Minami Tori-shima
|
Minami-Tori-shima
|
|
|---|---|
| Tập tin:Ogasawara Minamitorishima.png | |
| Địa lý | |
| Vị trí | Thái Bình Dương |
| Tọa độ | 24°17′12″B 153°58′50″Đ / 24,28667°B 153,98056°Đ |
| Diện tích | 1,51 km2 (58,3 mi2) |
| Đường bờ biển | 6.000 m (20.000 ft) |
| Độ cao tương đối lớn nhất | 9 m (30 ft) |
| Hành chính | |
Nhật Bản | |
| Tỉnh | Tokyo |
| Tiểu khu | Ogasawara |
| Làng | Ogasawara |
| Nhân khẩu học | |
| Dân số | Không có dân cư |
| Thông tin khác | |
| Múi giờ | |
Minami Tori-shima (南鳥島 (Nam Điểu đảo)) còn được gọi là Marcus Island trong tiếng Anh là một đảo san hô biệt lập rộng khoảng 1,2 km² ở phía tây bắc Thái Bình Dương và là nơi nóng nhất Nhật Bản.[1] Đây là lãnh thổ cực đông và cũng là vùng đất duy nhất của quốc gia này nằm trên mảng Thái Bình Dương, ngoài khơi rãnh Nhật Bản. Hòn đảo cách Tokyo 1.848 km về phía đông nam, nằm gần như trên đường thẳng nối thủ đô nước này với đảo Wake; trong khi thực thể gần nó nhất là cụm đảo phía đông thuộc quần đảo Mariana, cách 1.015 km về hướng tây tây nam. Dù diện tích nhỏ và chỉ có một sân bay,[2] đảo có vị trí chiến lược đặc biệt khi giúp Nhật Bản mở rộng vùng đặc quyền kinh tế thêm khoảng 428.875 km² ở vùng biển xung quanh.
Hiện tại, hòn đảo này không có cư dân thường trú mà chỉ có nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng (Lực lượng Phòng vệ Hàng hải) cùng Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (Cục Phát triển Khu vực Kanto, Cục Khí tượng Nhật Bản và Lực lượng Bảo vệ bờ biển) luân phiên đóng quân, làm nhiệm vụ tạm thời.[3]
Hòn đảo (còn gọi là đảo Marcus)[4] nghiêm cấm thường dân và du khách lui tới; việc đặt chân lên đây chỉ dành cho lực lượng công vụ thực hiện công tác điều tra, báo cáo hoặc thực hiện dịch vụ theo hợp đồng. Do không có bác sĩ hay cơ sở y tế, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc thực phẩm nguy hiểm đến tính mạng, hoạt động đánh bắt cá tại đây hoàn toàn bị cấm.
Về mặt hành chính, đây là lãnh thổ cực đông của Tokyo, thuộc tiểu khu Ogasawara. Đây cũng là hòn đảo duy nhất của Nhật Bản sở hữu vùng đặc quyền kinh tế biệt lập, không chồng lấn với bất kỳ đảo nào khác. Khoảng cách đường tròn lớn từ hòn đảo này đến đá ngầm Tuishi (thị trấn Yonaguni, tỉnh Okinawa)[a] là cung đường dài nhất giữa các vùng lãnh thổ do Nhật Bản quản lý, đạt khoảng 3.144 km.[b]
Tiếp cận
Hòn đảo này cấm dân thường ra vào, ngoại trừ nhân viên của Cục Khí tượng Nhật Bản. Phóng viên, nhà làm phim tài liệu và giới nghiên cứu khoa học đôi khi có thể được cấp phép đến đây. Hiện tại, không có các chuyến bay hay tuyến tàu thương mại nào đưa khách tới đảo nhằm mục đích tham quan, ngắm cảnh do Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đang sử dụng nơi này làm trạm quan sát.[3]
Địa lý và địa chất
Đảo Minami Tori-shima cực kỳ cô lập khi không có bất kỳ vùng đất nào khác xuất hiện trong phạm vi bán kính hơn 1.000 km.
Đảo nằm cách Tokyo khoảng 1.848 km về phía đông nam và cách đảo Nam Iwo Jima gần nhất 1.267 km về phía đông, nằm trên trục đường thẳng nối trung tâm Tokyo với đảo Wake. Vị trí có khoảng cách gần nhất với đảo này là đảo Đông thuộc quần đảo Mariana, cách chừng 1.015 km về hướng tây nam.
Đảo có hình tam giác với mặt cắt như chiếc đĩa, vành ngoài cao từ 5-9 m so với mực nước biển, trong khi vùng lõi trung tâm thấp hơn mực nước biển 1 m. Đảo được bao bọc bởi các rạn san hô viền rộng 50-300 m, ôm lấy một đầm phá nông kết nối với đại dương qua các eo biển hẹp ở phía nam và đông bắc. Bên ngoài rạn san hô, thềm đại dương dốc xuống rất nhanh với độ sâu hơn 1.000 m.
Với diện tích đất liền chỉ 1,51 km²,[2][5] du khách mất khoảng 45 phút để đi bộ hết một vòng đảo.[6] Vùng nước nông quanh đảo rất trong vắt, ban đêm bầu trời không bị ô nhiễm ánh sáng nên có thể nhìn rõ các vì sao.[3] Do không có đất đai thích hợp cho canh tác, lương thực chủ yếu phải vận chuyển bằng tàu và máy bay tiếp tế; các loại nông sản trồng được tại chỗ chỉ gồm đu đủ, cải bẹ xanh, dừa và kết hợp đánh bắt hải sản ngoài khơi.[3]
Đây là đảo duy nhất của Nhật Bản nằm ở phía đông rãnh Nhật Bản và thuộc mảng Thái Bình Dương.[7] Điểm tham chiếu điện tử cực đông của quốc gia đặt tại đây có giá trị lớn trong việc nghiên cứu chuyển động kiến tạo mảng và định hình Hệ tọa độ địa lý quốc tế.[8] Nghiên cứu công bố năm 2015 cho thấy hòn đảo đang dịch chuyển về phía tây bắc, với tốc độ tăng khoảng 10% (từ 8 cm/năm lên 8,8 cm/năm) kể từ sau trận động đất Đại Đông Nhật Bản năm 2011.[9]
Khí hậu
Đảo Minami Tori-shima thuộc đới khí hậu xavan nhiệt đới (Aw) theo hệ thống phân loại Köppen,[10] với thời tiết ấm đến nóng quanh năm và không có tuyết rơi. Nơi đây sở hữu nhiệt độ trung bình năm cao nhất Nhật Bản ở mức 25,8 °C (dao động từ 21,8 °C vào tháng 2 đến 28,5 °C vào tháng 7). Lượng mưa tại đảo tương đối thấp so với các vùng khác trong nước, tập trung nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8 và khô hạn nhất vào tháng 2, tháng 3. So với quần đảo Nansei nơi có mưa nhiều quanh năm thuộc kiểu rừng mưa nhiệt đới (Af) do gần đất liền, Minami Tori-shima nằm xa lục địa hơn nên có biên độ nhiệt năm nhỏ hơn, dù biên độ nhiệt ngày vẫn đạt khoảng 6,7 °C do ảnh hưởng từ luồng không khí lạnh Bắc Cực trong mùa đông.[11] Lịch sử quan trắc tại đảo ghi nhận nhiệt độ cực đoan từ 13,8 °C (ngày 10/2/1976) đến cao nhất là 35,6 °C (ngày 17/7/1951). Ngoài ra, hòn đảo này còn nắm giữ kỷ lục quốc gia về nhiệt độ cao nhất trong các tháng 11, 12 và tháng 1 tại hệ thống trạm khí tượng Nhật Bản, lần lượt là 34,2 °C (năm 1953), 31,6 °C (năm 1952) và 29,7 °C (năm 1954 và 2021).
