Mehdi François Carcela-González (tiếng Ả Rập: المهدي كارسيلا; sinh ngày 1 tháng 7 năm 1989) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp từng thi đấu ở vị trí tiền vệ.

Mehdi Carcela
Tập tin:Mehdi Carcela-González 2012.jpg
Carcela với Anzhi Makhachkala năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mehdi François Carcela-González[1]
Ngày sinh 1 tháng 7, 1989 (37 tuổi)
Nơi sinh Liège, Bỉ
Chiều cao 1,76 m[2]
Vị trí Tiền vệ
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1994–2008 Standard Liège
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2011 Standard Liège 83 (18)
2011–2013 Anzhi Makhachkala 31 (1)
2013–2015 Standard Liège 45 (6)
2015–2016 Benfica 20 (2)
2016–2018 Granada 22 (5)
2017–2018Olympiacos (mượn) 6 (0)
2018Standard Liège (mượn) 6 (2)
2018–2022 Standard Liège (9)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2004 Bỉ (0)
2005–2006 U-17 Bỉ 11 (2)
2006–2007 U-18 Bỉ 12 (1)
2009–2010 U-21 Bỉ 8 (1)
2009–2010 Bỉ 2 (0)
2011–2019 Maroc 22 (1)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 10 tháng 4 năm 2022
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 21:00, 15 tháng 10 năm 2019 (UTC)

Anh bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ quê nhà Standard Liège, thi đấu 157 trận và ghi 25 bàn thắng qua hai giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015. Anh giành chức vô địch quốc gia vào năm 2009 và cúp quốc gia hai năm sau đó. Xen giữa hai giai đoạn này, anh thi đấu cho Anzhi Makhachkala tại Nga, gia nhập câu lạc bộ với mức phí 5,7 triệu euro. Năm 2015, anh ký hợp đồng với Benfica tại Bồ Đào Nha, và một năm sau là Granada tại Tây Ban Nha.

Carcela đại diện cho Bỉ ở mọi cấp độ trẻ và thi đấu hai trận cho đội tuyển quốc gia nước này trước khi chuyển sang khoác áo Maroc, quê gốc của anh, vào năm 2010. Anh đại diện cho Maroc tại Cúp bóng đá châu Phi 20122017.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Standard Liège

Carcela là sản phẩm của học viện Standard Liège, gia nhập câu lạc bộ khi mới năm tuổi. Anh ra mắt chuyên nghiệp ở tuổi 19, khi vào sân thay Igor de Camargo ở phút 81. Standard thắng 2–0 trước Kortrijk vào ngày 13 tháng 9 năm 2008.[3] Sau đó, anh ra mắt đấu trường châu Âu trong trận cuối cùng vòng bảng Cúp UEFA gặp Stuttgart vào ngày 18 tháng 12 năm 2008, vào sân thay Wilfried Dalmat ở phút 65 trong thất bại 0–3 trên sân khách.[4] Trong mùa giải đầu tiên, câu lạc bộ giành chức vô địch quốc giaSiêu cúp bóng đá Bỉ, trong khi anh chỉ có 12 lần ra sân.

Carcela bắt đầu mùa giải 2009–10 với vai trò dự bị, khi Standard giành Siêu cúp bóng đá Bỉ lần thứ hai liên tiếp. Sau đó, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ và có một pha kiến tạo trong chiến thắng 5–1 trước Roeselare vào ngày 15 tháng 8.[5] Bốn tuần sau, vào ngày 13 tháng 9, anh ghi hai bàn khi đội đánh bại Mechelen 3–0.[6] Anh tiếp tục ghi bàn ở trận kế tiếp sáu ngày sau đó, trong chiến thắng 3–1 trước Lokeren.[7] Ngày 24 tháng 11, anh bị truất quyền thi đấu trong trận vòng bảng Champions League tại Sân vận động Arsenal sau khi húc đầu vào Cesc Fàbregas ở những phút cuối của thất bại 0–2 tại Emirates.[8] Do đó, Carcela vắng mặt trong hai trận tiếp theo ở đấu trường châu Âu.[9] Mùa giải này trở thành mùa giải đột phá của Carcela, khi anh ghi năm bàn sau 44 lần ra sân trên mọi đấu trường.

