Đài Loan khẳng định rằng việc họ nhập tịch với tư cách là công dân Nhật Bản đã đảm bảo các quyền được nêu trong Hiến pháp Minh Trị.[9] Những cuộc tranh luận pháp lý này đã lên đến đỉnh điểm khi Đài Loan được trao quy chế pháp lý đặc biệt - Đài Loan trên danh nghĩa được quản lý theo hiến pháp.[10] Tuy nhiên, các quyền hiến định liên tục bị quân đội và cảnh sát nhà nước Nhật Bản vi phạm. Các thể chế đại diện không được thiết lập theo hiến pháp. Tương tự như vậy, Thiên Hoàng Minh Trị đã trao phần lớn quyền hành pháp và lập pháp cho Toàn quyền Đài Loan, một nhà lãnh đạo quân sự được bổ nhiệm.[11]
Thập niên 1920 chứng kiến sự trỗi dậy của các phong trào chính trị bản địa khi các nhà hoạt động Đài Loan đấu tranh cho quyền tự chủ địa phương và các quyền tự do chính trị lớn hơn. Từ năm 1921 đến năm 1934, các nhà hoạt động chính trị đã cố gắng kiến nghị chính phủ Đế quốc Nhật Bản thành lập hội đồng nghị viện Đài Loan, nhưng không thành công. Ngược lại, sự thành lập của Liên minh Tự trị Địa phương Đài Loan (臺灣地方自治聯盟 [zh]) vào năm 1930 cuối cùng đã góp phần vào cuộc bầu cử hội đồng thành phố và thị trấn hạn chế vào năm 1935.[12] Để nhượng bộ trước các phong trào chính trị này, chính quyền thực dân Nhật Bản đã thành lập các hội đồng để kết nối dư luận với nhà nước. Một nửa số thành viên hội đồng được bầu trực tiếp bởi cử tri trong khi nửa còn lại được chính phủ bổ nhiệm.[13] Ngày 22 tháng 11 năm 1935 đánh dấu ngày quan trọng khi các cơ quan khu vực tự trị của Đài Loan tổ chức bầu cử. Chỉ những nam giới trưởng thành có địa vị kinh tế xã hội cao hơn mới đủ điều kiện tham gia.[14]
Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản không phải là sự áp đặt hiến pháp cuối cùng của Đài Loan: Đài Loan sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng hiến pháp khác khi chính quyền Quốc dân đảng của Trung Quốc chạy sang Đài Loan trong Nội chiến Trung Quốc. Theo học giả luật pháp Đài Loan Diệp Tuấn Vinh, những bản hiến pháp này sẽ để lại một di sản lâu dài cho chủ nghĩa hiến pháp của Đài Loan: chúng truyền cảm hứng cho quá trình bản địa hóa hiến pháp với các khuôn khổ khác biệt của chúng, đóng vai trò là nền tảng cho bản sắc hiến pháp cuối cùng của Đài Loan.[15] Ngay cả ngày nay, tàn dư của chủ nghĩa thực dân Nhật Bản vẫn tồn tại trong hệ thống chính trị của Đài Loan. Cho đến năm 2005, Đài Loan vẫn duy trì hệ thống một phiếu bầu không thể chuyển nhượng, một minh chứng cho Hiến pháp Minh Trị. Có nguồn gốc từ Nhật Bản, hệ thống này trao cho cử tri một phiếu bầu trong các khu vực bầu cử nhiều thành viên. Không giống như hệ thống một phiếu bầu có thể chuyển nhượng, phiếu bầu không thể chuyển nhượng. Do đó, phiếu bầu dư thừa từ một ứng cử viên không thể được chuyển cho các ứng cử viên khác. Hệ thống bầu cử này tồn tại ở Nhật Bản cho đến năm 1994, nhưng vẫn tồn tại ở một hình thức hạn chế ở Đài Loan.[16]
Những nỗ lực ban đầu
Ước pháp Lâm thời Trung Hoa Dân quốc được ban hành vào tháng 3 năm 1912 và là luật cơ bản của Trung Hoa Dân Quốc cho đến năm 1928. Ước pháp quy định một hệ thống nghị viện kiểu phương Tây do một tổng thống nghi lễ đứng đầu. Tuy nhiên, hệ thống này nhanh chóng bị lật đổ khi Tống Giáo Nhân bị ám sát theo lệnh của Viên Thế Khải.[17] Tống Giáo Nhân là lãnh đạo Trung Quốc Quốc dân Đảng, người sau này trở thành thủ tướng sau chiến thắng của đảng trong cuộc bầu cử năm 1912. Viên Thế Khải thường xuyên bất chấp quốc hội và nắm quyền độc tài. Sau khi ông qua đời vào năm 1916, Trung Quốc rơi vào thời đại quân phiệt và Chính phủ Bắc Dương hoạt động theo Ước pháp vẫn nằm trong tay các quân phiệt.