| Dữ liệu khí hậu của Minami Tori-shima (Số liệu trung bình giai đoạn 1991−2020, kỷ lục từ năm 1951 đến nay) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 29.7 (85.5) |
29.0 (84.2) |
30.2 (86.4) |
31.9 (89.4) |
34.0 (93.2) |
35.0 (95.0) |
35.6 (96.1) |
34.7 (94.5) |
35.3 (95.5) |
33.5 (92.3) |
34.2 (93.6) |
31.6 (88.9) |
35.6 (96.1) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 24.6 (76.3) |
24.3 (75.7) |
25.3 (77.5) |
27.1 (80.8) |
29.0 (84.2) |
31.0 (87.8) |
31.3 (88.3) |
31.0 (87.8) |
30.9 (87.6) |
30.2 (86.4) |
28.7 (83.7) |
26.7 (80.1) |
28.3 (82.9) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 22.4 (72.3) |
21.8 (71.2) |
22.5 (72.5) |
24.3 (75.7) |
26.1 (79.0) |
28.0 (82.4) |
28.5 (83.3) |
28.4 (83.1) |
28.5 (83.3) |
27.9 (82.2) |
26.5 (79.7) |
24.5 (76.1) |
25.8 (78.4) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 20.3 (68.5) |
19.6 (67.3) |
20.4 (68.7) |
22.3 (72.1) |
24.1 (75.4) |
25.8 (78.4) |
26.1 (79.0) |
26.1 (79.0) |
26.4 (79.5) |
25.9 (78.6) |
24.7 (76.5) |
22.6 (72.7) |
23.7 (74.7) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | 13.9 (57.0) |
13.8 (56.8) |
14.2 (57.6) |
16.4 (61.5) |
19.1 (66.4) |
20.0 (68.0) |
21.6 (70.9) |
21.8 (71.2) |
21.7 (71.1) |
20.8 (69.4) |
19.2 (66.6) |
16.7 (62.1) |
13.8 (56.8) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 69.7 (2.74) |
43.4 (1.71) |
56.0 (2.20) |
59.6 (2.35) |
100.6 (3.96) |
44.3 (1.74) |
139.8 (5.50) |
177.1 (6.97) |
94.8 (3.73) |
89.6 (3.53) |
83.0 (3.27) |
90.8 (3.57) |
1.052,8 (41.45) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.5 mm) | 10.9 | 8.5 | 8.1 | 7.8 | 9.3 | 7.2 | 14.8 | 16.7 | 14.1 | 12.7 | 10.4 | 11.8 | 132.7 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 70 | 70 | 74 | 79 | 79 | 77 | 77 | 79 | 79 | 78 | 76 | 74 | 76 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 170.8 | 179.4 | 222.3 | 240.2 | 275.1 | 311.2 | 276.3 | 248.1 | 254.6 | 250.8 | 211.0 | 182.3 | 2.821,7 |
| Nguồn: Cục Khí tượng Nhật Bản[12] | |||||||||||||
Tài nguyên thiên nhiên
Vào tháng 1 năm 2026, tàu khoan khoa học biển sâu Chikyu thuộc Cơ quan Khoa học và Công nghệ Biển - Trái đất Nhật Bản (JAMSTEC) đã thử nghiệm khai thác bùn giàu đất hiếm từ độ sâu khoảng 6.000 m dưới đáy biển gần đảo. Đây là cuộc thử nghiệm đầu tiên trên thế giới ở độ sâu này, nằm trong khuôn khổ Chương trình Thúc đẩy Đổi mới Chiến lược của quốc gia này.[13]
Nhiệm vụ kéo dài đến ngày 14 tháng 2 năm 2026 với mục tiêu thu hồi khoảng 35 tấn bùn dưới đáy biển, ước tính mỗi tấn chứa 2 kg nguyên tố đất hiếm. Phó Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Masanao Ozaki mô tả kết quả thành công này là "thành tựu có ý nghĩa quan trọng từ góc độ an ninh kinh tế và phát triển đại dương toàn diện."[14]
Tờ Japan Times đưa tin mục tiêu công nghiệp hóa hoàn toàn quy trình này được ấn định vào năm 2028, đòi hỏi phải chứng minh được tính khả thi từ khâu khai thác đến tách và tinh chế.[15] Trong khi các tổ chức môi trường bày tỏ lo ngại về nguy cơ tổn hại đến hệ sinh thái biển sâu, chính phủ tuyên bố sẽ thu thập dữ liệu sinh thái xuyên suốt quá trình thử nghiệm.
Động vật hoang dã
Loài tắc kè Perochirus ateles thuộc họ Gekkonidae sinh sống trên đảo này. Tại Nhật Bản, chúng chỉ được tìm thấy ở Minami Tori-shima và phía nam đảo Iwo Jima. Dù có tên tiếng Nhật tiêu chuẩn gắn với Minami Tori-shima, đây không phải loài đặc hữu tại đây; người ta cho rằng chúng đã mở rộng vùng phân bố từ Micronesia bằng cách bám vào gỗ trôi dạt. Về động vật trên cạn, đảo có số lượng lớn ốc sên khổng lồ châu Phi (Achatina fulica), một loài ngoại lai xâm hại mang ký sinh trùng gây bệnh cho người. Loài thằn lằn bóng Torishima phía nam cũng từng hiện diện, nhưng đã không còn được tìm thấy kể từ năm 1952 và được coi là đã tuyệt diệt tại đây.[c] Hệ sinh thái biển xung quanh đảo rất phong phú với cá nhỏ ở vùng nước nông, cùng các loài như rắn biển, cá ngừ, cá mập và một số loài cá quý hiếm khác dưới đại dương.[3]
Lịch sử dân cư
Khoảng 200.000 năm trước, vào thế Pleistocene thuộc kỷ Đệ Tứ, nơi này đã nhô lên và hình thành đảo.