Tập tin:Mehdi Carcela-Gonzalez.jpg
Carcela trong màu áo Standard Liège năm 2009

Ở mùa giải 2010–11, màn trình diễn của Carcela được Zinedine Zidane từ Real Madrid chú ý.[10] Anh khởi đầu mùa giải ấn tượng khi ghi bốn bàn trong hai trận gặp Lierse vào ngày 6 tháng 8[11] và Lokeren tám ngày sau đó.[12] Sau đó, anh ghi ba bàn trong ba trận từ vòng 10 đến vòng 12, góp phần giúp câu lạc bộ đánh bại Anderlecht 5–1;[13] rồi ghi thêm một bàn trong trận thua Genk ngày 17 tháng 10;[14] và trong chiến thắng 2–1 trước Gent một tuần sau đó.[15] Cuối năm 2010, Carcela được Don Balón đưa vào danh sách 100 cầu thủ trẻ xuất sắc nhất thế giới.[16]

Ngày 17 tháng 5 năm 2011, anh bị Chris Mavinga đá trúng mặt khi cả hai tranh bóng trong trận đấu ở giải vô địch gặp Genk, khiến anh bị nhiều vết gãy ở mặt và gãy răng.[17] Sau trận đấu, Mavinga xin lỗi Carcela vì hành động của mình.[18] Cũng trong mùa giải đó, Carcela góp phần giúp câu lạc bộ tiến sâu tại Cúp bóng đá Bỉ khi ghi bàn ở trận lượt về bán kết, giúp Standard Liège đánh bại Gent 4–1 để vào chung kết. Carcela phải phẫu thuật để điều trị chấn thương do Mavinga gây ra.[19] Anh mô tả sự cố này là "giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời" vì anh lo sợ mình đã có thể tử vong.[20] Do phải phẫu thuật,[21] anh bỏ lỡ chung kết Cúp bóng đá Bỉ, nơi đội bóng của anh thắng Westerlo 2–0. Đến cuối mùa giải, Carcela có 44 lần ra sân trên mọi đấu trường và ghi 14 bàn, trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của câu lạc bộ ở mùa giải 2010–11.

Anzhi Makhachkala

Tháng 9 năm 2011, Carcela chuyển đến Nga khi gia nhập Anzhi Makhachkala với giá 5,7 triệu euro, ký hợp đồng bốn năm.[22] Sau khi gia nhập câu lạc bộ, anh tiết lộ rằng Spartak Moscow từng đề nghị mức lương cao gấp đôi so với Anzhi.[23] Tuy nhiên, giám đốc thể thao của Spartak Moscow, Dmitri Popov, phủ nhận tuyên bố này và cho rằng anh gia nhập Anzhi vì tôn giáo của mình. Makhachkala, thủ phủ của Cộng hòa Dagestan, có đông dân số Hồi giáo và Carcela gia nhập cùng đồng đội đồng hương Mbark Boussoufa.[23]

Trong mùa giải đầu tiên, Carcela chỉ có tám lần ra sân do lo ngại về chấn thương và các nghĩa vụ sắp tới tại Cúp bóng đá châu Phi.[24][25] Có thời điểm, Carcela thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm vào ngày 1 tháng 4 năm 2012, trong trận thua 0–1 trước Rubin Kazan.[26]

Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên, tương lai của Carcela tại câu lạc bộ bị đặt dấu hỏi và anh cân nhắc rời đội nếu không có đủ thời gian thi đấu, trong khi ban lãnh đạo câu lạc bộ cũng xem xét bán anh.[27] Do đó, anh được cho là có thể chuyển đến Udinese.[28] Bất chấp tình hình này, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 1–0 trước Amkar Perm vào ngày 5 tháng 8 năm 2012.[29]vòng play-off UEFA Europa League, Carcela-González tiếp tục ghi bàn khi Anzhi đè bẹp AZ 5–0, qua đó thắng chung cuộc 6–0.[30] Từ đó, Carcela có thời gian thi đấu liên tục hơn ở đội một, điều mà anh xem là một bước tiến trong sự nghiệp.[31]