Trung Quốc Quốc dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đã thiết lập quyền kiểm soát phần lớn Trung Quốc vào năm 1928. Chính phủ Quốc dân đảng ban hành Ước pháp thời kỳ huấn chính Trung Hoa Dân quốc vào ngày 5 tháng 5 năm 1931. Theo văn bản này, chính phủ hoạt động theo chế độ độc đảng với quyền lực tối cao do Đại hội Đại biểu Quốc dân Đảng nắm giữ và quyền lực thực tế do Ủy ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng nắm giữ. Theo mô hình Lenin, Hiến pháp này cho phép một hệ thống ủy ban đảng - nhà nước làm nền tảng cho chính phủ. Trung Quốc Quốc dân Đảng dự định Hiến pháp này sẽ có hiệu lực cho đến khi đất nước được bình định và người dân được "giáo dục" đầy đủ để tham gia vào chính quyền dân chủ.
Quá trình soạn thảo
Hiến pháp ban đầu được Trung Quốc Quốc dân Đảng soạn thảo nhằm thi hành hiến chính (tức là dân chủ đại nghị), thiết lập một nước cộng hòa tập trung theo nguyên tắc "ngũ quyền phân lập"" (五權分立). Hiến pháp này bắt nguồn từ cuối Chiến tranh Trung – Nhật. Trước thềm Nội chiến Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch buộc phải ban hành một bản hiến pháp dân chủ, chấm dứt chế độ độc đảng của Quốc dân Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần gồm Trung Quốc Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc và những đảng phái khác để soạn thảo hiến pháp mới. Trung Quốc Quốc dân Đảng bác bỏ ý tưởng này, nhưng đồng ý hiệp thương chính trị với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau những cuộc tranh luận gay gắt, nhiều yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc được đáp ứng, bao gồm cả việc bầu cử trực tiếp Lập pháp viện. Các dự thảo này được gọi chung là Dự thảo hiến pháp Chính hiệp (政協憲草). Giáo sư Ngô Kinh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp, là tác giả chính của văn bản này.[18] Ngày 25 tháng 12 năm 1946, Quốc hội Lập hiến thông qua dự thảo Hiến pháp tại Nam Kinh. Chính phủ Quốc dân ban hành Hiến pháp vào ngày 1 tháng 1 năm 1947. Hiến pháp chính thức có hiệu lực vào ngày 25 tháng 12 năm 1947. Hiến pháp được coi là giai đoạn thứ ba và cuối cùng của Quốc dân đảng tái thiết Trung Quốc. Mặc dù đã tham dự hội nghị và tham gia soạn thảo hiến pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc tẩy chay Quốc dân Đại hội và tuyên bố sau khi hiến pháp được ban hành rằng họ sẽ không công nhận Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc và tất cả các luật do chính phủ Quốc dân thông qua. Do chỉ nắm thiểu số ghế (khoảng 800 trong số 3045 ghế), Quốc dân Đại hội vẫn đạt đủ số đại biểu cần thiết để bầu Tưởng Giới Thạch và Lý Tông Nhân làm chủ tịch và phó chủ tịch. Chu Ân Lai bác bỏ tính chính danh của Quốc dân Đại hội vào năm 1947, khẳng định rằng Trung Quốc Quốc dân Đảng đã chọn trước các đại biểu từ 10 năm trước, nên Quốc dân Đại hội không thể là cơ quan đại diện hợp pháp của nhân dân Trung Quốc.
Nội dung
Chủ nghĩa Tam Dân
Điều 1 quy định Trung Hoa Dân quốc là một "nước cộng hòa dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", được thành lập dựa trên chủ nghĩa Tam Dân.[19] Điều 2 khẳng định chủ quyền quốc gia bắt nguồn từ nhân dân. Theo Điều 3, công dân Trung Hoa Dân Quốc là người có quốc tịch Trung Hoa Dân Quốc. Điều 5 đảm bảo sự bình đẳng giữa các sắc tộc của Trung Hoa Dân quốc.
Quyền dân sự và chính trị của công dân
Các quyền và nghĩa vụ dân sự cơ bản của công dân được quy định tại Chương 2 của Hiến pháp. Chương 12 quy định bốn quyền chính trị của công dân: bầu cử công chức, bãi nhiệm công chức, sáng kiến lập pháp và trưng cầu ý dân.
Ngũ quyền phân lập
Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc thiết lập chính quyền gồm năm nhánh hay viện (院), gồm: Hành pháp viện, Lập pháp viện, Tư pháp viện, Khảo thí viện, và Giám sát viện. Hệ thống chính trị ngũ quyền này dựa trên lý thuyết chính trị cách mạng của Tôn Trung Sơn. Năm 1906, Tôn Trung Sơn đề xuất hệ thống ngũ quyền, bổ sung Khảo thí viện và Giám sát viện để cải thiện hiệu quả của chính quyền và phòng chống tham nhũng. Theo hệ thống này, Khảo thí viện quản lý việc lựa chọn cán bộ, công chức, trong khi Giám sát viện giám sát hoạt động của chính phủ. Chương 5–9 của Hiến pháp quy định thẩm quyền của năm Viện. Nếu xảy ra tranh chấp hiến pháp giữa Viện thì tổng thống có quyền can thiệp bằng các phiên hòa giải. Tuy nhiên, các Viện có quyền từ chối tham gia hòa giải của tổng thống.[20]
Các dân tộc ở vùng biên giới
Tư tưởng của Trung Quốc Quốc dân Đảng trong Cách mạng Tân Hợi là tạo ra sự thống nhất giữa năm dân tộc truyền thống ở Trung Quốc (Hán, Mãn, Mông Cổ, Hồi và Tạng) để cùng nhau đứng lên chống lại các đế quốc châu Âu và Nhật Bản như một nước hùng mạnh. Hiến pháp đảm bảo bình đẳng giữa các dân tộc và quyền chính trị của các nhóm dân tộc ở vùng biên giới. Tuy nhiên, vì một số tỉnh tương tự như Trung Quốc đã được thành lập ở Mãn Châu và Tân Cương, nên chỉ có việc bảo vệ quyền tự trị địa phương ở Khu vực Nội Mông[21] và Địa phương Tây Tạng được quy định rõ ràng.