Minami Tori-shima được cho là được phát hiện lần đầu vào năm 1543 trong chuyến hải trình của Bernardo de la Torre thuộc hạm đội Tây Ban Nha.[16] Đến năm 1864, tàu truyền giáo Morning Star của Hawaii đã xác thực sự tồn tại của hòn đảo,[17] đây được coi là ghi chép được xác nhận đầu tiên.[18] Sau đó, tàu khảo sát Tuscarora của Mỹ vào năm 1874 và chiến hạm Éclaireur của Pháp vào năm 1880 đã lần lượt tới đo đạc vị trí nơi này.[18] Khoảng năm 1860, một nhà truyền giáo người Mỹ đã đặt tên cho đảo là Marcus.[17] Năm 1889, Albert Rosehill, thuyền trưởng tàu buôn Warren của Mỹ, đã đặt chân lên đảo và về sau nảy sinh tranh chấp với phía Nhật Bản.[17]
Năm 1885, các thủy thủ Nhật Bản đã đặt chân lên đảo khi tàu buồm "Nutt" của Anh bị mắc cạn tại đây.[17] Tiếp đó, vào năm 1886 (hoặc 1883),[18] một người Nhật tên là Shinozaki Tsunetaro cũng đổ bộ từ tàu "Etta" thuộc công ty Consirow của Anh.[19] Ngoài ra, Saito Seizaemon đến từ tỉnh Shizuoka tuyên bố từng nhìn thấy hòn đảo này vào năm 1879 và đã lên đảo vào năm 1893.[19]
Vào ngày 3 tháng 12 năm 1896, Mizutani Shinroku phát hiện ra đảo Minami Tori-shima và bắt đầu hoạt động săn hải âu tại đây.[19] Năm sau, ông nộp báo cáo về việc tìm thấy hòn đảo này. Đến ngày 24 tháng 7 năm 1898, theo Thông báo số 58 của chính quyền Tokyo, hòn đảo chính thức được sáp nhập vào lãnh thổ Nhật Bản với tên gọi Minami Tori-shima,[20] đặt dưới sự quản lý của Văn phòng Quần đảo Ogasawara.[21] Dù xảy ra tranh chấp quyền thuê đảo giữa Mizutani và Saito Seizaemon, quyền khai thác Minami Tori-shima trong thời hạn 10 năm sau đó vẫn được giao cho Mizutani.[22]
Năm 1902 (Minh Trị thứ 35), một người Mỹ tên là Andrew Ambrose Rosehill đã cố gắng khai thác và tuyên bố chủ quyền hòn đảo này cho Hoa Kỳ. Phát hiện sự việc, Đế quốc Nhật Bản lập tức phái tàu chiến Kasagi đến đổ bộ trước để ngăn chặn, dẫn đến Sự kiện Minami Tori-shima.[23] Trong quá trình đó, một kỹ sư địa chất trên tàu Takachiho đã thu thập, phân tích mẫu đất tại đây và phát hiện hàm lượng phốt phát đạt khoảng 30%. Kết quả này khiến đảo Minami Tori-shima nhanh chóng được chú ý như một nguồn cung cấp quặng phốt phát nội địa.[23]
Tháng 2 năm 1903 (Minh Trị thứ 36), Mizutani nộp đơn xin khai thác phân chim lên chính quyền Tokyo và được phê duyệt vào tháng 3 cùng năm,[23] mở đầu cho hoạt động khai thác phân chim quy mô lớn tại đây. Ở thời kỳ đỉnh cao, khoảng 60 - 70 công nhân tham gia thu hoạch đến 1.000 tấn phân mỗi năm từ khu vực trung tâm đảo,[23] sau đó dùng xe đẩy vận chuyển ra bờ biển để lên tàu chở hàng về tiêu thụ tại "Cơ quan Phân bón Quốc gia" ở Tokyo.[23] Đến đầu thời Đại Chính, sản lượng đạt khoảng 600 tấn một năm. Cũng trong giai đoạn này, quyền điều hành dự án tại Minami Tori-shima đã được chuyển giao từ Mizutani sang "Công ty TNHH Minamitorishima".[23]
Năm 1922 (Đại Chính thứ 11), quyền khai thác phân chim được chuyển giao cho Công ty TNHH Phân bón Zenkoku.[23] Hoạt động này tiếp diễn thêm một thời gian, nhưng do suy thoái kinh tế khiến giá phân bón sụt giảm mạnh, cộng với nguồn tài nguyên dần cạn kiệt, việc kinh doanh phải chấm dứt vào đầu thời kỳ Chiêu Hòa. Sau đó, doanh nghiệp và các công nhân đã rút khỏi đảo Minami Tori-shima.
Vào đầu thời kỳ Chiêu Hòa, ghi nhận có một số hộ gia đình ngư dân từng sinh sống tại đây.
Năm 1928 (Chiêu Hòa thứ 3), nơi này có 19 hộ gia đình với tổng cộng 30 người (21 nam và 9 nữ).[24]
Năm 1935 (Chiêu Hòa thứ 10), hộ gia đình cuối cùng rời đi khiến hòn đảo hoàn toàn vắng bóng cư dân.[25] Cũng trong năm này, Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã thiết lập một trạm khí tượng tại đây.
Ngày 4 tháng 3 năm 1942 (Chiêu Hòa thứ 17), trong Chiến tranh Thái Bình Dương, Minami Tori-shima trở thành hòn đảo đầu tiên thuộc thủ đô Tokyo bị Lực lượng Đặc nhiệm 16 của Hải quân Hoa Kỳ, do Phó Đô đốc William Halsey chỉ huy (soái hạm là tàu sân bay USS Enterprise), oanh tạc. Đây cũng là cuộc không kích diễn ra trước chiến dịch Doolittle đánh vào chính quốc Nhật Bản vào tháng 4 cùng năm. Sau đó, hòn đảo này còn gánh chịu nhiều đợt ném bom khác, bao gồm cả trận tập kích ngày 31 tháng 8 năm 1943 (Chiêu Hòa thứ 18).
Ngày 1 tháng 7 năm 1943 (Chiêu Hòa thứ 18), thành lập chính quyền thành phố Tokyo và bãi bỏ tỉnh Tokyo.
Năm 1945 (Chiêu Hòa thứ 20), lực lượng Đồng minh do Mỹ dẫn đầu đã chiếm đóng nơi này. Vào ngày 31 tháng 8 cùng năm, lực lượng đồn trú tại Minami Tori-shima ký văn kiện đầu hàng. Tính đến khi chiến tranh kết thúc, khoảng 190 binh sĩ đã tử trận; 1.934 quân nhân Lục quân và 622 quân nhân Hải quân sống sót đã hồi hương về cảng Uraga vào ngày 16 tháng 9.[26]
Ngày 26 tháng 1 năm 1946 (Chiêu Hòa thứ 21), Bộ Tổng tư lệnh tối cao lực lượng Đồng Minh ban hành chỉ thị SCAPIN-677, đình chỉ quyền quản lý của Nhật Bản đối với đảo Minami Tori-shima.
Năm 1947 (Chiêu Hòa thứ 22), hòn đảo trở nên hoang vắng sau khi lực lượng Mỹ rút lui do những thiệt hại nặng nề từ trận thiên tai sóng thần do bão gây ra.[18]
Năm 1951 (Chiêu Hòa thứ 26), được sự ủy nhiệm từ chính phủ liên bang Hoa Kỳ, Cục Khí tượng Nhật Bản bắt đầu triển khai hoạt động quan sát thời tiết trên đảo Minami Tori-shima.[18]
Năm 1952 (Chiêu Hòa thứ 27), Hiệp ước Hòa bình San Francisco chính thức đặt vùng đất này dưới quyền quản lý của Mỹ.