Tháng 8 năm 2013, sau quá trình tái cấu trúc ở cấp độ kinh doanh, Anzhi quyết định đưa toàn bộ đội hình vào danh sách chuyển nhượng, bao gồm cả Carcela.[32] Sau đó, anh bày tỏ mong muốn rời câu lạc bộ và được đồn đoán có thể trở lại Standard, hoặc chuyển đến Roma,[33] Marseille, Toulouse hoặc Nice.[34]

Trở lại Standard Liège

Sau hai năm ở Nga, Carcela trở lại Standard Liège theo bản hợp đồng ba năm với mức phí không được tiết lộ.[35]

Ngày 8 tháng 12 năm 2013, sau khi Bjorn Ruytinx của Oud-Heverlee Leuven phạm lỗi nguy hiểm với Carcela rồi dường như bật cười, Carcela đứng dậy, đấm vào mặt đối thủ và bị truất quyền thi đấu.[36] Anh nhận án treo giò bốn trận.[37] Anh ghi bàn trong chiến thắng 1–0 trước Charleroi vào ngày 15 tháng 2 năm 2014.[38] Carcela sau đó ghi bàn thắng thứ hai trong mùa giải, trong chiến thắng 1–0 trước Anderlecht vào ngày 30 tháng 3 năm 2014.[39] Ở trận cuối cùng của mùa giải, anh ghi bàn lần thứ ba trong mùa giải, trong chiến thắng 1–0 trước Gent, nhưng chiến thắng của Anderlecht giúp đội bóng này giành chức vô địch thay vì Standard.[40]

Benfica

Ngày 13 tháng 6 năm 2015, Carcela ký hợp đồng bốn năm với nhà vô địch Bồ Đào Nha Benfica.[41] Anh ra mắt đội bóng vào ngày 23 tháng 8 trong trận thua 0–1 trên sân khách trước Arouca tại Primeira Liga,[42] và ghi bàn thắng đầu tiên cho Benfica vào ngày 16 tháng 10 trong chiến thắng 2–1 trên sân khách trước Vianense tại Taça de Portugal.[43] Hai tuần sau, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha, trong chiến thắng 4–0 trên sân khách trước Tondela.[44] Anh chủ yếu được sử dụng với vai trò dự bị khi Đại bàng đỏ bảo vệ thành công chức vô địch, đồng thời thi đấu bốn trận trong chiến dịch vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha, nhưng không được sử dụng trong trận chung kết.[45]

Granada

Ngày 31 tháng 8 năm 2016, Carcela-González ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ Tây Ban Nha Granada.[46][47] Anh ra mắt La Liga vào ngày 11 tháng 9 khi vào sân ở phút 65 thay Omer Atzili trong trận thua 1–2 trên sân nhà trước Eibar, và năm ngày sau ghi bàn thắng đầu tiên, mở tỉ số trong trận hòa 2–2 trên sân của đối thủ cùng vùng AndalusiaReal Betis.[48] Carcela kết thúc mùa giải với 24 trận và năm bàn thắng trên mọi đấu trường, trong khi đội bóng của anh xuống hạng ở vị trí cuối bảng.

Olympiacos

Ngày 7 tháng 7 năm 2017, Olympiacos chính thức thông báo chiêu mộ Carcela theo bản hợp đồng ba năm.[49] Anh dự kiến bị câu lạc bộ thanh lý hợp đồng vào ngày 4 tháng 12 năm 2017 do màn trình diễn và mức độ nỗ lực không đáp ứng kỳ vọng của ban lãnh đạo Olympiacos,[50] nhưng được đưa trở lại các buổi tập đội một vào ngày 18 tháng 1 năm 2018 dưới thời Oscar Garcia.[51]