Tổ chức chính quyền
Quốc dân Đại hội
Dựa trên học thuyết chính trị của Tôn Trung Sơn, Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc phân biệt chính quyền và trị quyền, tạo ra một chiều hướng khác cho sự kiểm tra và cân bằng. Hiến pháp thiết lập Quốc dân Đại hội làm cơ quan thực hiện chính quyền thay mặt nhân dân (Điều 25).[22] Quốc dân Đại hội có chức năng giám sát các cơ quan nhà nước thực hiện trị quyền: tổng thống và Ngũ viện. Đại biểu Quốc dân Đại hội được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ sáu năm (Điều 28). Quốc dân Đại hội có quyền sửa đổi Hiến pháp, thực hiện các sáng kiến và trưng cầu ý dân thay mặt công dân và bầu, bãi nhiệm tổng thống, phó tổng thống. Cùng với Lập pháp viện và Giám sát viện, Quốc dân Đại hội có các chức năng của quốc hội, gây ra sự nhầm lẫn xung quanh việc thể chế nào đóng vai trò là quốc hội. Lập pháp viện, Quốc dân Đại hội và Giám sát viện đều là các cơ quan do công dân bầu ra; tương tự như vậy, Quốc dân Đại hội và Giám sát viện thực thi các quyền hạn hiến định tương tự như các quyền hạn được trao cho cơ quan lập pháp của các chính phủ lập hiến phương Tây.[23] Năm 1957, Tư pháp viện phán quyết rằng Quốc dân Đại hội, Lập pháp viện và Giám sát viện đều "tương đương với quốc hội của các nước dân chủ", tạo ra một hệ thống nghị viện tam viện.[24] Những sửa đổi hiến pháp vào thập niên 1990 triệt tiêu quyền hạn và chức năng của Quốc dân Đại hội. Sau khi chuyển giao quyền hạn cho Lập pháp viện, Quốc dân Đại hội tự giải thể vào năm 2005.[25]
Tổng thống
Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc. Trước năm 1996, tổng thống và phó tổng thống do Quốc dân Đại hội bầu ra. Sau những sửa đổi hiến pháp vào thập niên 1990, tổng thống được bầu trực tiếp. Nhiệm kỳ của tổng thống và phó tổng thống là bốn năm, tổng thống không được giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ. Nguyên văn Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc quy định Tổng thống là một nguyên thủ quốc gia mang tính nghi lễ: Tổng thống có quyền quyết định đại xá và ân xá, trao tặng danh hiệu và huân chương, ban hành sắc lệnh khẩn cấp, và giải quyết tranh chấp giữa các Viện.[26] Những quyền hạn khác bao gồm tuyên chiến và lập hòa (Điều 38), ban bố thiết quân luật với sự chấp thuận của Lập pháp viện, và bổ nhiệm, cách chức các quan chức quân sự. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa Nội chiến Trung Quốc và những xung lực độc đoán mạnh mẽ của Tưởng Giới Thạch dẫn đến sự mở rộng đáng kể quyền lực của tổng thống, chuyển Trung Hoa Dân quốc sang bán tổng thống chế. Năm 1948, Quốc dân Đại hội thông qua Điều khoản lâm thời trong thời kỳ động viên dẹp loạn, trao cho Tổng thống các quyền hạn khẩn cấp.[27] Theo Điều khoản Tạm thời, Tổng thống không còn bắt buộc phải có sự chấp thuận của Lập pháp viện khi ban bố thiết quân luật.[28] Ngoài ra, giới hạn hai nhiệm kỳ của tổng thống và phó Tổng thống bị đình chỉ. Tưởng Giới Thạch giữ chức vụ tổng thống năm nhiệm kỳ (27 năm) trước khi qua đời vào năm 1975. Điều khoản lâm thời tiếp tục được thi hành tại Đài Loan cho đến khi bị bãi bỏ vào năm 1991.
Hành chính viện
Hành chính viện là "cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước."[29] Viện trưởng Hành chính viện là người đứng đầu chính phủ, do tổng thống bổ nhiệm. Trong trường hợp Viện trưởng Hành chính viện bị Lập pháp viện bỏ phiếu bất tín nhiệm thì tổng thống phải miễn nhiệm viện trưởng Hành chính viện hoặc giải tán Lập pháp viện và tổ chức bầu cử mới. Mặc dù Viện trưởng Hành chính viện chịu trách nhiệm trước Lập pháp viện, nhưng việc tăng cường quyền hạn của tổng thống đã làm thay đổi cơ chế kiểm soát và cân bằng giữa các nhánh của chính phủ; về mặt chức năng, Viện trưởng Hành chính viện đã trở thành cấp dưới của Tổng thống.