Năm 1953 (Chiêu Hòa thứ 28), tàu Nippon Maru đã cập cảng trong chuyến thực hiện nhiệm vụ quy tập hài cốt của những người tử trận.[27]
Năm 1963 (Chiêu Hòa thứ 38), trạm LORAN-C Minami Tori-shima được hoàn thành. Sau đó, Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ đến đồn trú tại đảo, còn các nhân viên thuộc Cục Khí tượng Nhật Bản thì rút lui.[18]
Ngày 26 tháng 6 năm 1968 (Chiêu Hòa thứ 43), hòn đảo được Hoa Kỳ trao trả và sáp nhập vào làng Ogasawara thuộc thủ đô Tokyo. Đồng thời, Đội Không quân Minami Tori-shima thuộc Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản cũng chính thức được thành lập.
Năm 1993 (Bình Thành thứ 5), Tuần duyên Hoa Kỳ rút khỏi trạm LORAN-C trên đảo Minami Tori-shima và bàn giao lại quyền quản lý cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản.
Ngày 10 tháng 12 năm 2002 (Bình Thành thứ 14), Viện Khảo sát Địa lý Nhật Bản đã thiết lập một trạm định vị vệ tinh cố định tại đây, chính thức xác lập vị trí cực đông của quốc gia này.[7]
Ngày 1 tháng 9 năm 2006 (Bình Thành thứ 18), trước sự áp sát của cơn bão số 12, toàn bộ nhân sự tại trạm khí tượng đã phải tạm thời sơ tán khỏi đảo.
Ngày 1 tháng 11 năm 2009 (Bình Thành thứ 21), đảo này được Bộ Môi trường Nhật Bản công nhận là khu bảo tồn động vật hoang dã.
Ngày 18 tháng 5 năm 2010 (Bình Thành thứ 22), Hạ viện Nhật Bản đã nhất trí thông qua dự luật về bảo tồn đường thủy triều thấp và phát triển hạ tầng nhằm bảo vệ các đảo xa bờ như Minami Tori-shima. Đến ngày 26 tháng 5, Thượng viện tiếp tục thông qua và ban hành đạo luật này, chính thức có hiệu lực từ ngày 24 tháng 6, ngoại trừ một số điều khoản riêng biệt.
Ngày 31 tháng 3 năm 2011 (Bình Thành thứ 23), công trình văn phòng tạm thời thuộc Ban Quản lý và Bảo tồn Cảng Minami Tori-shima chính thức hoàn thành.
Ngày 28 tháng 6 năm 2012, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Tokyo phát hiện các nguyên tố đất hiếm tại đáy biển gần đảo Minami Tori-shima.[28] Đến tháng 3 năm sau, họ tiếp tục xác định được một phần của mỏ này sở hữu trữ lượng đất hiếm với hàm lượng cô đặc cao.[29]
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quỹ Nippon và Đại học Tokyo thông báo đã xác định được một khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) quanh đảo Minami Tori-shima của Nhật Bản, nơi các khối mangan phân bố với mật độ dày đặc ở độ sâu hơn 5.000 m.[30]
Lịch sử
Những ghi nhận đầu tiên
Việc phát hiện và ghi nhận đầu tiên về một hòn đảo trong khu vực này do Andrés de Arriola, thuyền trưởng một tàu galleon Manila người Tây Ban Nha, thực hiện vào năm 1694.[31] Hòn đảo sau đó được vẽ trên bản đồ Tây Ban Nha với tên Sebastián López, nhằm vinh danh vị Đô đốc từng chiến thắng người Hà Lan trong các trận hải chiến La Naval de Manila năm 1646. Dù vậy, vị trí chính xác của đảo vẫn chưa được xác định cho đến khi có thêm các ghi chép thực địa vào thế kỷ 19.
Thuyền trưởng Bourn Russell (1794–1880) cùng tàu Lady Rowena rời Sydney, bang New South Wales ngày 2 tháng 11 năm 1830 để thực hiện chuyến săn cá voi tại Thái Bình Dương. Khi trở về vào ngày 27 tháng 6 năm 1832, ông báo cáo về một hòn đảo chưa từng xuất hiện trên hải đồ và đặt tên là "Đảo William Đệ Tứ". Tờ Sydney Herald sau đó đã đăng tải những mô tả của Russell về kích thước, hình dạng cũng như phương hướng của hòn đảo cùng rạn san hô quanh nó, nhưng lại viết sai tên ông và xác định nhầm vị trí hòn đảo sang vĩ độ thuộc Nam bán cầu.[32]
Ngày 16 tháng 12 năm 1864, Thuyền trưởng Charles Gelett thuộc tàu truyền giáo Morning Star (Hiệp hội Tin Lành Hawaii) đã tái phát hiện hòn đảo này và đặt tên là "Đảo Weeks". Vị trí của đảo được một tàu khảo sát Hoa Kỳ ghi nhận lại vào năm 1874, trước khi Kiozaemon Saito trở thành công dân Nhật Bản đầu tiên nhìn thấy nơi đây vào năm 1879.[33][34][35]
Quá trình thuộc địa hóa và tranh chấp chủ quyền
Vào ngày 30 tháng 6 năm 1886, nhà thám hiểm Nhật Bản Mizutani Shinroku đã dẫn đầu đoàn gồm 46 người từ đảo Haha-jima thuộc quần đảo Ogasawara đến định cư tại đảo Marcus. Khu dân cư này sau đó được đặt tên là "Mizutani" theo họ của ông. Đến ngày 24 tháng 7 năm 1898,[36] Đế quốc Nhật Bản chính thức sáp nhập đảo, bỏ qua yêu sách trước đó của Hoa Kỳ vào năm 1889 theo Đạo luật Đảo Phân chim. Hòn đảo được định danh là "Minamitorishima" và đặt dưới sự quản lý hành chính của Tiểu khu Ogasawara thuộc tỉnh Tokyo.
Trước Thế chiến I, chủ quyền đối với hòn đảo này vẫn chưa rõ ràng khi nhiều tài liệu đương thời ghi nhận quyền sở hữu thay đổi từ Mỹ sang Nhật Bản mà không giải thích lý do. Năm 1902, Hoa Kỳ từng cử một tàu chiến từ Hawaii đến để khẳng định chủ quyền, nhưng đã rút lui sau khi ghi nhận hòn đảo vẫn có cư dân Nhật Bản sinh sống và một tàu chiến của quốc gia này đang tuần tra gần đó.
Năm 1914, William D. Boyce đã đưa đảo Marcus vào danh sách các vùng lãnh thổ thuộc Mỹ trong cuốn sách "Các thuộc địa và lãnh thổ phụ thuộc của Hoa Kỳ". Đến năm 1933, theo sắc lệnh từ chính phủ Nhật Bản, toàn bộ cư dân dân sự trên đảo Minami Tori-shima được sơ tán. Sau đó vào năm 1935, Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã thành lập một trạm khí tượng và tiến hành xây dựng đường băng tại đây.
Thế chiến II
Sau khi Thế chiến II bùng nổ, lực lượng Nhật Bản đồn trú trên đảo gồm Đội Vệ binh Minami Tori-shima với 742 binh sĩ do Chuẩn đô đốc Matsubara Masata chỉ huy, cùng Trung đoàn Hỗn hợp Độc lập số 12 thuộc Lục quân Đế quốc Nhật Bản quy mô 2.005 người dưới quyền Đại tá Sakata Yoshiichi.[37] Dù bị Hải quân Hoa Kỳ oanh tạc nhiều lần vào các năm 1942 và 1943,[38][39] hòn đảo này chưa từng bị tấn công đánh chiếm. Địa danh này cũng từng xuất hiện trong bộ phim tài liệu "The Fighting Lady" của Mỹ sản xuất năm 1944.