Trở lại Standard Liège

Vào ngày cuối cùng của kỳ chuyển nhượng tháng 1, Carcela trở lại Standard Liège lần thứ ba trong sự nghiệp. Carcela không nằm trong kế hoạch của cựu huấn luyện viên Takis Lemonis, nhưng nhận được cơ hội thứ hai khi Oscar Garcia được bổ nhiệm. Dù đã trở lại tập luyện cùng câu lạc bộ trong những tuần gần đó, Olympiakos quyết định để cầu thủ này ra đi.[52] Đồng đội cũ Silvio Proto cho rằng màn trình diễn dưới kỳ vọng của Carcela tại Thrylos xuất phát từ việc anh không ổn định tại câu lạc bộ.[53]

Ngày 17 tháng 3 năm 2018, anh thi đấu khi Standard Liège đánh bại Genk 1–0 sau hiệp phụ để giành Cúp bóng đá Bỉ và giành quyền tham dự UEFA Europa League.[54]

Sự nghiệp quốc tế

Ban đầu, Carcela chọn đại diện cho quê hương Bỉ và thậm chí thi đấu hai trận giao hữu cho Quỷ đỏ,[55][56] nhưng đến tháng 12 năm 2010, anh đổi ý và quyết định khoác áo Maroc.[57]

Tháng 2 năm 2011, Carcela ra mắt Những chú sư tử Atlas của Maroc trong chiến thắng 3–0 trước Niger, vào sân ở cuối trận và mang về một quả phạt đền.[58] Sau khi ra mắt, anh lên tiếng về quyết định thi đấu cho Maroc, nói rằng anh tự hào khi đại diện cho đội tuyển quốc gia và cảm giác đó "như một giấc mơ thời thơ ấu".[59]

Carcela có tên trong đội hình tham dự Cúp bóng đá châu Phi, thi đấu hai trận khi đội bị loại ở vòng bảng.

Ngày 11 tháng 10 năm 2016, Carcela ghi bàn thắng đầu tiên cho Maroc trong chiến thắng giao hữu 4–0 trước Canada tại Sân vận động Marrakech.[60]

Huấn luyện viên Hervé Renard điền tên Carcela vào đội hình tham dự Cúp bóng đá châu Phi tại Gabon.[61] Anh thi đấu một trận, thất bại 0–1 trong ngày ra quân trước CHDC Congo, khi đội vào đến tứ kết.

Tháng 5 năm 2018, anh có tên trong đội hình 23 cầu thủ Maroc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[62]

