Bước tới nội dung

Mèo Ojos Azules

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ojos Azules
Tập tin:Ojos Azules from the USA.jpg
Mèo vằn đỏ đứt đoạn Ojos Azules
Biệt danh thông thườngOjos
Nguồn gốcTập tin:Flag of the United States.svg Hoa Kỳ
Huyết thống nền tảngkhông rõ
Trạng thái nòiTuyệt chủng. Không có bất kỳ tổ chức đăng ký giống chủ yếu nào công nhận như một giống tiêu chuẩn.
Tiêu chuẩn giống
TICAhistorical tiêu chuẩn
Mèo nhà (Felis catus)

Ojos Azules (tiếng Tây Ban Nha: [ˈoxos aθˈules], 'Mắt xanh') là một giống mèo lai lông ngắn.[1][2] Đây là giống mèo nhà có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, với đôi mắt xanh khác thường hoặc mắt hai màu,[1] do gen trội mắt xanh (DBE) di truyền đột biến. Giống mèo này có đủ mọi màu lông; tuy nhiên, chỉ những màu lông pha trộn (mèo hai màumèo ba màu), mèo điểm màu và màu trung gian với chóp đuôi trắng đặc trưng.[1] Giống mèo này cũng có một giống lông bán dài, gọi là Ojos Azules lông dài.[1] Do tác dụng phụ gây chết cá thể của gen Ojos Azules, các nhà lai tạo đã ngừng nghiên cứu đột biến mắt xanh này và giống mèo này chính thức bị tuyệt chủng.[3][4]

Lịch sử

Vào những năm 1980, một nhóm các nhà khoa học đã phát hiện ra những con mèo có mắt xanh đậm trong các đàn mèo hoangNew Mexico, Hoa Kỳ. Năm 1984, con mèo đầu tiên có đặc điểm này và được xác định rõ là một con mèo tam thể, nó được đặt tên là "Cornflower". Các nhà khoa học lai nó với những con đực không có đặc điểm này, và đặc điểm này tỏ ra trội hơn vì tất cả mèo con của nó đều mang gen đó. Giống mèo này được đặt tên theo tiếng Tây Ban NhaOjos Azules, nghĩa là 'Đôi Mắt Xanh'.

Đăng ký và độ phổ biến

Ojos Azules là một giống mèo được ghi nhận từ các quần thể mèo hoang ở New Mexico (Hoa Kỳ) trong thập niên 1980, nổi bật bởi đặc điểm mắt xanh trội không kèm mảng lông trắng; một chương trình nhân giống thử nghiệm đã đưa giống này tới việc được The International Cat Association (TICA) chấp nhận đăng ký vào năm 1991.[5]

TICA sau đó thông qua "breed group standard" (tiêu chuẩn nhóm giống) cho Ojos Azules tại cuộc họp bán niên năm 2001, gồm biến thể lông ngắn (OA) và lông dài (OJ).[6]

Tuy nhiên, các tài liệu của TICA và các nguồn tổng quan về di truyền học ghi nhận rằng đột biến mắt xanh trội này có thể liên quan tới các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng: khi phối giống hai cá thể mắt xanh, từng ghi nhận mèo con lông trắng bị dị tật sọ và các dị tật khác; các nỗ lực loại bỏ vấn đề qua chọn giống không thành công, và việc phát triển/nhân giống bị bỏ dở do các dị tật có thể gây chết ở cá thể đồng hợp tử.[7][8][9]

Vì vậy, giống mèo này thường được mô tả là đã suy giảm mạnh và được xem là đã tuyệt chủng.[8]

Gen Ojos Azules

Ojos Azules nổi bật với đôi mắt xanh thẳm. Độ sâu của màu mắt được mô tả là thậm chí còn đậm hơn cả mắt của mèo Xiêm và không gây ra hiện tượng nheo mắt, điếc hoặc lác mắt. Độ sâu màu mắt này ở loài Ojos Azules là do các biến dị đa gen hiện chưa được biết đến.[10]

Không giống như mắt xanh liên quan đến các gen trong các con mèo có màu trắng tuyền, hai màuđiểm màu, tất cả đều ức chế sắc tố, gen này không liên quan đến bất kỳ màu lông hoặc kiểu lông cụ thể nào,[1][10] mang lại cơ hội có những con mèo có bộ lông tối màu và mắt xanh. Màu mắt xanh ở những con mèo như mèo Xiêm và mèo mắt xanh là do cùng một hiện tượng vật lý, đó là sự thiếu hụt hắc tố trong mống mắt.[11] Mặc dù nguyên nhân gây mất sắc tố giữa mèo Xiêm, mèo trắng và mèo có gen Ojos Azules đều khác nhau, nhưng kết quả đều là mất hắc tố và mắt xanh. Một dấu hiệu khác của gen Ojos Azules là chóp đuôi màu trắng và dẹt.[1][10]

