Bước tới nội dung

Muỗng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Muỗng xúp làm bằng thép không gỉ.

Muỗng hoặc thìa là một dụng cụ ăn gồm có hai phần: một phần bầu có lòng lõm và bè ra, có thể hình tròn hoặc là trái xoan, gắn chặt vào một cán cầm. Tác dụng chủ yếu của muỗng là xúc thức ăn. Ngoài ra, muỗng còn có thể được sử dụng như là một dụng cụ để múc, trộn, khuấy thực phẩm hoặc các nguyên nhiên liệu khác. Ngày nay, muỗng có thể được làm từ kim loại, gỗ, sứ hoặc nhựa.

Từ nguyên

Ở Việt Nam ngoài muỗng ra còn có rất ba từ phổ biến khác để chỉ muỗng: thìa, xỉ, cùi dìa.

  • Muỗng /*ɓuaŋ/ có nguồn gốc từ ngữ hệ Kra-Dai, gần với các ngôn ngữ như tiếng Tháitiếng Lào, có nghĩa là đồ múc. Từ này thường được dùng ở nhiều khu vực phía miền Nam.
  • Thìa có nguồn gốc từ tiếng Hán thượng cổ, viết là 匙, đọc là /d͡ʑiᴇ/ (đọc như chữ "chìa" trong chìa khoá). Từ này thường được dùng ở nhiều khu vực phía miền Bắc.
  • Xỉ bắt nguồn từ "thưng xỉ", viết là 湯匙. Đây là từ mượn tiếng Phúc Kiến Tuyền Châu, dùng trong các khu vực có nhiều người Hoa ở[1]. Hiện nay, hầu như người Việt các tỉnh phía Nam không còn dùng "thưng xỉ" nữa. Nhưng cách gọi cái "xỉ" được lưu giữ thành từ địa phương tại các tỉnh Bình Định, Phú Yên.
  • Cùi dìa, hay củ dìa có nguồn gốc từ tiếng Pháp khi thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, từ gốc là cuillère /kɥi.jɛʁ/.

Lịch sử

Muỗng gỗ của người Betsileo tại Madagascar, thế kỷ 19

Người Ai Cập cổ đại dùng muỗng làm bằng ngà voi, đá lửa, đá phiếngỗ; trên muỗng có chạm khắc các biểu tượng tôn giáo[2]. Thời nhà Thuơng ở Trung Quốc thì dùng muỗng làm từ xươngđồng; muỗng đồng thì có đầu nhọn, và có thể dùng trong ăn uống[3].

Một nghiên cứu năm 2024 của nhà khảo cổ học Andrzej Kokowski và các nhà sinh vật học từ Đại học Maria Curie-SkłodowskaLublin, Ba Lan, đã xác định được 241 vật thể nhỏ hình thìa tại 116 địa điểm khảo cổ trên khắp Scandinavia, Đức và Ba Lan, có niên đại từ thời La Mã. Những địa điểm này chủ yếu đầm lầy và mộ. Nghiên cứu cho rằng những vật thể này, thường được tìm thấy cùng với các vật dụng liên quan đến chiến tranh và có một đĩa nhỏ đường kính 10-20 milimét, có khả năng được sử dụng để tiêm thuốc, đặc biệt là chất kích thích, trước các trận chiến. Người Đức thời đó có thể tiếp cận với nhiều chất có tiềm năng chữa bệnh hoặc gây ảo giác, bao gồm cây thuốc phiện, hoa bia, cây gai dầu, cây bạch chỉ, cây belladonna và một số loại nấm[4].

Trong thế giới Hồi giáo sơ khai, muỗng được dùng để ăn xúp[5]. Muỗng trong gia đình thời Trung cổ thường được làm bằng sừng hoặc gỗ, nhưng muỗng bằng đồng thau, thiếc và đồng latten có vẻ phổ biến vào khoảng thế kỷ 15[2]. Một trong những chiếc muỗng thời Trung cổ thú vị nhất là Muỗng Đăng quang được sử dụng trong lễ xức dầu cho quốc vương Anh và sau này là quốc vương Anh quốc; vật thể thế kỷ 12 này là vật phẩm còn tồn tại lâu đời nhất trong bộ lễ phục hoàng gia Anh[2].