Trong Thế chiến II, Nhật Bản đã tiếp tế cho lực lượng đồn trú bằng tàu ngầm thông qua một con kênh đào xuyên qua rạn san hô ở phía tây bắc đảo, dấu tích hiện vẫn có thể nhìn thấy. Dù hứng chịu nhiều cuộc không kích từ phía Mỹ, hòn đảo chỉ chính thức đầu hàng khi tàu khu trục USS Bagley tiến vào ngày 31 tháng 8 năm 1945.[40]
Thời kỳ Mỹ quản lý
Theo Hiệp ước San Francisco, hòn đảo được chuyển giao cho phía Mỹ kiểm soát vào năm 1952.[d] Đến năm 1968, quyền quản lý đảo được hoàn trả cho Nhật Bản, tuy nhiên Hoa Kỳ vẫn giữ quyền điều hành đường băng và trạm định vị LORAN-C tại đây.
Năm 1964, sau những trì hoãn do các cơn bão tàn phá hòn đảo trong quá trình thi công, Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ đã khánh thành trạm định vị LORAN-C trên đảo Minami Tori-shima. Cho đến năm 1985, cột ăng-ten của cơ sở này là một trong những công trình cao nhất khu vực Thái Bình Dương với chiều cao 411 m. Trước khi thay thế hệ thống Loran-A trong định vị hàng hải nói chung, Loran-C từng phục vụ cho các hệ thống tên lửa Polaris phóng từ tàu ngầm; do đó sự hiện diện cùng vị trí của các trạm này đều được giữ kín.
Trạm LORAN Marcus Island là nơi đồn trú của 23 binh sĩ thuộc Lực lượng Phòng vệ Bờ biển Hoa Kỳ. Sĩ quan chỉ huy đầu tiên khi cơ sở này đi vào hoạt động là Trung tá Louis C. Snell. Ngoài ra, một phân đội công binh hải quân (Seabees) cũng lưu trú tại đây vài tháng để tiến hành sửa chữa đường băng trên đảo.
Các binh sĩ Lực lượng Bảo vệ Bờ biển đóng quân trên đảo thực hiện nhiệm vụ theo từng đợt kéo dài một năm, trong đó họ được bố trí về đất liền Nhật Bản nghỉ ngơi sau 6 tháng công tác. Kết thúc chuyến biệt phái cô lập này, mỗi thành viên được hưởng thêm 30 ngày nghỉ bù.
Trong thời gian chịu sự quản lý của Mỹ, hòn đảo được tiếp tế hoàn toàn bằng đường hàng không. Trong Kháng chiến chống Mỹ, các chuyến bay hậu cần hằng tuần do máy bay DC-6 của hãng Air America (thuộc CIA) đảm nhiệm. Sau đó, nhiệm vụ này được chuyển giao cho phi cơ C-130 Hercules thuộc Phi đội Vận tải Chiến thuật 345 từ Căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản vào mỗi thứ Năm. Lực lượng tuần duyên tại đây thường tự giải trí bằng cách giơ cao những tấm biển sơn số lớn để chấm điểm cho mỗi lần máy bay hạ cánh.
Lịch trình được sắp xếp với khoảng thời gian chờ trên mặt đất kéo dài tới 4 tiếng nhằm tạo điều kiện cho các kỹ thuật viên hàng không bảo trì máy phát tín hiệu, đồng thời rút bớt nhiên liệu từ chiếc C-130 để chạy máy phát điện trên đảo. Khoảng lặng này giúp các nhân viên Tuần duyên có thời gian đọc, trả lời thư từ, trong khi phi hành đoàn tranh thủ lặn biển và thu lượm những chiếc phao lưới thủy tinh màu xanh trôi dạt vào bờ.
Khôi phục chính quyền Nhật Bản
Trạm trên đảo Marcus được Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ bàn giao cho Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản vào tháng 9 năm 1993, trước khi chính thức giải thể vào tháng 12 năm 2009.
Hòn đảo này chủ yếu phục vụ công tác quan sát thời tiết và vận hành một trạm phát thanh. Lực lượng đồn trú thuộc Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản được tiếp tế hằng tuần bằng máy bay C-130 xuất phát từ các căn cứ không quân Iruma, Atsugi hoặc sân bay Haneda, với lộ trình bay qua đảo Iwo Jima. Do đường băng tại sân bay Minami Torishima chỉ dài 1.300 m nên nơi này không thể tiếp nhận các dòng máy bay cỡ lớn.
Mỏ đất hiếm khu vực Minami Tori-shima
Sau khi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu oxit đất hiếm chiến lược vào năm 2009, Nhật Bản đã tiến hành thăm dò vùng đáy biển thuộc chủ quyền để tìm kiếm các mỏ khoáng sản này.[41]
Ngày 28 tháng 6 năm 2012, nhóm nghiên cứu do Giáo sư Yasuhiro Kato thuộc Đại học Tokyo dẫn đầu công bố phát hiện các nguyên tố đất hiếm ở độ sâu 5.600 m dưới đáy biển gần khu vực này, với trữ lượng ước tính tương đương mức tiêu thụ của Nhật Bản trong 230 năm. Riêng lượng bùn đáy biển ngoài khơi đảo Minami Tori-shima thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Nhật ước tính chứa lượng dysprosium đủ dùng trong nước khoảng 400 năm, một loại đất hiếm đặc biệt dùng cho động cơ điện của xe hybrid (HV).[42] Vì vậy, họ đặt mục tiêu phối hợp với Công ty Phát triển Đại dương Mitsui nhằm phát triển công nghệ khai thác bùn từ đáy biển sâu.[43]
Tháng 1 năm 2013, tàu nghiên cứu biển sâu của Cơ quan Khoa học và Công nghệ Biển - Trái đất Nhật Bản đã thu thập 7 mẫu lõi bùn tại đáy biển sâu từ 5.600 đến 5.800 m, cách đảo khoảng 250 km về phía nam.[44] Nhóm nghiên cứu phát hiện lớp bùn nằm sâu 2 đến 4 m dưới đáy biển sở hữu nồng độ oxit đất hiếm (REO) cực cao. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng REO tối đa đạt tới 0,66%.[45][46]
Ngày 21 tháng 3 năm 2013, nhóm nghiên cứu thuộc Cơ quan Khoa học và Công nghệ Biển - Trái đất Nhật Bản (JAMSTEC) cùng Đại học Tokyo công bố phát hiện lớp bùn đen dưới đáy biển sâu chứa hàm lượng đất hiếm cao gấp 30 lần các mỏ tại Trung Quốc. Giáo sư Yasuhiro Kato từ Đại học Tokyo nhận định trữ lượng này có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng trong hơn 230 năm, thậm chí là vài thế kỷ. Đáng chú ý, loại bùn này không chứa thorium phóng xạ, một tạp chất thường gặp và gây nhiều trở ngại trong các mỏ đất hiếm trên đất liền.