Sau cuộc điều tra di truyền của nhà sinh vật học Solveig Pflueger, việc nhân giống được nối lại ở quy mô nhỏ với những nỗ lực lai tạo giống Ojos Azules mà không có các khiếm khuyết di truyền gây tử vong.[12] Người ta phát hiện ra rằng khi gen ở trạng thái đồng hợp tử, nó gây ra dị tật sọ, lông trắng, đuôi nhỏ cong và thai chết lưu. Tuy nhiên, khi gen ở trạng thái dị hợp tử, những đột biến di truyền này không gây tử vong.[2] Kết quả là các nhà nhân giống đã lai giống những con mèo mắt xanh với những con mèo không có mắt xanh, đảm bảo mỗi lứa mèo con sẽ có tỷ lệ khoảng 50/50 giữa mèo mắt xanh và mèo mắt không xanh.[12]

Mô tả

Ngoại hình

Giống mèo Ojos Azules có kích thước cỡ trung bình, nổi tiếng với đôi mắt màu xanh lam sâu thăm thẳm, to và tròn,[1] cổ cong, đuôi cân đối với thân. Đầu hơi hình tam giác. Trán hơi tròn và mõm góc cạnh. Mũi hơi gãy. Chúng có bộ lông ngắn, mịn, mềm mại, mượt mà và bóng. Lớp lông lót không đặc biệt, hầu hết đều có màu đậm. Tất cả các màu lông đều có thể xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ những màu pha trộn (hai màu và ba màu), điểm màu và màu trung gian với chóp đuôi trắng.[1][10] Các mảng màu trắng thường xuất hiện ở hầu hết các đầu chi (đầu đuôi, mõm và bàn chân).[1] Tuy nhiên, các đốm ở bụng hoặc ngực không được chấp nhận và coi là khuyết điểm.[1] Bộ lông trắng tuyền không được ưa chuộng, vì chúng chỉ có thể phân biệt với những con mèo trắng mắt xanh thông thường bằng các xét nghiệm di truyền.[1] Mèo trắng mắt xanh tuyền dễ bị điếc, như thường thấy ở mèo trắng mắt xanh không có đột biến.

Hồi sinh giống mắt xanh nổi bật

Tập tin:Lazuli01 (cropped).jpg
Mèo con vằn đen mắt xanh trội hiện đại thuộc giống mèo thử nghiệm Celestial, được chứng nhận bởi Livre officiel des origines félines (LOOF)

Ngoài giống mèo Ojos Azules đã tuyệt chủng, một số gen mắt xanh trội (Dominant Blue Eye - DBE) khác đã được tìm thấy ở mèo trên toàn thế giới.[13] Chúng không phải là Ojos Azules, vì chúng không có nguồn gốc từ "Cornflower". Những con mèo này mang đột biến DBE và được phát triển thành các giống mèo mới hoặc được một số sổ đăng ký mèo công nhận là biến thể màu mắt trong các giống mèo sẵn có.[14]

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j k The International Cat Association (2001). "Breed standard in the 2001 Semi-Annual Board Meeting" (PDF). tica.org. tr. 35. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023.
  2. ^ a b "Ojos Azules". icatcare.org. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023.
  3. ^ "Ojos Azules". creatures.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ Debbie (ngày 28 tháng 9 năm 2025). "Ojos Azules Cat: The Rare Blue-Eyed Breed That Vanished". CatPedia (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  5. ^ "2025 TICA Winter Meeting Appendix" (PDF). tica.org (bằng tiếng Anh). The International Cat Association (TICA). 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  6. ^ "Semi-Annual Board Meeting (January 14, 2001)" (PDF). tica.org (bằng tiếng Anh). The International Cat Association (TICA). 2001. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ "2025 TICA Winter Meeting Agenda" (PDF). tica.org (bằng tiếng Anh). The International Cat Association (TICA). 2025. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  8. ^ a b "Different Founding Effects Underlie Dominant Blue Eyes (DBE) in the Domestic Cat". Animals (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 13. 2024. tr. 1845. doi:10.3390/ani14131845. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  9. ^ "Feline genetics notes" (PDF). mat.uniroma2.it (bằng tiếng Anh). Università degli Studi di Roma Tor Vergata. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2026.
  10. ^ a b c d "Blue-Eyed Breeds / Dominant Blue Eye (DBE)". MessyBeast.com. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2023.
  11. ^ Thibos, L. N.; Levick, W. R.; Morstyn, R. (1980). "Ocular Pigmentation in White and Siamese Cats". Investigative Ophthalmology and Visual Science. 19 (5): 475–486. PMID 7372414.
  12. ^ a b Memoriam, | In; SCO, | By Team. "Dr. Solveig Pflueger – ShowCatsOnline" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  13. ^ Marie, Abitbol (ngày 21 tháng 6 năm 2024). "Different Founding Effects Underlie Dominant Blue Eyes (DBE) in the Domestic Cat". Advancing Open Science. Số 2024. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.
  14. ^ "Blue Eyed Breeds". Messy Beast. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). Lỗi Lua trong Mô_đun:Taxonbar tại dòng 141: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).