Bước tới nội dung

Núi Dinh

10°32′15″B 107°07′45″Đ / 10,5375°B 107,12917°Đ / 10.53750; 107.12917
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Núi Dinh
Núi Dinh nhìn từ khu vực Bà Rịa
Độ cao504 m
Vị trí
Vị tríphường Tân Hải, phường Tân Phước, xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Dãy núiCụm núi Dinh - Thị Vải
Tọa độ10°32′15″B 107°07′45″Đ / 10,5375°B 107,12917°Đ / 10.53750; 107.12917
Địa chất
Kiểunúi đá (khối granitoid)

Núi Dinh là một khối núi thuộc cụm núi Dinh – Thị Vải tọa lạc tại phường Tân Hải, phường Tân Phước và xã Châu Pha, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Khối núi này có diện tích khoảng 30 km2.[1] Đỉnh cao nhất là đỉnh La Bàn với cao độ khoảng 504 m so với mực nước biển.[2][3] Cụm núi Dinh chạy theo dạng vòng cung theo hướng Đông Nam – Tây Bắc.[2][3] Trong một nghiên cứu về đa dạng cây thuốc tại rừng phòng hộ Phú Mỹ, điểm cao nhất của núi Dinh được ghi nhận là 518,7 m.[4] Một số tư liệu lịch sử – văn hóa địa phương cũng ghi nhận núi Dinh từng được gọi là Núi Mô Xoài trong bối cảnh địa danh Mô Xoài.[1]

Trên núi có rừng phòng hộ và hệ thống khe suối như suối Tiên và suối Đá, tạo thành các thác ghềnh và hồ nước tự nhiên trong rừng.[2][5] Khảo sát thực vật của Viện Dược liệu và Ban quản lý rừng phòng hộ địa phương (2019–2022) ghi nhận 435 loài cây thuốc ở khu vực rừng phòng hộ Phú Mỹ và Đất Đỏ, trong đó có một số loài quý hiếm được nêu trong Sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ cây thuốc.[4]

Núi Dinh gắn với di tích lịch sử Khu căn cứ cách mạng núi Dinh và nhiều cơ sở Phật giáo trên sườn núi.[2][6] Khu căn cứ được xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định 2015VH/QĐ (1993).[6] Các nguồn địa phương cũng mô tả núi Dinh là nơi tập trung nhiều chùa, am và tịnh thất; trong số đó có Tổ đình Linh Sơn Cổ Tự và hệ phái Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng gắn với Hòa thượng Thích Thiện Phước (tức Lão Hòa thượng Nhựt Ý).[2][7]

Vị trí và địa hình

Núi Dinh nhìn từ khu vực sông Long Hương.

Núi Dinh nằm gần trục Quốc lộ 51 và cách trung tâm thành phố Bà Rịa khoảng 2 km; từ đây đến Vũng Tàu khoảng 30 km.[2] Một số bài viết du lịch nêu khoảng cách từ khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh (cũ) đến chân núi vào khoảng 80 km.[3]

Trong mô tả du lịch địa phương, dãy núi Dinh có dạng vòng cung theo hướng Đông Nam – Tây Bắc và phân bố dọc sườn phía đông của Quốc lộ 51.[2] Trong phạm vi đất lâm nghiệp thuộc thị xã Phú Mỹ (cũ), khảo sát về cây thuốc ghi nhận diện tích đất rừng là 5.245,74 ha (khoảng 15,71% diện tích tự nhiên) và toàn bộ được phân loại là rừng phòng hộ.[4] Theo nghiên cứu này, đất rừng tập trung dọc theo hệ thống sông Thị Vải và khu vực núi Dinh.[4] Trong cùng nghiên cứu, nhóm đồi núi thấp của rừng phòng hộ Phú Mỹ được mô tả thuộc hệ thống các dãy núi Dinh, Thị Vải, Tóc Tiên và Ông Trịnh, phản ánh mối liên hệ địa mạo giữa núi Dinh và các khối núi lân cận trong cụm Dinh – Thị Vải.[4]