Đời tư

Carcela sinh ra tại Liège, Bỉ, có cha là người Tây Ban Nha và mẹ là người Maroc.[63] Anh vẫn giữ liên hệ với quê nhà.[64] Anh họ của anh, Joachim Carcela, cũng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp.[65]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Tính đến 22 tháng 10 năm 2020[66][67]
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia[a] Cúp Liên đoàn[b] Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Standard Liège 2008–09 Giải bóng đá vô địch quốc gia Bỉ 13 0 0 0 2[c] 0 15 0
2009–10 Belgian Pro League 32 5 2 0 10[d] 0 1[e] 0 45 5
2010–11 Belgian Pro League 38 13 6 1 44 14
Tổng cộng 83 18 8 1 12 0 1 0 104 19
Anzhi 2011–12 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 8 0 0 0 0 0 8 0
2012–13 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 20 1 2 0 14[f] 1 36 2
2013–14 Giải bóng đá Ngoại hạng Nga 3 0 0 0 3 0
Tổng cộng 31 1 2 0 14 1 47 2
Standard Liège 2013–14 Belgian Pro League 25 3 2 0 3[f] 0 30 3
2014–15 Belgian Pro League 20 3 0 0 3[g] 0 23 3
Tổng cộng 45 6 2 0 6 0 53 6
Benfica 2015–16 Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha 20 2 1 1 4 0 4[h] 0 0 0 29 3
Granada 2016–17 La Liga 22 5 2 0 24 5
Olympiacos 2017–18 Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp 6 0 2 0 8[h] 1 16 1
Standard Liège 2017–18 Belgian Pro League 16 5 2 0 18 5
2018–19 Belgian Pro League 37 5 0 0 8[i] 2 1[e] 0 46 7
2019–20 Belgian Pro League 26 3 2 0 6[f] 0 34 3
2020–21 Belgian Pro League 4 0 0 0 4[f] 0 8 0
Tổng cộng 83 13 4 0 0 0 18 2 1 0 106 15
Tổng cộng sự nghiệp 290 45 21 2 4 0 62 4 2 0 379 51
  1. ^ Bao gồm Cúp bóng đá Bỉ, Cúp bóng đá Nga, Cúp bóng đá Bồ Đào Nha, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, Cúp bóng đá Hy Lạp
  2. ^ Bao gồm Cúp Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha
  3. ^ Lần ra sân ở Cúp UEFA
  4. ^ Năm lần ra sân ở UEFA Champions League, năm lần ra sân ở UEFA Europa League
  5. ^ a b Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Bỉ
  6. ^ a b c d Lần ra sân ở UEFA Europa League
  7. ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, một lần ra sân ở UEFA Europa League
  8. ^ a b Lần ra sân ở UEFA Champions League
  9. ^ Hai lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Champions League, sáu lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[68]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Bỉ 2009 1 0
2010 1 0
Tổng cộng 2 0
Maroc 2011 3 0
2012 4 0
2014 3 0
2016 4 1
2017 5 0
2018 3 0
Tổng cộng 22 1
Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Maroc trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Carcela.
Danh sách bàn thắng quốc tế được ghi bởi Mehdi Carcela'[68]
Thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 11 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Marrakech, Marrakesh, Maroc   Canada 1–0 4–0 Giao hữu