Bộ muỗng Tông đồ, quà tặng rửa tội phổ biến vào thời Tudor, có cán kết thúc bằng đầu hoặc tượng bán thân của các tông đồ, là một hình thức đặc biệt thu hút sự quan tâm của giới khảo cổ học[2]. Cán muỗng ở Anh thời kỳ đầu kết thúc bằng hình hạt sồi, núm trơn hoặc hình thoi; vào cuối thế kỷ 16, phần cuối hình trụ và hình con dấu trở nên phổ biến, phần bầu muỗng có hình quả sung.

Các kiểu muỗng

Ngoài kiểu muỗng dùng trên bàn ăn, còn có một số loại dùng trong nấu nướng có công dụng giống như muỗng như:

  • Gáo múc rượu.
  • Muôi — dùng để xới cơm.
  • Nuỗng — muỗng kết hợp với nĩa.
  • — dùng để múc canh và các loại thức ăn lỏng khác.

Muỗng trong văn hoá các nước

Muỗng trong văn hoá Trung Quốc

Muỗng lòng sâu

Muỗng Trung Quốc có đáy phẳng, sâu và cao, cán và muỗng liền nhau, đôi khi có thêm một giá đỡ muỗng để đặt muỗng lên bàn. Vì chủ yếu dùng để ăn canh nóng, nên để giữ nhiệt, muỗng thường được làm bằng sứ, chỉ một số ít được làm bằng kim loại.

Muỗng trà dùng trong trà đạo được dùng để múc lá trà ra khỏi ấm sau khi pha trà.

Muỗng trong văn hoá Nhật Bản

Trong ẩm thực Nhật Bản, người ta không dùng muỗng để ăn canh mà húp trực tiếp từ chén. Muỗng chỉ được sử dụng trong nghi lễ trà đạo, hoặc như một dụng cụ đong đo cho súng hỏa mai. Sau cuộc Duy Tân Minh Trị, với sự phổ biến của các món ăn du nhập từ nước ngoài như cơm cà ri, người Nhật sử dụng muỗng thường xuyên hơn. Khi ăn mì ramen, thực khách thường cầm muỗng ở tay trái và đũa ở tay phải. Người Nhật sử dụng muỗng gỗ, muỗng kim loại và muỗng sứ.

Muỗng trong văn hoá Hàn Quốc

Trên bán đảo Triều Tiên, người ta dùng đũa và muỗng cán dài, dẹt. Muỗng là dụng cụ ăn chính, dùng để múc canh, ăn canh (bao gồm cả thức ăn rắn trong canh). Đũa thường chỉ dùng để nấu ăn.

Muỗng trong văn hoá phương Tây

Bộ dao, nĩa và muỗng truyền thống phương Tây thường được làm bằng kim loại, đầu nhỏ và dẹt, cán dài. Ngoài việc dùng để ăn xúp, chúng còn có thể dùng để múc nước chấm và ăn tráng miệng. Trong một bữa tiệc tối, từ món súp đầu tiên đến món tráng miệng cuối cùng, người ta sẽ sử dụng rất nhiều muỗng với kích cỡ và chức năng khác nhau; đôi khi chúng được sắp xếp theo một thứ tự nhất định trước khi ngồi vào bàn ăn, và một số người lại sắp xếp lại bộ đồ ăn khi dọn dẹp và phục vụ.

Trong các bữa ăn phương Tây, người ta dùng muỗng khuấy đường, sữa trong cà phê hoặc trà; nhưng theo phép lịch sự trong bữa ăn, muỗng nên được để riêng ra, thay vì dùng để múc cà phê hoặc trà.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí.
  2. ^ a ă â b  Một hoặc nhiều câu trước bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộngLỗi Lua: expandTemplate: template "cite EB1911" does not exist.
  3. ^ Joseph Needham (2000). Science and Civilisation in China: Fermentations and Food Science. Cambridge University Press. tr. 106. ISBN 978-0-521-65270-4.
  4. ^ Gruyter, De (ngày 2 tháng 12 năm 2024). "Barbarian warriors in Roman times used stimulants in battle, findings suggest". Phys.org. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2024.
  5. ^ Lindsay, James E. (2005). Daily Life in the Medieval Islamic World. Greenwood Publishing Group. tr. 128. ISBN 0-313-32270-8.
  • Bednersh, Wayne. Collectible Souvenir Spoons: The Grand Tour. Collector Books, 2000. ISBN 978-1-57432-189-0.