Về địa hình bề mặt, các bài viết giới thiệu điểm đến mô tả núi Dinh có nhiều sườn dốc, vách đá và đoạn đường lên núi quanh co; một số điểm cao có khối đá lộ đầu lớn, trong đó có khối đá tại đỉnh La Bàn thường được xem như điểm quan sát cảnh quan.[2][3] Bài viết của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu nêu cụm núi Dinh có diện tích khoảng 60 km2, trong đó phần núi Dinh chiếm khoảng một nửa.[1]

Các nguồn đưa ra số liệu độ cao khác nhau cho điểm cao nhất. Nguồn báo chí địa phương và một số bài viết du lịch thường nêu đỉnh La Bàn (hoặc điểm cao nhất) khoảng 504 m,[2] trong khi khảo sát thực vật tại rừng phòng hộ Phú Mỹ ghi nhận núi Dinh có độ cao lớn nhất 518,7 m.[4]

Về địa giới hành chính cấp xã, Nghị quyết 1685/NQ-UBTVQH15 hợp nhất phường Tân Hòa và phường Tân Hải thành phường Tân Hải; hợp nhất phường Phước Hòa và phường Tân Phước thành phường Tân Phước; hợp nhất xã Tóc Tiên và xã Châu Pha thành xã Châu Pha.[8] Vì vậy, núi Dinh hiện được mô tả chủ yếu nằm trong địa bàn phường Tân Hải, phường Tân Phước và xã Châu Pha thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.[8]

Trong nghiên cứu khoa học, Núi Dinh được nhắc đến như một đối tượng khảo sát địa chất. Một luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa chất tập trung mô tả đặc điểm thạch học và thạch địa hóa của khối granitoid Núi Dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu) và các vấn đề khoáng sản liên quan.[9]

Tên gọi

Tên gọi của núi Dinh thường được đặt trong bối cảnh địa danh Mô Xoài ở vùng Bà Rịa. Trong lời giới thiệu bản dịch Gia Định thành thông chí, địa danh Mỗi Suy được ghi là tên chữ, còn người địa phương gọi là Mô Xoài. Các bài viết của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu cũng nhắc đến Mô Xoài như một không gian địa danh gắn với quá trình khai phá và định cư sớm ở khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu.[10][11]

Bên cạnh tên gọi hiện hành, một số tài liệu địa phương ghi nhận các cách gọi khác của khối núi theo từng giai đoạn. Bài viết về địa danh Mô Xoài của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu nhắc đến tên "Trấn Biên Sơn" và "Núi Mô Xoài" như những cách gọi gắn với thư tịch và địa danh lịch sử của vùng Bà Rịa; bài viết này đồng thời nêu việc địa danh núi Dinh xuất hiện trong một số tư liệu bản đồ với cách ghi phiên âm khác nhau (ví dụ "Nuy Dinh").[1][11]

Với tên gọi hiện nay, một số nguồn báo chí địa phương ghi nhận cách lý giải dân gian gắn tên núi với một nhân vật khai phá được gọi là Nguyễn Văn Dinh. Một số cách giải thích khác liên hệ đến việc từng có "dinh trại" đóng quân hoặc cơ sở hành chính – quân sự dưới triều nhà Nguyễn trong khu vực.[2][12]

Ở lớp địa danh thứ cấp, núi Dinh còn xuất hiện trong văn hóa truyền khẩu qua tên gọi "núi Ông Trịnh"; truyền thuyết địa phương gắn "núi Ông Trịnh" với câu chuyện về núi Thị Vải và nguồn gốc tên gọi của cả hai địa điểm.[13] Một số tư liệu du lịch địa phương cũng dùng "núi Ông Trịnh" để chỉ một điểm cao trong dãy núi Dinh.[2]

Một số bài viết báo chí – du lịch nêu thêm giả thuyết rằng tên núi Dinh có thể liên quan đến dấu tích hiện diện của người Pháp (ví dụ các "villa" hoặc cơ sở nghỉ dưỡng) ở khu vực núi trong thời kỳ thuộc địa, tuy nhiên các cách giải thích này thường xuất hiện như ghi nhận truyền khẩu, chưa có sự thống nhất giữa các nguồn.[5]

