Luis Advíncula
Luis Jan Piers Advíncula Castrillón (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈlwis aðˈβiŋkula]; sinh ngày 2 tháng 3 năm 1990) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Perú thi đấu cho câu lạc bộ Primera División Perú Alianza Lima và đội tuyển quốc gia Perú. Là một hậu vệ biên phải nhanh nhẹn và có xu hướng tấn công, anh cũng có thể thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh phải.
|
Advíncula với Boca Juniors năm 2023 | |||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Luis Jan Piers Advíncula Castrillón[1] | ||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 2 tháng 3, 1990 [2] | ||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Chincha, Perú | ||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,80 m[3] | ||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Hậu vệ biên, tiền vệ cánh | ||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Alianza Lima | ||||||||||||||||||||||
| Số áo | 17 | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||
| 2007–2008 | Esther Grande Bentin | ||||||||||||||||||||||
| 2008 | Juan Aurich | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2009–2010 | Juan Aurich | 31 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2010–2012 | Sporting Cristal | 91 | (8) | ||||||||||||||||||||
| 2012–2013 | Tavriya Simferopol | 0 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2012 | → Sporting Cristal (mượn) | 9 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2013–2015 | TSG Hoffenheim | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2013 | → Ponte Preta (mượn) | 4 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2014 | → Sporting Cristal (mượn) | 10 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2014−2015 | → Vitória Setúbal (mượn) | 26 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2015–2016 | Bursaspor | 12 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2016 | → Newell's Old Boys (mượn) | 29 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2017–2019 | Tigres UANL | 9 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2017–2018 | → Lobos BUAP (mượn) | 19 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2018–2019 | → Rayo Vallecano (mượn) | 28 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2019–2021 | Rayo Vallecano | 72 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2021–2025 | Boca Juniors | 123 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2026– | Alianza Lima | 0 | (0) | ||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2009 | U-20 Perú | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2010– | Perú | 130 | (2) | ||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 17:16, 6 tháng 12 năm 2025 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 22:45, 9 tháng 9 năm 2025 (UTC) | |||||||||||||||||||||||
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Advíncula bắt đầu sự nghiệp ở các đội trẻ của Juan Aurich và ra mắt chuyên nghiệp cho câu lạc bộ vào năm 2009. Anh chuyển đến Sporting Cristal vào tháng 1 năm 2010, nơi anh có 91 lần ra sân trong giai đoạn 2010-2012.
SC Tavriya
Ngày 17 tháng 4 năm 2012, Houston Dynamo của Hoa Kỳ gửi đề nghị chiêu mộ Advíncula, nhưng thương vụ đổ vỡ vào phút cuối.[4][5] Ngày 19 tháng 7 năm 2012, việc anh chuyển đến SC Tavriya Simferopol của Ukraina được xác nhận, nhưng anh trở lại Sporting Cristal chỉ sau một tháng vì câu lạc bộ không đáp ứng hạn ngạch dành cho Advíncula.
TSG 1899 Hoffenheim
Ngày 5 tháng 1 năm 2013, Advíncula ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ Đức TSG 1899 Hoffenheim thuộc Bundesliga.
