Bước tới nội dung

Chiến dịch Mùa Xuân 1975

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Thông tin chiến tranh Bản mẫu:Campaignbox Vietnam War Bản mẫu:Các trận đánh Chiến dịch Mùa Xuân 1975 tên gọi chính thức là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, là chiến dịch quân sự cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa và việc di tản các lực lượng Hoa Kỳ còn lại khỏi Đông Dương. Vào tháng 12 năm 1974, các lực lượng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam từ các căn cứ ở Campuchia đã vượt biên giới và đánh chiếm tỉnh Phước Long vào tháng 1 năm 1975. Sau thành công này, ban lãnh đạo Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã mở rộng quy mô tiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam và tiến hành tấn công vào vùng Tây Nguyên từ hướng Campuchia vào tháng 3, đánh chiếm thành phố Buôn Ma Thuột vào ngày 18 tháng 3. Các hoạt động quân sự này ban đầu được dự định làm bước chuẩn bị cho một cuộc tổng tiến công quy mô lớn vào năm 1976, nhưng đã phát triển thành một chiến dịch lớn quyết định kết quả chiến tranh.

Sau những thất bại liên tiếp này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhận ra rằng họ không còn khả năng bảo vệ toàn bộ lãnh thổ và đã ra lệnh rút quân chiến lược khỏi Tây Nguyên. Cuộc rút lui này đã trở thành một thảm họa khi dòng dân thường di tản cùng với binh lính bị kẹt cứng dọc theo một tuyến đường cao tốc duy nhất hướng về vùng duyên hải. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn do các mệnh lệnh hỗn loạn, sự thiếu vắng chỉ huy, cùng với một lực lượng đối phương có tổ chức chặt chẽ và tấn công quyết liệt, dẫn đến việc phần lớn quân Việt Nam Cộng hòa tại Tây Nguyên bị tiêu diệt hoàn toàn. Một sự sụp đổ tương tự cũng diễn ra tại các tỉnh miền trung, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh chiếm cả HuếĐà Nẵng vào cuối tháng 3 trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng.

Sau sự sụp đổ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH), Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp tục điều động các lực lượng của mình vượt qua quãng đường hơn 350 dặm (560 km) về phía nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua Lào và Campuchia nhằm đánh chiếm thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa, qua đó giành chiến thắng chung cuộc cho cuộc chiến. Quân Việt Nam Cộng hòa tái tập hợp xung quanh thủ đô và nỗ lực phòng thủ tại các đầu mối giao thông huyết mạch ở Phan RangXuân Lộc, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa đã đánh mất cả ý chí chính trị lẫn quân sự để tiếp tục cuộc chiến. Vào ngày 21 tháng 4, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu từ chức và bỏ trốn sang Đài Loan. Ngày 26 tháng 4, Quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch cuối cùng và tiến vào Sài Gòn, buộc chính phủ Việt Nam Cộng hòa, lúc này đặt dưới sự lãnh đạo của Dương Văn Minh, phải tuyên bố đầu hàng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Bối cảnh

Chiến lược

Việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris vào tháng 1 năm 1973 không giúp chấm dứt xung đột, do cả hai bên đều vi phạm lệnh ngừng bắn và nỗ lực giành quyền kiểm soát càng nhiều lãnh thổ càng tốt. Việc chiếm đóng đồng nghĩa với quyền kiểm soát dân cư trong bất kỳ cuộc đàm phán hay nỗ lực tái thống nhất nào trong tương lai.Bản mẫu:Sfnp Cuộc xung đột bùng phát sau đó không hề có quy mô nhỏ. Ví dụ, chiến dịch ba giai đoạn "Giành đất, giành dân" của Quân Giải phóng miền Nam bao gồm bốn cuộc tấn công quy mô cấp sư đoàn nhằm đánh chiếm các vị trí có lợi thế về mặt chiến lược.Bản mẫu:Sfnp Ủy ban Kiểm soát và Giám sát Quốc tế (ICCS), được thành lập theo một nghị định thư của Hiệp định Paris, đã được giao nhiệm vụ giám sát việc thực thi lệnh ngừng bắn.[lower-alpha 1] Tuy nhiên, các nguyên tắc tham vấn và nhất trí giữa các thành viên đã làm tiêu tan mọi nỗ lực nhằm kiểm soát tình hình hoặc ngăn chặn các hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn, và ICCS đã ngừng hoạt động trên thực tế chỉ vài tháng sau khi được thành lập.Bản mẫu:Sfnp