Địa chất và thủy văn

Núi Dinh là một khối núi đá gốc thuộc nhóm granitoid; các nghiên cứu địa chất tập trung vào đặc điểm thạch học, thạch địa hóa và khoáng sản liên quan của khối granitoid Núi Dinh.[9] Bề mặt núi phát triển các dạng địa hình sườn dốc, vách đá và đá lộ đầu; nhiều khối đá granit kích thước lớn lộ trên sống núi và tại các điểm cao tạo thành mốc địa hình.[2][3] Khu vực đỉnh La Bàn có mặt đá lộ đầu rộng; tuyến leo núi thường sử dụng khối đá này làm điểm quan sát.[3]

Trong phạm vi các granitoid ở khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ), nghiên cứu về granitoid vùng Long Hải (Hòn Thùng, Châu Viên) ghi nhận các biến thể granit biotit hạt vừa và hạt nhỏ; đá mạch đi kèm gồm granit aplit, aplit và pegmatoit.[14] Tổ hợp khoáng vật chính của các granitoid này gồm plagioclas, fenspat kali, thạch anh, biotit và ít hornblend; khoáng vật phụ thường gặp gồm zircon, orthit, sphen và magnetit.[14] Các đá chịu biến đổi hậu magma mạnh, nổi bật là quá trình albit hóa và microclin hóa.[14] Thành phần hóa học chính được công bố với SiO2 72,68–76,06%, Al2O3 12,06–13,70%, Na2O 3,24–4,06% và K2O 4,18–5,12%; các nguyên tố vết thường nêu gồm Sn, W, Mo, Cu, Pb, Zr, Hf, Y và Yb.[14] So sánh thạch học – thạch địa hóa cho thấy granitoid vùng nghiên cứu có đặc điểm tương đồng với granitoid khối Đèo Cả; phức hệ này được đặt trong khoảng tuổi Creta muộn – Paleogen.[14]

Mạng khe suối phát triển trên sườn núi và đổ xuống chân núi; các tuyến suối thường được nêu gồm suối Tiên (thượng nguồn) và suối Đá (hạ nguồn).[2][5] Dọc tuyến suối Đá hình thành chuỗi hồ tự nhiên gọi là "5 hồ" cùng các đoạn thác ghềnh nối tiếp; dòng chảy được phản ánh là có nước quanh năm và lưu lượng tăng vào mùa mưa.[2][5] Khu vực suối Tiên có nhiều bậc đá và đá tảng rêu phủ, tạo các đoạn nước sâu theo địa hình khe suối.[5]

Các sinh cảnh ẩm dưới tán rừng và ven suối ở rừng phòng hộ Phú Mỹ là nơi tập trung nhiều loài thuộc các họ như Araceae, OrchidaceaeZingiberaceae.[4]

Sinh thái và bảo tồn

Dòng suối Đá trên núi Dinh.
Một hồ nước nhỏ trong khu vực núi Dinh.

Núi Dinh nằm trong khu vực rừng phòng hộ; các bài viết địa phương mô tả trước đây khu vực này có rừng tự nhiên với hệ động thực vật phong phú, nhưng về sau suy giảm và biến đổi mạnh do tác động của con người.[1][2] Một bài viết trên VnExpress (2024) về hoạt động trekking tại núi Dinh ghi nhận động vật hoang dã thường gặp hiện nay chủ yếu là các loài chim, sóc và khỉ.[3]

Trong nghiên cứu của Viện Dược liệu và Ban Quản lý rừng phòng hộ địa phương, địa hình đất lâm nghiệp thuộc Phú Mỹ (cũ) được chia thành ba kiểu: (1) đồi núi thấp (các núi thuộc hệ thống núi Dinh, Thị Vải, Tóc Tiên, Ông Trịnh... với độ cao khoảng 300–500 m), (2) đồi lượn sóng (độ cao khoảng 100–200 m) và (3) đồng bằng (độ cao dưới 100 m).[4] Nghiên cứu này cũng nêu núi Dinh có độ cao lớn nhất 518,7 m trong khu vực khảo sát.[4]

Về thiết kế khảo sát, nhóm nghiên cứu nêu sử dụng 10 tuyến điều tra thực địa; tên tuyến gợi ý các hướng tiếp cận bao gồm khu vực chùa Hang, chùa Kim Cang – Thiền viện Phật Quang, tuyến Suối Tiên, tuyến Suối Đá – chùa Di Đà Sơn và tuyến núi Thị Vải.[4]