Cho mượn tại Ponte Preta
Advíncula gia nhập câu lạc bộ Brasil Ponte Preta theo dạng cho mượn sáu tháng vào ngày 10 tháng 7 năm 2013, sau khi được huấn luyện viên Paulo César Carpegiani giới thiệu cho câu lạc bộ.[6] Dù được kỳ vọng trở thành hậu vệ phải đá chính sau sự ra đi của Cicinho, Advíncula chỉ có bốn lần ra sân cho câu lạc bộ, vì anh thường là lựa chọn thứ ba bên cánh phải hàng phòng ngự, sau Artur và Régis. Anh không còn được huấn luyện viên Jorginho trọng dụng, người từng gọi Advíncula là "yếu về kỹ thuật".[7] Anh bị câu lạc bộ thanh lý hợp đồng vào ngày 29 tháng 10.[8]
Cho mượn tại Vitória de Setúbal
Ngày 19 tháng 8 năm 2014, anh gia nhập Vitória de Setúbal theo dạng cho mượn một năm.[9]
Rayo Vallecano
Ngày 29 tháng 7 năm 2018, Advíncula trở lại châu Âu, lần này gia nhập Rayo Vallecano của La Liga theo dạng cho mượn một năm.[10] Một năm sau, có thông tin cho biết câu lạc bộ đã quyết định kích hoạt điều khoản mua đứt cầu thủ này.[11][12]
Sau khi thi đấu ở vòng play-off thăng hạng, vào ngày 20 tháng 6 năm 2021, Rayo giành quyền lên chơi ở hạng đấu cao nhất La Liga, với Advíncula là cầu thủ dự bị.[13]
Boca Juniors
Vào tháng 7 năm 2021, Advíncula chuyển đến Boca Juniors sau khi câu lạc bộ đạt thỏa thuận với Rayo.[14] Anh ghi bàn thắng duy nhất của Boca trong Chung kết Copa Libertadores 2023, trận đấu mà họ cuối cùng thua 2–1 sau hiệp phụ. Trong bốn năm tại câu lạc bộ, anh giành chức vô địch Argentina năm 2022, Cúp Argentina năm 2020 và Cúp Liên đoàn Chuyên nghiệp năm 2022.
Alianza Lima
Vào tháng 1 năm 2026, Advíncula trở lại Perú và ký hợp đồng với Alianza Lima.[15]
Sự nghiệp quốc tế
Advíncula từng khoác áo đội tuyển U-20 Perú, nơi anh thi đấu tại Giải vô địch bóng đá U-20 Nam Mỹ năm 2009.[16]
Anh ra mắt đội tuyển quốc gia vào ngày 4 tháng 9 năm 2010, trong trận giao hữu gặp Canada. Trận thứ hai của anh là một trận giao hữu khác gặp Jamaica vào ngày 7 tháng 9 cùng năm. Anh cũng được huấn luyện viên Sergio Markarián triệu tập để tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2011 tại Argentina.
Advíncula cũng có mặt trong đội hình xuất phát ở trận lượt về play-off liên lục địa gặp New Zealand vào ngày 15 tháng 11 năm 2017. Anh đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng 2–0 trước New Zealand, giúp Perú giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, kỳ World Cup đầu tiên của Perú kể từ năm 1982.
Vào tháng 5 năm 2018, anh có tên trong đội hình 23 cầu thủ cuối cùng của Perú tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[17] Anh thi đấu cả ba trận vòng bảng khi đội tuyển bị loại khỏi giải.
Ngày 9 tháng 9 năm 2018, anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong trận giao hữu thua Đức 2–1.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, sau khi đá hỏng luân lưu trong trận play-off World Cup quyết định gặp Úc, anh đăng thông báo trên mạng xã hội về việc giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế.[18] Dù vậy, anh vẫn tiếp tục thi đấu cho đội tuyển quốc gia và có tên trong đội hình tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 2024.[19]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 6 tháng 12 năm 2025[20]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia[a] | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Juan Aurich | 2009 | Liga 1 (Perú) | 31 | 1 | — | — | — | 31 | 1 | |||