Hội đồng Hành chính viện, được gọi là Nội các, gồm Viện trưởng Hành chính viện, một Phó Viện trưởng Hành chính viện, một số Bộ trưởng và Chủ nhiệm các Ủy ban, và một số Bộ trưởng không nhiệm sở. Thành viên Nội các do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Viện trưởng Hành chính viện. Nội các là cơ quan hoạch định chính sách chủ chốt của Hành chính viện, triệu tập các phiên họp hàng tuần để giải quyết các vấn đề hành chính. Điều 58 cho phép Nội các xem xét các dự luật theo luật định hoặc ngân sách liên quan đến thiết quân luật hoặc đại xá, tuyên chiến, ký kết hòa bình hoặc hiệp ước, và các vấn đề khác; sau đó Nội các trình các dự luật lên Lập pháp viện. Nội các quyết định thông qua bỏ phiếu đa số, có thể bị Viện trưởng Hành chính viện phủ quyết. Ngoài ra, Nội các chủ trì "các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của các Bộ và Ủy ban khác nhau".
Lập pháp viện
Lập pháp viện là "cơ quan lập pháp cao nhất của Nhà nước".[30] Lập pháp viện gồm 113 ủy viên lập pháp, được bầu trực tiếp theo hệ thống đầu phiếu song song với nhiệm kỳ 4 năm. Lập pháp viện thực hiện quyền lập pháp, luật của Lập pháp viện được trình lên Tổng thống công bố. Lập pháp viện do viện trưởng và các phó viện trưởng lãnh đạo, do Lập pháp viện bầu trong số ủy viên lập pháp. Viện trưởng Lập pháp viện chủ trì các phiên họp của Lập pháp viện.
Hành chính viện chịu trách nhiệm trước Lập pháp viện. Lập pháp viện có quyền làm luật và phê duyệt dự toán ngân sách nhà nước . Lập pháp viện có quyền yêu cầu Hành chính viện sửa đổi chính sách quan trọng của Hành chính viện. Sau đó, Hành chính viện phải phản hồi yêu cầu của Lập pháp viện và có thể yêu cầu sửa đổi dự luật. Hành chính viện cũng có thể yêu cầu Lập pháp viện xem xét lại nghị quyết của mình sau khi được Tổng thống phê chuẩn. Nếu hai phần ba số thành viên Lập pháp viện ủng hộ nghị quyết ban đầu sau khi xem xét lại, Viện trưởng Hành chính viện phải chấp hành nghị quyết hoặc từ chức.
Chính quyền địa phương
Chương XI Hiến pháp quy định Trung Hoa Dân quốc bao gồm hai cấp hành chính địa phương: tỉnh và huyện.
Tỉnh là đơn vị hành chính cấp một, gồm 35 tỉnh, 1 đặc khu hành chính, 2 khu vực, 18 thành phố trực thuộc trung ương, 14 minh và 4 kỳ. Theo Điều 113, mỗi chính quyền cấp tỉnh sẽ có một hội đồng và tỉnh trưởng, với các thành viên của hội đồng tỉnh được bầu trực tiếp bởi nhân dân trong tỉnh. Điều 118 mô tả chế độ tự quản của các thành phố trực thuộc Hành chính viện. Điều 119 và 120 bảo lưu quyền tự trị của Nội Mông (bao gồm các minh và kỳ) và Địa phương Tây Tạng do Kashag lãnh đạo.[31][32]
Huyện là đơn vị hành chính cấp hai trực thuộc tỉnh, gồm 2.035 huyện, 56 thành phố trực thuộc tỉnh, 34 sở và 7 cơ quan hành chính, với các thành phố trực thuộc trung ương và minh bao gồm các quận và 127 kỳ. Điều 124 và 126 quy định rằng chính quyền cấp huyện cần có hội đồng huyện và thẩm phán, mỗi thành viên và thẩm phán sẽ do nhân dân trong huyện bầu ra. Điều 127 quy định thẩm phán là người đứng đầu chính quyền tự quản của huyện địa phương và sẽ quản lý các vấn đề được chính quyền trung ương hoặc tỉnh ủy quyền cho huyện.
Tuy nhiên, mặc dù mất đi phần lớn lãnh thổ, ngay cả sau khi dân chủ hóa, các tỉnh đã bắt đầu được tinh giản vào năm 1998 với các huyện và thành phố trực thuộc tỉnh trực thuộc Hành chính viện, và chính quyền Thái Anh Văn thực tế đình chỉ tất cả các chính quyền tỉnh vào năm 2018.
Đình chỉ Hiến pháp và thiết quân luật
Việc thực thi hiến pháp này đưa Trung Quốc, với dân số 450 triệu người vào thời điểm đó, trở thành "nền dân chủ giấy" đông dân nhất. Mặc dù Hiến pháp được ban hành cho toàn bộ Trung Quốc, nhưng nó không được thực thi rộng rãi và hiệu quả vì Trung Quốc Quốc dân Đảng đã hoàn toàn sa lầy vào cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc vào thời điểm ban hành.
Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Thống đốc Trần Nghi tuyên bố rằng Hiến pháp mới của Trung Hoa Dân Quốc sẽ không áp dụng cho Đài Loan sau khi nó có hiệu lực tại Trung Quốc đại lục vào ngày 25 tháng 12 năm 1947, vì Đài Loan vẫn đang bị quân đội chiếm đóng và người Đài Loan còn ngây thơ về mặt chính trị và không có khả năng tự quản.[33] Cuối năm đó, Trần Nghị bị cách chức và Chính quyền Tỉnh Đài Loan được thành lập.
Ngày 18 tháng 4 năm 1948, Quốc dân Đại hội thông qua Điều khoản lâm thời trong thời kỳ động viên dẹp loạn. Điều khoản lâm thời có hiệu lực vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, mười ngày trước lễ nhậm chức tổng thống của Tưởng Giới Thạch. Những điều khoản này tăng cường đáng kể quyền lực của tổng thống và bãi bỏ giới hạn hai nhiệm kỳ của tổng thống và phó tổng thống. Từ ngày 7 tháng 12 năm 1949, Trung Hoa Dân quốc chỉ kiểm soát "Vùng Tự do của Trung Hoa Dân Quốc", về cơ bản gồm Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Quần đảo Mã Tổ, Quần đảo Đông Sa và đảo Ba Bình.
Từ tháng 3 năm 1947 đến năm 1987, Đài Loan trong tình trạng thiết quân luật. Mặc dù hiến pháp quy định về các cuộc bầu cử dân chủ thường xuyên, nhưng các cuộc bầu cử này không được tổ chức tại Đài Loan cho đến thập niên 1990. Năm 1954, Tư pháp viện phán quyết rằng các đại biểu được bầu vào Quốc dân Đại hội và Lập pháp viện năm 1947 sẽ tiếp tục giữ chức cho đến khi các cuộc bầu cử mới có thể được tổ chức tại Trung Quốc đại lục, nơi đã nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1949. Phán quyết tư pháp này cho phép Quốc dân đảng cai trị mà không bị thách thức tại Đài Loan cho đến thập niên 1990. Vào thập niên 1970, các cuộc bầu cử bổ sung bắt đầu được tổ chức cho Lập pháp viện. Mặc dù các cuộc bầu cử này chỉ dành cho một số lượng ghế hạn chế, nhưng chúng đã cho phép chuyển đổi sang một hệ thống chính trị cởi mở hơn. Năm 1991, các thành viên này đã bị ra lệnh từ chức theo phán quyết tiếp theo của Tư pháp viện.
Dân chủ hóa
Vào cuối thập niên 1980, Hiến pháp phải đối mặt với quá trình dân chủ hóa ngày càng gia tăng ở Đài Loan cùng với số lượng đại biểu được bầu vào năm 1947 đã giảm dần. Trước những áp lực này, vào ngày 22 tháng 4 năm 1991, Quốc hội khóa I quyết định tự chấm dứt nhiệm kỳ, bãi bỏ Điều khoản lâm thời và thông qua những sửa đổi quan trọng (được gọi là "Sửa đổi lần thứ nhất") cho phép bầu cử tự do.
Ngày 27 tháng 5 năm 1992, Sửa đổi hiến pháp lần 2 được thông qua, đáng chú ý nhất là việc quy định bầu cử trực tiếp tổng thống, Thống đốc Tỉnh Đài Loan và thị trưởng thành phố. Mười sửa đổi mới thay thế 18 sửa đổi của Sửa đổi lần 1 và lần 2 được thông qua vào ngày 28 tháng 7 năm 1994. Các sửa đổi được thông qua vào tháng 7 năm 1997 tinh giản Chính quyền Tỉnh Đài Loan và trao cho Lập pháp viện quyền luận tội. Hiến pháp sau đó được sửa đổi vào năm 1999 và 2000, sau khi bản sửa đổi trước đó bị Tư pháp viện tuyên bố hủy bỏcùng năm. Một lần sửa đổi hiến pháp khác diễn ra vào năm 2005, giải tán Quốc dân Đại hội, cải cách Lập pháp viện và quy định việc phê chuẩn các sửa đổi hiến pháp trong tương lai thông qua trưng cầu ý dân.
Việc thông qua một sửa đổi hiến pháp của Đài Loan hiện nay đòi hỏi sự đồng thuận chính trị rộng rãi bất thường, bao gồm sự chấp thuận của ba phần tư số đại biểu của Lập pháp viện. Số đại biểu này yêu cầu ít nhất ba phần tư tổng số đại biểu của Cơ quan Lập pháp. Sau khi được Cơ quan Lập pháp thông qua, các sửa đổi cần được phê chuẩn bởi ít nhất năm mươi phần trăm tất cả cử tri đủ điều kiện của Đài Loan, bất kể tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu.
Vì Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc trên danh nghĩa, là hiến pháp của toàn Trung Quốc, nên các sửa đổi hiến pháp tránh đề cập cụ thể đến khu vực Đài Loan mà sử dụng thuật ngữ trung lập về mặt địa lý "Vùng Tự do của Trung Hoa Dân Quốc" để chỉ tất cả các khu vực do chính phủ Trung Hoa Dân quốc kiểm soát. Tất cả các sửa đổi hiến pháp sau năm 1991 đều được duy trì như một phần riêng biệt, được hợp nhất thành một văn bản duy nhất gồm 12 điều.