Về đa dạng thực vật, khảo sát thực địa giai đoạn 2019–2022 ghi nhận 435 loài cây thuốc thuộc 319 chi, 117 họ và 4 ngành thực vật ở rừng phòng hộ Phú Mỹ và Đất Đỏ.[4] Cơ cấu ngành ghi nhận trong nghiên cứu cho thấy ngành thực vật hạt kín (Magnoliophyta) chiếm tỷ lệ lớn nhất (94,71% số loài), tiếp đến là ngành dương xỉ (Polypodiophyta), ngành thực vật hạt trần (Pinophyta) và ngành rêu (Bryophyta).[4] Trong các dạng sống, cây thân thảo chiếm 37,01%, cây gỗ 28,97% và cây bụi 24,37%.[4]

Trong nhóm họ có số loài cây thuốc nhiều, nghiên cứu nêu các họ Đậu (Leguminosae) 33 loài (7,59%), họ Bông (Malvaceae) 22 loài (5,06%) và họ Cúc (Compositae) 18 loài (4,14%); các họ có từ 10–15 loài còn có Trúc đào (Apocynaceae), Hoa môi (Lamiaceae), Cà phê (Rubiaceae), Cam (Rutaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Bìm bìm (Convolvulaceae) và Acanthaceae.[4] Ở các sinh cảnh ẩm dưới tán rừng và ven suối, các họ thường gặp được nêu gồm Araceae, Orchidaceae và Zingiberaceae.[4]

Về sử dụng cây thuốc theo kinh nghiệm dân gian, nghiên cứu phân nhóm bệnh và ghi nhận các nhóm thường gặp gồm bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng (118 loài), bệnh đường tiêu hóa (86 loài), bệnh tim mạch (77 loài) và bệnh ngoài da (70 loài).[4] Những bộ phận cây được sử dụng phổ biến gồm toàn cây (33,39%), lá và cành (36,25%), rễ và thân rễ (15,28%); các dạng dùng thường gặp là uống trong (39,26%), dùng ngoài (25,47%) và xông/hít (18,65%).[4]

Đối với bảo tồn, nghiên cứu ghi nhận 16 loài cây thuốc quý hiếm thuộc 13 chi, 12 họ; các loài này được đối chiếu với Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2019) và Nghị định 84/2021/NĐ-CP; trong đó có 7 loài thuộc nhóm II của nghị định, và 12 loài được nêu trong Sách đỏ Việt Nam (10 loài mức "sẽ nguy cấp" và 2 loài mức "nguy cấp").[4] Nghiên cứu cũng thống kê một số loài có chỉ số IVI (importance value index) cao trong quần xã như Tetracera sarmentosa, Schizostachyum aciculare, Eurycoma longifoliaMitrephora thorelii.[4]

Danh sách cây thuốc quý hiếm trong nghiên cứu bao gồm cả các loài được định danh ở mức loài và đối chiếu tình trạng bảo tồn; một số ví dụ được nêu trong bảng danh sách gồm ráng đuôi phụng (Drynaria bonii), dáng hương trái to (Pterocarpus macrocarpus), gõ mật (Sindora siamensis), dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) và cà na (Elaeocarpus hygrophilus).[4]

Để đánh giá độ quan trọng và trữ lượng tiềm năng của nguồn tài nguyên cây thuốc trong hệ sinh thái rừng trên vùng đồi núi thấp quanh khu vực rừng phòng hộ, nghiên cứu cho biết đã bố trí 30 ô tiêu chuẩn ở các kiểu sinh cảnh khác nhau và ghi nhận 86 loài (trên tổng số 435 loài cây thuốc) trong các ô này; các chỉ số như mật độ, tần suất, độ che phủ và IVI được sử dụng để mô tả cấu trúc phân bố thảm thực vật làm thuốc.[4]

Trong nghiên cứu sinh học đất, một bài báo quốc tế trên tạp chí ZooKeys (2022) ghi nhận mẫu vật thu tại "Dinh Mountain" (Bà Rịa – Vũng Tàu), cho thấy khu vực núi Dinh là một trong các điểm khảo sát giun đất ở miền Nam Việt Nam.[15]