Danh hiệu

[69] Standard Liège

Anzhi Makhachkala

Benfica

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ S.L. Benfica (ngày 26 tháng 6 năm 2015). "Players" (PDF) (bằng tiếng Bồ Đào Nha). CMVM. tr. 75. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2015.
  2. ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
  3. ^ "Standard Liege 2 - 0 Kortrijk". World Football. ngày 13 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  4. ^ "Match Report: Stuttgart 3 - 0 Standard Liege". UEFA Official Website. ngày 18 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  5. ^ "Match Report: KSV Roeselare 1 -5 Standard Liege". World Football. ngày 15 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  6. ^ "Standard wint, maar verliest Defour" [Standard wins, but loses Defour] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 13 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  7. ^ "Match Report: Lokoren 1 - 3 Standard Liege". World Football. ngày 19 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  8. ^ "Arsenal 2 - 0 Standard Liege". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  9. ^ "Carcela maar 2 Europese matchen aan de kant" [Carcela but two European games on the side] (bằng tiếng Hà Lan). De Standaard. ngày 10 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  10. ^ "Zidane veut Carcela au Real Madrid" [Zidane wants Carcela at Real Madrid] (bằng tiếng Pháp). Info Sports. ngày 13 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  11. ^ "Match Report: Lokoren 1 - 4 Standard Liege". World Football. ngày 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  12. ^ "Match Report: Standard Liege 3 - 3 Sporting Lokoren". World Football. ngày 14 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  13. ^ "Match Report: Standard Liege 5 - 1 Anderlecht". World Football. ngày 3 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  14. ^ "Racing Genk verslaat Standard LuikLiege" [Racing Genk beat Standard Liège] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 17 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  15. ^ "Standard Luik gaat AA Gent voorbij" [AA Gent Standard Liege goes beyond] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 24 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  16. ^ "Don Balon's list of the 100 best young players in the world". The Spoiler Website. ngày 2 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  17. ^ "Le terrible choc Mavinga-Carcela" [Mavinga and Carcela's terrible collision]. DH.be (bằng tiếng Pháp). ngày 17 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  18. ^ "Belgique: un joueur confond le football avec du kick-boxing (vidéo)" [Belgium: a player confuses football with kickboxing (video)] (bằng tiếng Pháp). Gentside Sport. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  19. ^ "Flink gehavende Carcela onder het mes" [Flink battered Carcela under the knife] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  20. ^ "Herstellende Carcela-Gonzalez: 'Had dood kunnen zijn'" [Recovering Carcela-Gonzalez: 'Could be dead'] (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  21. ^ "Mehdi Carcela succesvol geopereerd" [Mehdi Carcela successful surgery] (bằng tiếng Hà Lan). De Standaard. ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  22. ^ "Standard Liege says Carcela-Gonzalez to join Anzhi pending medical". RIA Novositi. ngày 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  23. ^ a b "Карсела-Гонсалес: в "Спартаке" мне предлагали немного больше, чем в "Анжи"" [Carcela-González: 'Spartak' offered me a bit more than 'Anzhi'] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 31 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  24. ^ "Карсела-Гонсалес пропустил тренировку "Анжи" из-за пищевого отравления" [Carcela-González missed 'Anzhi' training due to food poisoning] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  25. ^ "Буссуфа и Карсела-Гонсалес вернулись в "Анжи"" [Boussoufa and Carcela-González returned to 'Anzhi'] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  26. ^ "Ex-Anzhi Coach Takes Swipe at Hiddink's Team". RIA Novosti. ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  27. ^ ""Анжи" готов расстаться с Карсела-Гонсалесом" ['Anzhi' willing to part with Carcela-González] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  28. ^ "Ларини: "Удинезе" не связывался с "Анжи" по поводу Карсела-Гонсалеса" [Larini: 'Udinese' has not contacted 'Anzhi' about Carcela-González] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 8 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  29. ^ "Карсела-Гонсалес: моя задача состояла в том, чтобы поменять ход игры с "Амкаром"" [Carcela-González: my goal was to change the course of the game with 'Amkar'] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 6 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  30. ^ "Anzhi Smash 5 Past Dutch for Europa League Group Spot". RIA Novosti. ngày 31 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  31. ^ "Карсела-Гонсалес: "Анжи" — это шаг вперёд в моей карьере" [Carcela-Gonzalez: 'Anzhi' is a step forward in my career] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 17 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  32. ^ "Tottenham and Chelsea transfer target Willian poised for bargain move as Anzhi slash budget". Daily Mirror. ngày 7 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.