Trung Quốc, quốc gia xuất khẩu đất hiếm lớn nhất thế giới, cho rằng các báo cáo năm 2013 của Nhật Bản về nguồn khoáng sản này tại khu vực "có thể nhằm mục đích kích động và kiềm chế".[47] Ông Shigeo Nakamura, Chủ tịch Công ty Advanced Material Japan, nhận định việc khai thác đất hiếm ở Minami Tori-shima thiếu tính hiệu quả kinh tế và loạt thông tin trên có khả năng chỉ mang tính chất răn đe.[48]
Trong 3 năm kể từ 2013, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đã khảo sát, đánh giá trữ lượng đất hiếm tại vùng đặc quyền kinh tế quanh đảo Minami Tori-shima, đồng thời nghiên cứu phát triển công nghệ nhằm tiến tới khai thác thương mại.[49]
Năm 2018, một nghiên cứu khoa học về bùn đáy biển ước tính khu vực khảo sát chứa hơn 16 triệu tấn trầm tích khoáng hóa REO. Trữ lượng các nguyên tố đất hiếm và yttrium tại đây được tính toán đạt trên 16 triệu tấn với hàm lượng trung bình khoảng 964 ppm.[50][51]
Tháng 7 năm 2020, JOGMEC tiến hành đợt khoan thử nghiệm lớp vỏ giàu coban đầu tiên trên thế giới ở độ sâu khoảng 930 m thuộc vùng đặc quyền kinh tế phía nam đảo Minami Tori-shima, thu về 649 kg mẫu vật. Đỉnh bằng phẳng của núi ngầm Takuyo số 5, nơi diễn ra cuộc thử nghiệm, được dự báo chứa lượng coban đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa của Nhật Bản trong 88 năm và niken trong khoảng 12 năm.[52]
Tháng 11 năm 2022, trước các rủi ro địa chính trị gia tăng cùng yêu cầu đảm bảo an ninh kinh tế, một kế hoạch đã được công bố nhằm đưa chi phí khai thác khoáng sản vào ngân sách bổ sung lần hai của năm tài chính 2022. Động thái này hướng tới việc phát triển công nghệ khai thác từ năm tài chính 2023 và tiến hành khoan thăm dò trong vòng 5 năm tiếp theo.
Vào tháng 2 năm 2026, chính phủ Nhật Bản đã công bố kế hoạch khai thác bùn trầm tích chứa khoáng sản đất hiếm ở độ sâu 6.000 m dưới mực nước biển ngoài khơi hòn đảo này.[53]
Hạ tầng và mạng lưới giao thông trên đảo
Cơ sở hạ tầng
Đảo không có dân cư sinh sống thường trú, lực lượng đồn trú tại đây được luân chuyển định kỳ bao gồm khoảng 10 quân nhân thuộc Đội Không quân Minami Tori-shima (Đơn vị Căn cứ Không quân Iwo Jima, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản), 10 nhân viên của Đài quan sát khí tượng sở tại và 3 nhân sự thuộc Văn phòng Quản lý Cảng Minami Tori-shima.[2][54] Nơi đây sở hữu một căn cứ không quân và đóng vai trò như một trạm quan sát thời tiết. Tại đảo có trạm phát thanh nghiệp dư JD1YAA do Cục Khí tượng Nhật Bản vận hành, bên cạnh các trạm cá nhân phục vụ khách đến công tác.[55] Trước đây, Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản cũng từng duy trì một trạm phát thanh nghiệp dư mang số hiệu JD1YBJ tại khu vực này.
Hòn đảo sở hữu một đường băng dài 1.370 m phục vụ giao thông và tiếp tế, chạy dọc theo một cạnh bờ biển.[2] Do các rạn san hô nông xung quanh khiến tàu lớn không thể cập bến tàu phía nam, các phương tiện này phải neo đậu ngoài khơi rồi trung chuyển hàng hóa vào bờ bằng thuyền nhỏ.[56] Để khắc phục, dự án xây dựng bến cảng và cầu tàu đã được triển khai từ năm 2010 và hoàn thành vào năm 2022.[57]
Do hòn đảo được phòng thủ kiên cố để chuẩn bị đối phó với cuộc đổ bộ đường biển trong Thế chiến II, tàn tích xe tăng và pháo binh thời kỳ này hiện vẫn còn lưu lại. Dù hứng chịu các đợt không kích từ quân đội Mỹ, nơi đây đã không diễn ra trận đánh hay cuộc đổ bộ nào. Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ từng vận hành một trạm định vị vô tuyến LORAN-C tại đây. Đến năm 1993, Trung tâm LORAN Chiba thuộc Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản đã tiếp quản quyền khai thác và phát xung định vị qua cột ăng-ten cao 213 m với công suất 1,8 MW. Trạm này đã ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 12 năm 2009 do lượng tàu thuyền sử dụng công nghệ LORAN sụt giảm mạnh trước sự phổ biến của hệ thống GPS.[58]
Giao thông
Để phục vụ việc luân chuyển nhân sự, định kỳ máy bay C-130H của Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản sẽ đến đảo mỗi tháng một lần, còn máy bay C-130R của Lực lượng Phòng vệ Biển bay đến mỗi tuần một lần qua ngả Iwo Jima để tiếp tế nhu yếu phẩm và hàng hóa. Đôi khi, các dòng máy bay US-2 và C-1 cũng được huy động cho nhiệm vụ này. Do Bưu chính Nhật Bản xếp nơi đây vào "khu vực khó tiếp cận",[59] thư từ sẽ không được phát tới đảo ngay cả khi ghi đúng địa chỉ Minami Tori-shima và mã bưu chính "100-2100".[60] Quy định này cũng áp dụng cho mọi dịch vụ chuyển phát nhanh tư nhân, khiến việc gửi nhận bưu kiện qua các phương thức trên là bất khả thi.
Chuyến bay thẳng bằng vận tải cơ C-130 từ Căn cứ không quân Iruma của Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản ước tính mất khoảng 3,5 giờ.[61]
Máy bay YS-11M, từng được Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản vận hành đến năm 2014, mất khoảng 7 giờ để bay từ căn cứ Atsugi qua đảo Iwo Jima. Do đây là vùng đảo biệt lập giữa đại dương, không có sân bay dự phòng lân cận để hạ cánh khẩn cấp và có nguy cơ cạn nhiên liệu khi quay về nếu gặp sự cố không thể đáp xuống, các chuyến bay chỉ được tiến hành khi bảo đảm chắc chắn khả năng hạ cánh an toàn.[62]
Nhà văn Natsuki Ikezawa từng bày tỏ nguyện vọng được đặt chân đến Minami Tori-shima. Sau chuyến đi bằng tàu tiếp tế và lưu lại đảo trong một ngày, ông đã thuật lại trải nghiệm của mình qua cuốn sách mang tên "Tuyến đường đặc biệt đến Minami Tori-shima".