Về tác động và quản lý, báo chí phản ánh tình trạng xâm lấn đất rừng và xây dựng trong khu vực rừng phòng hộ núi Dinh.[16] Vietnam News (VNA) năm 2025 đưa tin lực lượng quản lý rừng tại Bà Rịa – Vũng Tàu triển khai ứng dụng công nghệ (trong đó có camera và trí tuệ nhân tạo) để tăng cường phát hiện sớm cháy rừng và giám sát xâm hại rừng.[17] Năm 2025, ZNews đưa tin về việc xử lý một số công trình xây dựng trong khu vực rừng phòng hộ tại núi Dinh.[18] Một vụ cháy rừng trên núi Dinh năm 2023 được báo chí ghi nhận thiêu rụi khoảng 15 ha thảm thực vật.[19]

Lịch sử, di tích và văn hóa

Trong các tài liệu lịch sử – văn hóa địa phương, khu vực núi Dinh được đặt trong không gian Mô Xoài ở vùng Bà Rịa. Dưới triều Minh Mạng, triều Nguyễn lập phủ Phước Tuy (1837) bao gồm vùng đất Bà Rịa và các làng xã lân cận.[1] Bài viết của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu nêu dưới chân núi Dinh có các làng Long Hương và Phước Lễ, được xem là các làng hình thành sớm ở vùng Bà Rịa trong thế kỷ XIX.[1] Các bài viết về địa danh cũng nhắc đến hệ thống núi và sông (như núi Dinh và sông Thị Vải) như những mốc tự nhiên gắn với quá trình cư trú – khai phá ở Đông Nam Bộ.[10]

Trong kháng chiến chống Pháp, từ cuối năm 1952, núi Dinh được sử dụng làm căn cứ cách mạng; địa bàn này tiếp tục được dùng trong kháng chiến chống Mỹ và giai đoạn chuẩn bị cho Chiến dịch Mùa Xuân 1975.[2] Các nguồn địa phương ghi nhận trên các sườn núi có nhiều địa điểm gắn với hoạt động của lực lượng cách mạng, bao gồm hệ thống hang đá, am – chùa và các khu vực trú quân như hang Dây Bí, hang Tổ, chùa Hang Mai, hang Dơi và căn cứ Bưng Lùng.[2] Khu căn cứ cách mạng núi Dinh được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định 2015VH/QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993.[2][6]

Về văn hóa – tôn giáo, báo chí địa phương mô tả trên núi Dinh có hơn 100 ngôi chùa, am, tịnh thất và miếu thờ; một số điểm được nhắc đến nhiều gồm Tổ đình Linh Sơn Cổ Tự, Thiền Tôn Phật Quang, chùa Hang Mai, chùa Hang Tổ và chùa Diệu Linh.[2] Theo bài viết của Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu, Tổ đình Linh Sơn Cổ Tự được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII và là một trong các cơ sở Phật giáo lâu đời ở khu vực núi Dinh.[1] Một số nguồn Phật giáo trên mạng thường nhấn mạnh núi Dinh là nơi khởi nguyên gắn với hành trạng của Hòa thượng Thiện Phước và sự hình thành hệ phái.[7]

Du lịch và hoạt động ngoài trời

Do nằm gần các trung tâm đô thị và có mạng lưới đường mòn xuyên rừng, núi Dinh là điểm đến cho hoạt động trekking và dã ngoại ngắn ngày; một số bài viết du lịch mô tả lộ trình phổ biến là chinh phục đỉnh La Bàn và kết hợp tham quan các chùa trên núi.[3][20] Các tuyến đi bộ theo suối (như khu vực suối Đá – "5 hồ") cũng được báo chí nhắc đến như các điểm dừng chân trong hành trình trekking.[5]

Một số nguồn giới thiệu điểm đến ghi nhận khu vực núi Dinh có thể kết hợp tham quan các điểm di tích trong Khu căn cứ cách mạng, cũng như các cơ sở tôn giáo như chùa Hang Mai, chùa Hang Tổ hoặc Thiền Tôn Phật Quang.[2] Trong những năm gần đây, việc quản lý khách và hoạt động trong rừng phòng hộ (đặc biệt vào mùa khô) thường được đặt trong bối cảnh phòng cháy chữa cháy rừng và ngăn chặn xâm hại rừng.[16][17]