Các vấn đề
Tính chính danh
Phong trào độc lập Đài Loan đã đưa ra nhiều chỉ trích nhắm vào hiến pháp. Cho đến thập niên 1990, khi Đảng Dân chủ Tiến bộ và Trung Quốc Quốc dân Đảng sửa đổi hiến pháp, văn kiện này vẫn bị những người ủng hộ độc lập coi là bất hợp pháp vì nó không được soạn thảo tại Đài Loan; hơn nữa, họ coi Đài Loan là lãnh thổ có chủ quyền của Nhật Bản cho đến khi được nhượng lại trong Hiệp ước San Francisco có hiệu lực vào ngày 28 tháng 4 năm 1952. Những người ủng hộ độc lập đã lập luận rằng Hiến pháp chưa bao giờ được áp dụng hợp pháp đối với Đài Loan vì Đài Loan không được chính thức sáp nhập vào lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc thông qua Quốc hội theo các thông số kỹ thuật của Điều 4. Mặc dù hiến pháp ban hành năm 1946 không xác định lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc, trong khi dự thảo hiến pháp năm 1925 liệt kê riêng các tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc và Đài Loan không nằm trong số đó, vì Đài Loan là một phần của Nhật Bản theo Hiệp ước Shimonoseki năm 1895. Hiến pháp cũng quy định trong Điều I.4 rằng "lãnh thổ của Trung Hoa Dân Quốc là lãnh thổ ban đầu do nước này quản lý, trừ khi được Quốc hội cho phép, không thể thay đổi".
Năm 1946, Tôn Khoa, viện trưởng Hành chính viện, đã báo cáo với Quốc hội rằng "có hai loại thay đổi lãnh thổ: 1. từ bỏ lãnh thổ và 2. sáp nhập lãnh thổ mới. Ví dụ đầu tiên là việc Ngoại Mông độc lập, và ví dụ thứ hai là việc thu hồi Đài Loan. Cả hai đều là ví dụ về thay đổi lãnh thổ".[34] Kể từ năm 1946, chưa từng có bất kỳ sự sáp nhập chính thức nào của Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc đối với các đảo Đài Loan theo đúng hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, mặc dù Điều 9 của Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc quy định: "Việc sửa đổi chức năng, hoạt động và tổ chức của Chính quyền Tỉnh Đài Loan có thể được quy định bằng luật." Trung Hoa Dân Quốc lập luận rằng chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc đối với Đài Loan được thiết lập theo Văn kiện Đầu hàng của Nhật Bản, văn kiện này đã thực hiện Tuyên bố Potsdam và Tuyên bố Cairo. Các nước Đồng minh không đồng ý cũng không phản đối lập luận này. Ngoài ra, Đài Loan lập luận rằng Điều 4 của Hiệp ước Đài Bắc năm 1952 vô hiệu hóa Hiệp ước Shimonoseki và việc chuyển giao chủ quyền ban đầu của Đài Loan từ Trung Quốc sang Nhật Bản. Vì Đài Loan đã bị kiểm soát vào năm 1945 trước khi ban hành hiến pháp năm 1947, chính phủ Đài Loan cho rằng một nghị quyết của Quốc hội là không cần thiết.
Mặc dù cả lý lẽ mang tính biểu tượng lẫn pháp lý đã được sử dụng để làm mất uy tín của việc áp dụng Hiến pháp tại Đài Loan, văn kiện này đã trở nên chính danh hơn trong số những người ủng hộ độc lập vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 nhờ quá trình dân chủ hóa, và hiện được tất cả các đảng phái lớn chấp nhận là luật cơ bản của Trung Hoa Dân Quốc, và được coi là Hiến pháp đại diện cho chủ quyền của Đài Loan. Tuy nhiên, có những đề xuất, đặc biệt là từ những người ủng hộ độc lập của Đài Loan và những người ủng hộ phong trào địa phương hóa Đài Loan, nhằm thay thế Hiến pháp hiện hành bằng một văn kiện do các khu vực bầu cử Đài Loan tại Đài Loan soạn thảo.