Truyền thông
Trước đây, liên lạc tại đây chỉ phụ thuộc vào thư từ hoặc điện thoại công cộng. Đến năm 2019, nhằm phục vụ việc truyền phát dữ liệu thời tiết, Cục Khí tượng Nhật Bản đã nâng cấp hạ tầng, giúp sóng di động của hãng SoftBank có thể phủ tới đảo. Dù vậy, do kết nối qua vệ tinh nên đường truyền này bị giới hạn về thời gian sử dụng.[63] Nơi này cũng không có mạng internet cố định mà phải dùng mạng di động hoặc điện thoại vệ tinh. Đối với truyền hình, đảo không bắt được sóng mặt đất mà chỉ xem được các kênh vệ tinh BS. Do điều kiện sinh hoạt như trên, nhiều nhân viên thường mua số lượng lớn đĩa DVD để giải trí trong thời gian nghỉ ngơi.[64][65]
Ghi chú
- ^ 与那国島の附属岩。与那国島西崎との距離のほうが僅かに短いが、こちらとの距離も約3,144 kmである。
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có têngeodesic - ^ 日本国内ではその後1982年の調査で南硫黄島に生息が認められている。
- ^ Article 3 of the Treaty of San Francisco: "Japan will concur in any proposal of the United States to the United Nations to place under its trusteeship system, with the United States as the sole administering authority, Nansei Shoto south of 29° north latitude (including the Ryukyu Islands and the Daito Islands), Nanpo Shoto south of Sofu Gan (including the Bonin Islands, Rosario Island and the Volcano Islands) and Parece Vela and Marcus Island. Pending the making of such a proposal and affirmative action thereon, the United States will have the right to exercise all and any powers of administration, legislation, and jurisdiction over the territory and inhabitants of these islands, including their territorial waters."
Tài liệu tham khảo
- ^ "Japan Climate Index". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2015.
- ^ a b c d 国土交通省 南鳥島の概要 [Overview of Minamitorishima. Ministry of Land, Infrastructure, Transport, and Tourism] (PDF). Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "gaiyou" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ a b c d e "Minamitorishima is the easternmost point in Japan. A large survey of the solitary islands of the sea!". TravelBook. Tokyo / Ogasawara Islands. Travelbook.co.jp. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 8 2019. Truy cập 17 tháng 8 2019.
- ^ "アジア歴史資料センター". www.jacar.go.jp (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|url-status-date=(trợ giúp) - ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênarea - ^ "塚本崎から北方約350 mの標高点". 地理院地図. 国土地理院. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2024.
- ^ a b "南鳥島に電子基準点設置" (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Nhật). 国土地理院. ngày 19 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Frame Definition". ITRF web site. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Đã định rõ hơn một tham số trong|work=và|website=(trợ giúp) - ^ "南鳥島、西への移動加速 震災後年8.8センチメートルに". 日経新聞. ngày 15 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ "南鳥島 | 小笠原村公式サイト" (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2023.
- ^ "Japan". climate-charts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2009.
- ^ 気象庁 / 平年値(年・月ごとの値). Cục Khí tượng Nhật Bản. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Japan deep-sea hunt finds rare earths as it seeks to cut reliance on China". Al Jazeera. ngày 2 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ^ "Japan steps up deep-sea mining plan to cut rare-earth dependence". The Japan Times. ngày 12 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ^ "Japan steps up deep-sea mining plan to cut rare-earth dependence". The Japan Times. ngày 12 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ^ アホウドリと「帝国」日本の拡大、35ページ、歴史 | 小笠原村公式サイト
- ^ a b c d アホウドリと「帝国」日本の拡大、36ページ
- ^ a b c d e f 歴史 | 小笠原村公式サイト
- ^ a b c アホウドリと「帝国」日本の拡大、37ページ
- ^ アホウドリと「帝国」日本の拡大、37-39ページ
- ^ アホウドリと「帝国」日本の拡大、39ページ
- ^ アホウドリと「帝国」日本の拡大、39-40ページ、歴史 | 小笠原村公式サイト
- ^ a b c d e f g 平岡昭利 (tháng 9 năm 2003). "南鳥島の領有と経営 ーアホウドリから鳥糞,リン鉱採取ヘー" (PDF). 歴史地理学. 45 (4): 5–7.
{{Chú thích tập san học thuật}}:|ref=harvkhông hợp lệ (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 東京府統計書 昭和3年. 東京府. 1930. tr. 80.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 東京府統計書 昭和15年 第1編 土地、人口、其他. 東京府. tr. 45.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 日置英剛 (ngày 31 tháng 10 năm 2005). 年表 太平洋戦争全史. 国書刊行会. tr. 748. ISBN 978-4-336-04719-9.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp)Quản lý CS1: năm (liên kết) - ^ 世相風俗観察会 (tháng 3 năm 2009). 現代世相風俗史年表:1945-2008. 河出書房新社. tr. 54. ISBN 9784309225043.
{{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 南鳥島でレアアース発見 日本は資源大国になれるのか ジェイ・キャスト
- ^ 南鳥島のレアアース、一部で中国の約20倍 日テレNEWS24
- ^ "南鳥島沖に眠る 2億トンのマンガン団塊 - 日経サイエンス". www.nikkei-science.com (bằng tiếng Nhật). 日経サイエンス. ngày 20 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2024.
- ^ Welsch (2001).
- ^ "[no title cited]". The Sydney Herald. NSW. ngày 16 tháng 7 năm 1832. tr. 2B.
- ^ The Nautical Magazine and Naval Chronicle for 1868. Cambridge University Press. 2013. tr. 458. ISBN 9781108054881. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
- ^ Hiraoka, Akitoshi (2012). Japanese Advance into the Pacific Ocean: The Albatross and the Great Bird Rush. Singapore: Springer Nature. tr. 16. ISBN 9789811051401. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
- ^ Stommel, Henry (ngày 21 tháng 6 năm 2017). Lost Islands: The Story of Islands That Have Vanished from Nautical Charts. Mineola, NY: Dover Publications. tr. 62. ISBN 9780486784670.
- ^ Kuroda (1954) p. 87
- ^ Takizawa, Akira; Alsleben, Allan (1999–2000). "Japanese garrisons on the by-passed Pacific Islands 1944-1945". Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941-1942. Lưu trữ bản gốc 6 tháng 1 2016.
- ^ "The Raids on Wake and Marcus Islands". Early Raids in the Pacific Ocean. Office of Naval Intelligence. USN Combat Narrative series. United States Navy. 1943.
- ^ Paramount Battles Involving Essex Class Carriers. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 5 2008.
- ^ "Surrender at Marcus Island". ngày 30 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 8 2019. Truy cập 5 tháng 8 2019.
- ^ Jamasmie, Cecilia (ngày 25 tháng 3 năm 2013). "Japan's massive rare earth discovery threatens China's supremacy". Mining.com. Truy cập 16 tháng 4 2018.
- ^ 加藤泰浩 (tháng 10 năm 2012). "太平洋で発見されたレアアース泥の特長と開発可能性" (PDF). 建設の施工企画. 日本建設機械施工協会: 63. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2024.
今年2012年6月28日,我々は日本のEEZ内である南鳥島周辺海域にレアアース泥の存在を確認し,その研究結果を公表した。(中略) そこでは,海底面下 10 m 以深に 10 m 程度の層厚でレアアース泥が分布していることが確認されており,Site800周辺の1,000 km2の海域だけで,日本の国内消費量の約230 年分にあたる約680 万トンのレアアースが存在すると推定される。 これから需要が特に逼迫すると懸念される重レアアースのジスプロシウムは約400 年分、テルビウムに至っては約4,600年分の資源量である。
{{Chú thích tập san học thuật}}: line feed character trong|quote=tại ký tự số 65 (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ "南鳥島近海にレアアース-東大・三井海洋開発、国産化にらみ技術開発". 日刊工業新聞. ngày 2 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Seabed offers brighter hope in rare-earth hunt". Nikkei Asian Review. Nikkei Inc. ngày 25 tháng 11 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- ^ "Discovery of rare earths around Minami-Torishima". UTokyo Research. University of Tokyo. ngày 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập 11 tháng 12 2016.