Trong định hướng phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn rừng, VietNamNet (2022) đưa tin tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) xây dựng đề án phát triển du lịch sinh thái tại rừng phòng hộ, trong đó nhắc tới khu vực núi Dinh – Thị Vải như một địa bàn triển khai.[21]

Một số hình ảnh

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a b c d e f g h Nguyễn Văn Quý (ngày 6 tháng 8 năm 2014). "Núi Dinh xứ Mô Xoài – tiềm năng du lịch tâm linh Phật giáo của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu". Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên sonthuy
  3. ^ a b c d e f g h Thanh Thư (ngày 20 tháng 11 năm 2024). "Núi Dinh - điểm trekking cuối tuần tại Vũng Tàu". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
  4. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u Lê Đức Thanh; Cao Ngọc Giang; Ngô Thị Minh Huyền; Nguyễn Minh Hùng; Nguyễn Xuân Trường; Nguyễn Duy Bắc; Lê Trung Kiên; Trần Thị Liên (2022). "Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực rừng phòng hộ thị xã Phú Mỹ và huyện Đất Đỏ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu" (PDF). Tạp chí Y dược học cổ truyền Quân sự. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  5. ^ a b c d e f Lan Hồ (ngày 9 tháng 11 năm 2023). "Núi Dinh, đâu chỉ dành riêng cho "dân trekking"!". Báo Phụ Nữ TP.HCM. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
  6. ^ a b c "Triển khai Quyết định số 3508/QĐ-UBND" (PDF). Trung tâm Bảo tồn Di tích Quốc gia Côn Đảo. Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. ngày 30 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  7. ^ a b "Một vài tổ đình tiêu biểu của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng". Chùa Phật học Xá Lợi. 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
  8. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên nq1685
  9. ^ a b Võ Việt Văn (2011). "Đặc điểm thạch học, thạch địa hóa granitoid khối Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu) và khoáng sản". Trung tâm kết nối tri thức số (IDK). Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  10. ^ a b "Một số địa danh trong công cuộc khai phá xứ Mô Xoài". Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu. ngày 7 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  11. ^ a b "Địa danh Mô Xoài". Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu. ngày 7 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  12. ^ Mai Lý (ngày 10 tháng 1 năm 2021). "Chinh phục núi Dinh". Báo Đắk Lắk. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  13. ^ Nguyễn Duyên Tâm (ngày 11 tháng 3 năm 2020). "Truyền thuyết núi Thị Vải và núi Ông Trịnh". Báo Bà Rịa – Vũng Tàu. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  14. ^ a b c d e Phạm Quang Vinh; Trần Phú Hưng (2008). "Đặc điểm thạch học, thạch địa hóa granitoid vùng núi Hòn Thùng và Châu Viên, Long Hải, Bà Rịa – Vũng Tàu". Science & Technology Development. Quyển 11 số 12. tr. 104–111.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  15. ^ "Two new Drawida (Oligochaeta, Moniligastridae) earthworms from southern Vietnam and redescription of Drawida angangensis (Thai, 1999)". PubMed Central (bằng tiếng Anh). National Library of Medicine (NLM). 2022. doi:10.3897/zookeys.1099.72112. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: DOI truy cập mở nhưng không được đánh ký hiệu (liên kết)
  16. ^ a b Công Nguyên; Mạnh Trường (ngày 19 tháng 11 năm 2018). "Rừng phòng hộ núi Dinh bị 'xẻ thịt'". Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  17. ^ a b "Ba Ria-Vung Tau enhances forest protection with technology". VietNamPlus (bằng tiếng Anh). Vietnam News Agency. ngày 25 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  18. ^ "Chùa Phật Quang đã hoàn thành khắc phục hậu quả vi phạm chiếm đất rừng". ZNews. VNG. ngày 11 tháng 7 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.
  19. ^ Thành An (ngày 29 tháng 3 năm 2023). "Huy động 250 người khống chế hoàn toàn đám cháy 15ha trên núi Dinh". Báo Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2023.
  20. ^ Hoàng Hường (ngày 10 tháng 1 năm 2021). "Hành trình trekking núi Dinh chinh phục đỉnh La Bàn". Báo Pháp Luật TP.HCM. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2025.
  21. ^ "Ba Ria-Vung Tau province to develop eco-tourism". VietNamNet (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2026.