  33. ^ "Карсела-Гонсалес может перейти в "Стандард" или "Рому"" [Carcela-González can go to 'Standard' or 'Roma'] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 30 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  34. ^ ""Марсель", "Ницца" и "Тулуза" интересуются Карсела-Гонсалесом" ['Marseille', 'Nice' and 'Toulouse' interested in Carcela-González] (bằng tiếng Nga). Championat.com. ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  35. ^ "Standard haalt Carcela terug uit Rusland" [Standard Carcela gets back from Russia] (bằng tiếng Hà Lan). Sporza Official Website. ngày 1 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  36. ^ "Footballer Has Ankle Stomped on, Gets up and Punches Opponent". Bleacher Report.
  37. ^ "Vuistslag komt Carcela op vier duels schorsing te staan" [Punch brings Carcela four-match ban] (bằng tiếng Hà Lan). Voetbal International. ngày 10 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2014.
  38. ^ "Been wint van Menzo, Standard beste in Waalse derby" [Bone wins Menzo, Standard best in Walloon derby] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 15 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  39. ^ "Standard Luik terug aan kop in België" [Standard Liege back on top in Belgium] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  40. ^ "Anderlecht opnieuw kampioen van België" [Anderlecht again champion of Belgium] (bằng tiếng Hà Lan). AD.nl. ngày 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  41. ^ "Mehdi Carcela: I'm honoured to play for a mythical club". S.L. Benfica. ngày 13 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2015.
  42. ^ Celso/zerozero.pt, RTP, Rádio e Televisão de Portugal - Marcos (ngày 24 tháng 8 năm 2015). "Arouca 1-0 Benfica". Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  43. ^ RTP/Zerozero.pt, RTP, Rádio e Televisão de Portugal - (ngày 16 tháng 10 năm 2015). "Jardel dá vitória ao Benfica no último minuto". Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  44. ^ Celso/zerozero.pt, RTP, Rádio e Televisão de Portugal - Marcos (ngày 30 tháng 10 năm 2015). "Tondela 0-4 Benfica". Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  45. ^ "ONZE DO BENFICA COM LUISÃO, GRIMALDO E SAMARIS. NELO VINGADA MUDA SEIS" (bằng tiếng Bồ Đào Nha). SAPO. ngày 20 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017.
  46. ^ "Vários jogadores de saída" [Several players leaving]. S.L. Benfica (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 31 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2016.
  47. ^ "Comunicado oficial - Carcela" [Official press release - Carcela]. Granada CF (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 31 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2016.
  48. ^ Egea, Pablo (ngày 16 tháng 9 năm 2016). "Alegría a medias". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2017.
  49. ^ "Επίσημο: Παίκτης του Ολυμπιακού ο Καρσελά" (bằng tiếng Hy Lạp). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  50. ^ "Βόμβα έριξε ο Ολυμπιακός: Τέλος Καπίνο, Καρσελά, Μίλιτς, Ζντιέλαρ!". Contra.gr (bằng tiếng Hy Lạp). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017.
  51. ^ "Γύρισε στις προπονήσεις ο Καρσελά" [Karsella turned to the training] (bằng tiếng Hy Lạp). sport24.gr. ngày 18 tháng 1 năm 2018.
  52. ^ "Carcela reforça o Standard Liège". www.record.pt. ngày 1 tháng 2 năm 2018.[liên kết hỏng]
  53. ^ "Προτό: "Δεν αισθανόταν καλά στον Ολυμπιακό ο Καρσελά"". Newsit.gr (bằng tiếng Hy Lạp). ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2018.
  54. ^ "Emond knikt Standard na verlengingen naar bekerwinst". m.live.sporza.be (bằng tiếng Hà Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2018.
  55. ^ "Official: Mehdi Carcela-Gonzalez Opts To Represent Belgium At International Level". Goal.com. ngày 16 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  56. ^ "Standard Liege's Mehdi Carcela-Gonzalez Yet To Decide On International Future". Goal.com. ngày 2 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  57. ^ "Georges Leekens : "On a tout fait pour l'avoir" [Georges Leekens: "We did everything to get him"] (bằng tiếng Pháp). DHnet. ngày 17 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  58. ^ "Morocco 3-0 Niger: Atlas Lions Thrash The Mena Thanks To Mbarak Boussoufa Double". Goal.com. ngày 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  59. ^ "I Am Proud That I Chose Morocco – Mehdi Carcela-Gonzalez". Goal.com. ngày 11 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  60. ^ "Morocco 4 Canada 0: Ziyech double ensures Renard remains unbeaten". Yahoo!Sports. Omnisport. ngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  61. ^ Bản mẫu:Chú thích báo 2017
  62. ^ "Boufal left out of Morocco squad".[liên kết hỏng]
  63. ^ "Mehdi Carcela To Choose Morocco - Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017.
  64. ^ "Mehdi Carcela krijgt eigen sportcomplex in België" [Medhi Carcela makes his own sports complex in Belgium] (bằng tiếng Hà Lan). Bladna.nl. ngày 14 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
  65. ^ "Joachim, le cousin de Mehdi Carcela, était à l'entraînement public du Standard". sudinfo.be. ngày 20 tháng 12 năm 2018.
  66. ^ "Mehdi Carcela-González". Soccerway. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017.
  67. ^ "Mehdi Carcela-González". superleaguegreece.net. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2017.
  68. ^ a b "Carcela-Gonzalez, Mehdi". National Football Teams. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  69. ^ Mehdi Carcela tại Soccerway. Truy cập 15 tháng 6 năm 2015.

Liên kết ngoài

  • Mehdi Carcela tại ForaDeJogoLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  • Mehdi Carcela tại SoccerwayLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  • Mehdi Carcela tại Hiệp hội bóng đá Hoàng gia BỉLỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).

Bản mẫu:Belgian Lion