Trưng cầu ý dân và sửa đổi hiến pháp
Một tranh cãi gần đây liên quan đến hiến pháp là quyền trưng cầu ý dân được đề cập trong Hiến pháp. Hiến pháp quy định "Việc thực hiện quyền chủ động và trưng cầu ý dân phải do luật định",[35] nhưng luật quy định các hoạt động này đã bị liên minh toàn đảng chặn lại phần lớn do nghi ngờ rằng những người đề xuất luật trưng cầu ý dân sẽ được sử dụng để lật đổ Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc và tạo ra một phương tiện để tuyên bố Đài Loan độc lập.[cần dẫn nguồn] Luật trưng cầu ý dân được thông qua vào ngày 27 tháng 11 năm 2003[36] và được Tổng thống Trần Thủy Biển công bố vào ngày 31 tháng 12 năm 2003,[37] nhưng luật này đặt ra các tiêu chuẩn cao cho các cuộc trưng cầu ý dân, chẳng hạn như yêu cầu rằng chúng chỉ có thể được triệu tập bởi tổng thống trong trường hợp sắp xảy ra tấn công.[37]
Năm 2003, Tổng thống Trần Thủy Biển đề xuất trưng cầu ý dân vào năm 2006 để làm hiến pháp mới vào ngày 20 tháng 5 năm 2008, trùng với lễ nhậm chức của tổng thống nhiệm kỳ thứ 12 của Trung Hoa Dân Quốc. Những người ủng hộ động thái như vậy, cụ thể là Liên minh Toàn Lục, lập luận rằng Hiến pháp hiện hành tán thành một hệ tư tưởng cụ thể (tức là Tam dân), chỉ phù hợp với các quốc gia Cộng sản; ngoài ra, họ lập luận rằng cần có một chính phủ "hiệu quả" hơn để đối phó với thực tế đang thay đổi.[cần dẫn nguồn] Một số người ủng hộ việc thay thế cấu trúc năm nhánh do Tam dân chủ vạch ra bằng một chính phủ ba nhánh. Những người khác trích dẫn sự bế tắc hiện tại giữa nhánh hành pháp và lập pháp và ủng hộ việc thay thế chế độ tổng thống bằng chế độ nghị viện. Hơn nữa, Hiến pháp hiện hành đã nêu rõ trước khi thực hiện các sửa đổi đối với Đài Loan, "Để đáp ứng các yêu cầu của quốc gia trước khi thống nhất...", hoàn toàn trái ngược với lập trường của phe Liên minh Toàn lục cây rằng Đài Loan phải tách khỏi Trung Quốc. Đáp lại, Liên minh phiến lam đã từ bỏ sự phản đối đối với các cuộc trưng cầu ý dân phi hiến pháp và đề nghị xem xét thông qua việc tiến hành sửa đổi hiến pháp.[cần dẫn nguồn]
Đề xuất thực hiện một hiến pháp hoàn toàn mới đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và sự lo ngại lớn từ Hoa Kỳ, cả hai đều lo ngại đề xuất viết lại hiến pháp là một nỗ lực trá hình nhằm giành độc lập cho Đài Loan, vì nó sẽ cắt đứt mối liên hệ lịch sử với Trung Quốc đại lục, và nhằm phá vỡ cam kết Bốn Không và Một Không có ban đầu của Trần Thủy Biển.[cần dẫn nguồn] Vào tháng 12 năm 2003, Hoa Kỳ tuyên bố phản đối bất kỳ cuộc trưng cầu ý dân nào có xu hướng đưa Đài Loan tiến tới "độc lập" chính thức, một tuyên bố được nhiều người coi là nhắm vào các đề xuất hiến pháp của Trần Thủy Biển.[cần dẫn nguồn]
Đáp lại, Liên minh Phiến-Lam đã cố gắng lập luận rằng một hiến pháp mới và các cuộc trưng cầu ý dân về hiến pháp là không cần thiết và những điểm yếu kém trong Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc có thể được chấp thuận thông qua quy trình lập pháp thông thường.[cần dẫn nguồn]
Trong diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng 5 năm 2004, Trần Thủy Biển đã kêu gọi thành lập một "Ủy ban Cải cách Hiến pháp" gồm "các thành viên của đảng cầm quyền và các đảng đối lập, cũng như các chuyên gia pháp lý, học giả và đại diện từ mọi lĩnh vực và mọi tầng lớp xã hội" để quyết định những cải cách phù hợp. Ông hứa rằng hiến pháp mới sẽ không thay đổi vấn đề chủ quyền và lãnh thổ. Đề xuất này đã không đi đến đâu do thiếu sự hợp tác từ phe đối lập Phiến-Lam.[cần dẫn nguồn]
Chính phủ Quốc dân đảng nắm quyền từ năm 2008 đến năm 2016 đã dừng nỗ lực soạn thảo hiến pháp mới tại Đài Loan. Cựu Tổng thống Mã Anh Cửu tuyên bố rằng sửa đổi hiến pháp không phải là ưu tiên của chính phủ ông.[38]
Sau đó, Đài Loan một lần nữa được Đảng Dân chủ Tiến bộ cầm quyền, nhưng họ hứa sẽ duy trì nguyên trạng của Đài Loan,[39] và các sửa đổi hiến pháp do họ đề xuất đã không được thông qua.[40]
Xem thêm
Tham khảo
- ^ J.Y. Interpretation No.76
- ^ Historical Background of Control Yuan
- ^ "Valuable Archival Records — Academia Historica". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019.
- ^ Chang, Yun-ping (ngày 2 tháng 7 năm 2004). "Lee launches constitution campaign". Taipei Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008.
- ^ Ko, Shu-ling (ngày 19 tháng 3 năm 2007). "Group pushes new constitution". Taipei Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008.
- ^ Wu, Ming-chi (ngày 28 tháng 10 năm 2003). "US, EU apt constitutional models". Taipei Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008.
- ^ Chang, Yun-ping (ngày 21 tháng 11 năm 2003). "DPP, KMT agree to debate between Chen and Lien". Taipei Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008.
- ^ "Introduction(3)". Office of the President, Republic of China (Taiwan). Seventh revision. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
- ^ Takekoshi, Yosaburō (2007). Japanese rule in Formosa. [Kessinger Publishing]. tr. 32–37. ISBN 978-0-548-23043-5. OCLC 753479028.