- ^ Zhi Li, Ling; Yang, Xiaosheng (ngày 4 tháng 9 năm 2014). China's rare earth ore deposits and beneficiation techniques (PDF). 1st European Rare Earth Resources Conference. Milos, Greece: European Commission for the 'Development of a sustainable exploitation scheme for Europe's Rare Earth ore deposits'. Truy cập 11 tháng 12 2016.
- ^ 及川源十郎, biên tập (ngày 10 tháng 4 năm 2013). "南鳥島のレアアース発見報道は「わが国を煽り、牽制のため」=中国". サーチナ. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 中村繁夫「 南鳥島レアアース開発は30年かけても難しい」
- ^ 資源エネルギー庁 エネルギー白書2016 第4節 石油・天然ガス等国産資源の開発の促進
- ^ Takaya, Yutaro; Yasukawa, Kazutaka; Kawasaki, Takehiro; Fujinaga, Koichiro; Ohta, Junichiro; Usui, Yoichi; và đồng nghiệp (2018). "The tremendous potential of deepsea mud as a source of rare-earth elements". Scientific Reports. 8 (1): 5763. Bibcode:2018NatSR...8.5763T. doi:10.1038/s41598-018-23948-5. PMC 5893572. PMID 29636486.
- ^ Palin, Megan (ngày 18 tháng 4 năm 2018). "'Game changer': Discovery on tiny island could alter global economy". news.com.au. Truy cập 16 tháng 9 2019.
- ^ "世界初、コバルトリッチクラストの掘削試験に成功~海底に存在するコバルト・ニッケルの資源化を促進~". JOGMEC. ngày 21 tháng 8 năm 2020.
- ^ "Japan retrieves rare earth-rich mud from seabed to lower reliance on China". AP News. ngày 2 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2026.
- ^ "南鳥島気象観測所". www.jma-net.go.jp. 国土交通省気象庁. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2016.
- ^ "世界のハム仲間から殺到するラブコール 南鳥島気象庁HAMクラブ". 朝日新聞. 朝日新聞社. ngày 30 tháng 9 năm 2000. tr. 34.
- ^ 南鳥島における活動拠点整備事業 平成27年1月16日 国土交通省 関東地方整備局
- ^ 南鳥島における活動拠点整備事業 平成28年12月6日 国土交通省 関東地方整備局
- ^ 北西太平洋ロランCチェーンの縮小(南鳥島局の廃止)について 平成21年6月1日 海上保安庁PDF
- ^ 交通困難地・速達取扱地域外一覧PDF Bản mẫu:Ja icon 郵便事業株式会社
- ^ "郵便番号検索 > 東京都 > 小笠原村". 日本郵便. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ 日本の最東端「南鳥島」~絶海の孤島を訪ねて,時事ドットコムニュース,2012年
- ^ 【宙にあこがれて】第50回 海上自衛隊クルーが語るYS-11 - おたくま経済新聞
- ^ "資料3 南鳥島技術開発マニュアル(案)" (PDF). 国土交通省. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ "一般人は絶対行けない、南の孤島硫黄島の求人 携帯・ネット不可での勤務に耐えられるのか". J-CAST ニュース (bằng tiếng Nhật). ngày 14 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp) - ^ INC, SANKEI DIGITAL (ngày 18 tháng 7 năm 2020). "最東端で日本の海を守る自衛隊 南鳥島で見た海洋国家の現実(2/3ページ)". 産経ニュース (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp)
Đọc thêm
- Bryan, William A. (1903). A monograph of Marcus Island. Occasional Papers of the Bernice Pauahi Bishop Museum. Quyển 2.
- Kuroda, Nagahisa (1954). "Report on a trip to Marcus Island, with notes on the birds". Pacific Science. 8 (1).
- L, Klemen (1999–2000). "Forgotten Campaign: The Dutch East Indies Campaign 1941-1942". Lưu trữ bản gốc 26 tháng 7 2011.
- Lévesque, Rodrigue (1997). "The Odyssey of Captain Arriola and His Discovery of Marcus Island in 1694". Journal of Pacific History. 32 (2): 229–233. doi:10.1080/00223349708572841.
- Pub 158 Japan. Quyển 1. Bethesda, Maryland: National Geospatial-Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2006.
- Sakagami, Shoichi F. (1961). "An ecological perspective of Marcus Island, with special reference to land animals". Pacific Science. 15 (1).
- Welsch, Bernhard (2001). "The Asserted Discovery of Marcus Island in 1694". Journal of Pacific History. 36 (1): 105–115. doi:10.1080/00223340120049479. S2CID 161496300.
- Welsch, Bernhard (tháng 6 năm 2004), "Was Marcus Island Discovered by Bernardo de la Torre in 1543?", Journal of Pacific History, quyển 39, Milton Park: Taylor & Francis, tr. 109–122, doi:10.1080/00223340410001684886, JSTOR 25169675, S2CID 219627973.
- 米内金治 『鳥を釣った話―父島・南鳥島気象観測所長の思い出』 翰林書房、1996年3月。ISBN 4906424880
- 池澤夏樹 『南鳥島特別航路』 新潮文庫、1994年。ISBN 4101318123、「南鳥島―」は内 1章。
- 山本皓一 『日本人が行けない「日本領土」―北方領土・竹島・尖閣諸島・南鳥島・沖ノ鳥島上陸記』 小学館、2007年6月。ISBN 9784093897068
- 平岡昭利『アホウドリと「帝国」日本の拡大 南洋の島々への進出から侵略へ』明石書店、2012年、ISBN 978-4-7503-3700-5
- "南鳥島の歴史について". 南鳥島. 小笠原村. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “和書” (trợ giúp)
Liên kết ngoài
- Minami Torishima info and pictures
- Marcus Island Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine sunrise, sunset, tides
- Map and aerial photo of Minami Torishima Lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2006 tại Wayback Machine, from the Geographical Survey Institute of Japan website
- Trang có các đối số formatnum không phải số
- Trang có lỗi chú thích
- Nguồn CS1 có chữ Nhật (ja)
- Lỗi CS1: tham số không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Nhật (ja)
- Lỗi CS1: tham số thừa
- Lỗi CS1: tham số không tên
- Lỗi CS1: giá trị tham số không hợp lệ
- Quản lý CS1: năm
- Lỗi CS1: ký tự ẩn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Rạn san hô vòng Nhật Bản
- Rạn san hô
- Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản
- Các cựu vùng và cựu lãnh thổ của Hoa Kỳ
- Các đảo ở châu Đại Dương
- Đảo của Tokyo
- Điểm cực Nhật Bản
- Tuần duyên Hoa Kỳ
- Đảo tranh chấp cũ
- Đảo theo Đạo luật đảo phân chim