| Sporting Cristal | 2010 | 41 | 6 | — | — | — | 41 | 6 | ||||
| 2011 | 29 | 2 | — | — | — | 29 | 2 | |||||
| 2012 | 21 | 0 | — | — | — | 21 | 0 | |||||
| Tổng cộng | 91 | 8 | — | — | — | 91 | 8 | |||||
| SC Tavriya | 2012–13 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 0 | 0 | ||
| Sporting Cristal (mượn) | 2012 | Perúvian Primera División | 9 | 0 | — | — | — | 9 | 0 | |||
| TSG Hoffenheim | 2012–13 | Bundesliga | 2 | 0 | 0 | 0 | — | 0 | 0 | 2 | 0 | |
| Ponte Preta (mượn) | 2013 | Série A | 4 | 0 | 1 | 0 | 1[b] | 0 | — | 6 | 0 | |
| Sporting Cristal (mượn) | 2014 | Perúvian Primera División | 10 | 2 | 11 | 1 | 1[c] | 0 | — | 22 | 3 | |
| Vitória de Setúbal (mượn) | 2014–15 | Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha | 26 | 0 | 2 | 0 | — | 5[d] | 0 | 33 | 0 | |
| Bursaspor | 2015–16 | Süper Lig | 12 | 0 | 1 | 0 | — | 1[e] | 0 | 14 | 0 | |
| Newell's Old Boys (mượn) | 2016 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 15 | 1 | 1 | 0 | — | — | 16 | 1 | ||
| 2016–17 | 14 | 0 | 1 | 0 | — | — | 15 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 29 | 1 | 2 | 0 | — | — | 31 | 1 | ||||
| Tigres UANL | 2016–17 | Liga MX | 9 | 0 | 0 | 0 | 5[f] | 0 | 0 | 0 | 14 | 0 |
| Lobos BUAP (mượn) | 2017–18 | 28 | 2 | 0 | 0 | — | — | 28 | 2 | |||
| Rayo Vallecano (mượn) | 2018–19 | La Liga | 28 | 1 | 1 | 0 | — | — | 29 | 1 | ||
| Rayo Vallecano | 2019–20 | Segunda División | 35 | 1 | 1 | 0 | — | — | 36 | 1 | ||
| 2020–21 | play-off 37 | 1 | 3 | 0 | — | 2[g] | 0 | 42 | 1 | |||
| Tổng cộng | 100 | 3 | 5 | 0 | — | 2 | 0 | 107 | 3 | |||
| Boca Juniors | 2021 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 13 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 17 | 0 |
| 2022 | 34 | 1 | 1 | 0 | 7[c] | 0 | 1[h] | 0 | 43 | 1 | ||
| 2023 | 25 | 0 | 2 | 0 | 12[c] | 4 | 2[i] | 0 | 41 | 4 | ||
| 2024 | 32 | 0 | 2 | 0 | 8[j] | 0 | 0 | 0 | 42 | 0 | ||
| 2025 | 19 | 1 | 1 | 0 | 1[c] | 0 | 3[k] | 0 | 24 | 1 | ||
| Tổng cộng | 123 | 2 | 10 | 0 | 28 | 4 | 6 | 0 | 167 | 6 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 474 | 19 | 32 | 1 | 35 | 4 | 14 | 0 | 555 | 24 | ||
- ^ Bao gồm Cúp bóng đá Brasil, Torneo del Inca, Cúp bóng đá Bồ Đào Nha, Cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ, Copa Argentina
- ^ Lần ra sân ở Copa Sudamericana
- ^ a b c d Lần ra sân ở Copa Libertadores
- ^ Lần ra sân ở Cúp Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
- ^ Lần ra sân ở CONCACAF Champions Cup
- ^ Lần ra sân ở Segunda División promotion
- ^ Lần ra sân ở Trofeo de Campeones de la Superliga Argentina
- ^ Một lần ra sân ở Supercopa Internacional, một lần ra sân ở Supercopa Argentina
- ^ Lần ra sân ở Copa Sudamericana
- ^ Lần ra sân ở Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 9 tháng 9 năm 2025[21]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Perú | 2010 | 5 | 0 |
| 2011 | 12 | 0 | |
| 2012 | 5 | 0 | |
| 2013 | 9 | 0 | |
| 2014 | 9 | 0 | |
| 2015 | 14 | 0 | |
| 2016 | 3 | 0 | |
| 2017 | 4 | 0 | |
| 2018 | 13 | 1 | |
| 2019 | 15 | 0 | |
| 2020 | 4 | 0 | |
| 2021 | 9 | 1 | |
| 2022 | 6 | 0 | |
| 2023 | 6 | 0 | |
| 2024 | 10 | 0 | |
| 2025 | 6 | 0 | |
| Tổng cộng | 130 | 2 | |
- Tính đến 8 tháng 6 năm 2021.