- ^ Takekoshi, Yosaburō (2007). Japanese rule in Formosa. [Kessinger Publishing]. ISBN 978-0-548-23043-5. OCLC 753479028.
- ^ Hwang, Jau-Yuan; Chang, Wen-Chen; Liao, Fort Fu-Te (2003). "Development of Constitutional Law and Human Rights in Taiwan Facing the New Century". Institute of Developing Economies. 24: 21–80.
- ^ "Taiwan in Time: The right to vote under two regimes - Taipei Times". www.taipeitimes.com. ngày 10 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ Wang, Yeh-Lih (1996). "The Political Consequences of the Electoral System: Single Nontransferable Voting in Taiwan" (PDF). 政治學系. 32: 85–104. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Private museum celebrating activist Lin Hsien-tang opens in Taichung - Taipei Times". www.taipeitimes.com. ngày 26 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ Junrong, Yeh (2016). The Constitution of Taiwan : a contextual analysis. Hart Publishing. tr. 24–25. ISBN 978-1-84946-512-0. OCLC 931861393. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "The Single Non-Transferable Vote (SNTV) —". aceproject.org. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ Xiang, Ah. "Song Jiaoren's Assassination & Second Revolution" (PDF). Republican China. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2016.
- ^ {{{first}}} {{{last}}}, Dr. Wu's Constitution, 132 Harvard Law Review 2300 (2019)
- ^ Dirlik, Arif (2005). Marxism in the Chinese revolution. Lanham, MD: Rowman & Littlefield. tr. 26. ISBN 9780742530690.
- ^ "Constitution of the Republic of China (Taiwan) - Chapter - Laws & Regulations Database of The Republic of China" Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine. law.moj.gov.tw. Retrieved 2021-10-17.
- ^ "有關外蒙古是否為中華民國領土問題說明新聞參考資料" [Reference materials about the territory of the Republic of China excluding Outer Mongolia] (PDF) (bằng tiếng Trung). Mainland Affairs Council. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.
- ^ "Constitution of the Republic of China (Taiwan) - Chapter - Laws & Regulations Database of The Republic of China" Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine. law.moj.gov.tw. Retrieved 2021-10-17.
- ^ Yeh, Junrong (2016). The Constitution of Taiwan : a contextual analysis. Hart Publishing. ISBN 978-1-84946-512-0. OCLC 931861393. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Justices of the Constitutional Court, Judicial Yuan-Interpretations" Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine. www2.judicial.gov.tw. Retrieved 2021-10-17.
- ^ "Constitutional changes approved in Taiwan". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 6 năm 2005. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Constitution of the Republic of China (Taiwan) - Chapter - Laws & Regulations Database of The Republic of China Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine". law.moj.gov.tw. Retrieved 2021-10-17.
- ^ "Introduction". english.president.gov.tw (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ Peng, Ming-min (tháng 9 năm 1971). "Political Offences in Taiwan: Laws and Problems". The China Quarterly. 47: 471–493. doi:10.1017/s0305741000006196. ISSN 0305-7410. S2CID 154016264. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Constitution of the Republic of China (Taiwan) - Chapter - Laws & Regulations Database of The Republic of China". law.moj.gov.tw. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Constitution of the Republic of China (Taiwan) - Chapter - Laws & Regulations Database of The Republic of China" Lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại Wayback Machine. law.moj.gov.tw. Retrieved 2021-10-18.
- ^ "國民大會代表選舉". 中央選舉委員會 (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2023.
- ^ "有關外蒙古是否為中華民國領土問題說明新聞參考資料" [Reference materials about the territory of the Republic of China excluding Outer Mongolia] (PDF) (bằng tiếng Trung). Mainland Affairs Council. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012.
- ^ Kerr, George H. (1965) Formosa Betrayed, Boston Houghton Mifflin: p240
- ^ 瀋建德. "台灣獨立不是從中華民國分離 台灣既是被中華民國非法佔領 獨立當然不是從中國分離" (bằng tiếng Trung). 政治內幕. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
領土變更不外2種;(1)領土放棄。(2)領土接收。前者如外蒙古獨立,後者如台灣收回,均係變更領土之實例」。
- ^ . Chapter XII: Election, Recall, Initiative and Referendum, Article 136 – qua Wikisource.
- ^ "Taiwan passes watered-down referendum bill". People's Daily. ngày 28 tháng 11 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008.
- ^ a b "Taiwan referendum law signed". BBC News. ngày 31 tháng 12 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2008.
- ^ Mo, Yan-chih (ngày 1 tháng 5 năm 2006). "Ma says constitutional reform not the answer". Taipei Times. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2013.
- ^ Michał, Bogusz (ngày 16 tháng 1 năm 2024). "Maintaining the status quo: the elections in Taiwan". Centre for Eastern Studies (OSW).
- ^ Yen-tu Su. "The Amendability of Taiwan's Constitution is Put to the Test". Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2022.
Liên kết ngoài
- "Main Text of the Constitution of the Republic of China (Taiwan)". Office of the President, Republic of China (Taiwan). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
- Hsueh, Hua-yuen (ngày 24 tháng 12 năm 2001). "Constitution Day and Constitutional Government" 行憲紀念日與憲政. 吳三連台灣史料基金會首頁 (bằng tiếng Trung và Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)