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Perú trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Advíncula.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 9 tháng 9 năm 2018 | Rhein-Neckar-Arena, Sinsheim, Đức | Đức | 1–0 | 1–2 | Giao hữu |
| 2 | 8 tháng 6 năm 2021 | Sân vận động Rodrigo Paz Delgado, Quito, Ecuador | Ecuador | 2–0 | 2–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022 |
Đời tư
Cha của Advíncula cũng là một cầu thủ bóng đá, từng có sự nghiệp tại bóng đá Perú.[22]
Vào tháng 12 năm 2024, Advíncula trở thành công dân nhập tịch Argentina trong thời gian thi đấu cho Boca. Việc nhập tịch của anh giúp Boca giải phóng một suất cầu thủ nước ngoài trong đội hình câu lạc bộ Argentina.[23][24]
Danh hiệu
Sporting Cristal
Boca Juniors
- Primera División: 2022
- Copa Argentina: 2019–20
- Copa de la Liga Profesional: 2022
- Supercopa Argentina: 2022
- Á quân Copa Libertadores: 2023
Perú
- Á quân Cúp bóng đá Nam Mỹ: 2019; hạng ba: 2011, 2015
Xem thêm
Tham khảo
- ^ "FIFA Club World Cup 25™ − tại List: CA Boca Juniors (ARG)" (PDF). FIFA. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2025.
- ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Luis Advíncula" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Boca Juniors. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Dynamo bid for Peru's Luis Advincula falls short". Andina. ngày 17 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2018.
- ^ Panizo, Franco (ngày 3 tháng 9 năm 2015). "Peru fullback Luis Advincula still sees MLS as attractive option years after near move to Dynamo". SBI Soccer. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2018.
- ^ "Ponte Preta anuncia lateral peruano e meia argentino". Terra (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
- ^ "FOX Sports". www.foxsports.com.br. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.[liên kết hỏng]
- ^ "Ponte Preta dispensa quatro jogadores - Esportes". Estadão (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
- ^ "Luís Advincula é reforço por uma época". Record. ngày 19 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014.
- ^ "Luis Advincula signe au Rayo Vallecano (officiel)" (bằng tiếng Pháp). L'Équipe. ngày 29 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018.
- ^ Rayo Vallecano fichó a Luis Advíncula por tres millones de euros, según EFE Lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Wayback Machine, rpp.pe, 9 tháng 7 năm 2019
- ^ Luis Advíncula tại Soccerway
- ^ Blanco, José (ngày 20 tháng 6 năm 2021). "Rayo Vallecano de Luis Advíncula ascendió y jugará LaLiga | ESPAÑA". RPP (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Acuerdo para el traspaso de Advíncula a Boca Juniors" [Agreement for the transfer of Advíncula to Boca Juniors] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Rayo Vallecano. ngày 31 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Ya es oficial: Luis Advíncula es nuevo jugador de Alianza Lima" [It's official: Luis Advíncula is a new player for Alianza Lima]. espn.com.pe (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 9 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2026.
- ^ "ESPN: Serving sports fans. Anytime. Anywhere". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
- ^ Crawford, Stephen (ngày 4 tháng 6 năm 2018). "Revealed: Every World Cup 2018 squad - Final 23-man lists". Goal. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
- ^ Young, Chris (ngày 13 tháng 6 năm 2022). "Peruvian player immediately quits after miss against Socceroos". Yahoo Sport Australia. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Peru squad". Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2026.
- ^ Luis Advíncula tại Soccerway
- ^ "Luis Advíncula". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2024.
- ^ Dulanto, Renzo (ngày 17 tháng 11 năm 2017). "Selección peruana: Conoce la historia de Luis Advíncula". Diario Correo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
- ^ Solis Ruiz, Miguel (ngày 12 tháng 11 năm 2024). "Luis Advíncula obtuvo segunda nacionalidad a poco del Perú vs Chile por Eliminatorias 2026". Infobae (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
- ^ "Advíncula se nacionalizó y liberó un cupo de extranjero en Boca". TyC Sports (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 4 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
Liên kết ngoài
- Luis Advíncula tại Liga MX (lưu trữ) (bằng tiếng Tây Ban Nha)
- Luis Advíncula tại Lobos BUAP Profile