Trong giai đoạn 1973-1974, Mỹ dù rút quân nhưng vẫn tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn. Mỹ để lại 250.000 tấn vũ khí, bom đạn và 102 máy bay. Từ ngày 29 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 12 năm 1974, Mỹ còn cung cấp thêm 694 máy bay, 580 xe tăng, 520 xe bọc thép, 800 pháo, 204 tàu xuồng chiến, 1.550.000 tấn bom đạn và 2.530.000 tấn xăng dầu. Nhờ lượng vũ khí dồi dào, Việt Nam Cộng hòa cố gắng tăng cường kiểm soát lãnh thổ. Ngày 28 tháng 1 năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu đưa ra kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ", sau đó là "Kiện toàn an ninh lãnh thổ", đẩy mạnh "Bình định đặc biệt". Quân đội Việt Nam Cộng hòa huy động toàn bộ quân địa phương và 40% quân chủ lực tiến hành càn quét lấn chiếm. Theo thống kê của quân Giải phóng, trong thời gian từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 31-11-1974, Việt Nam Cộng hòa mở 58.082 cuộc càn quét, ném hơn 17 vạn quả bom, bắn hơn 6 triệu quả đạn pháo, giết và làm bị thương hơn 26.500 dân thường, buộc 1,6 triệu người phải di dời vào trong 333 khu tập trung dân, trong đó có 163 khu mới lập sau ngày ký Hiệp định Paris.[1]

Vào cuối năm 1973, một cuộc tranh luận về chính sách quân sự tương lai đã diễn ra trong ban lãnh đạo tại Hà Nội khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp để đánh giá tiến trình các nỗ lực của mình ở Việt Nam Cộng hòa. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, cùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đã thúc giục việc nối lại các hoạt động quân sự chính quy, đồng thời cảnh báo rằng việc gia tăng thế bị động sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của quân đội. Tuy nhiên, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lo ngại việc nối lại các chiến dịch sẽ làm cạn kiệt các nguồn lực sống còn cần thiết cho công cuộc tái thiết ở miền Bắc.Bản mẫu:Sfnp

Kết quả cuối cùng của cuộc tranh luận này là sự ra đời của Nghị quyết 21, kêu gọi tiến hành các cuộc "đột kích chiến lược" vào lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhằm giành lại các vùng lãnh thổ bị mất vào tay QLVNCH kể từ khi Hiệp định Hòa bình được ký kết, đồng thời thử phản ứng của cả Việt Nam Cộng Hòa lẫn chính phủ Mỹ.Bản mẫu:Sfnp Những đòn đánh đầu tiên của chính sách mới được tung ra từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1974, khi quân giải phóng tấn công lực lượng QLVNCH tại tỉnh Quảng Đức và tại Biên Hòa. Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã theo dõi một cách chặt chẽ và lo lắng, nhưng các đợt oanh tạc bằng máy bay ném bom B-52 của Mỹ đã không diễn ra. Tuy nhiên, trong các chiến dịch này (Việt Nam) đã giành lại quyền chủ động quân sự, tích lũy kinh nghiệm trong các hoạt động tác chiến hiệp đồng binh chủng, làm tiêu hao lực lượng QLVNCH, buộc họ phải tiêu thụ một lượng lớn đạn dược, đồng thời mở ra các hướng tiếp cận và bàn đạp cho bất kỳ cuộc tiến công mới nào.Bản mẫu:Sfnp

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã công khai lập trường của mình về hiệp định ngừng bắn bằng việc tuyên bố chính sách "Bốn Không": không thương lượng với cộng sản; không có các hoạt động chính trị của cộng sản ở phía nam Vùng phi quân sự (DMZ); không có chính phủ liên hiệp; và không nhượng đất cho miền Bắc Việt Nam hoặc Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam – những chính sách gần như đã vô hiệu hóa Hiệp định Paris.Bản mẫu:Sfnp Ông Thiệu vẫn tin vào lời hứa của Tổng thống Richard Nixon về việc sẽ tái can thiệp bằng lực lượng không quân Mỹ vào cuộc xung đột nếu có bất kỳ hành vi vi phạm nghiêm trọng nào đối với hiệp định. Phía Việt Nam Cộng hòa cũng giả định rằng viện trợ tài chính và quân sự của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục được duy trì ở mức cũ.[cần dẫn nguồn]

Tập tin:South Vietnam Map.jpg
Bản đồ miền Nam Việt Nam, các Vùng chiến thuật (Quân đoàn)

Tuy nhiên, vào ngày 1 tháng 7 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Tu chính án Case–Church, đạo luật nghiêm cấm mọi hoạt động chiến đấu trực tiếp hoặc gián tiếp của Mỹ trên bầu trời hoặc trên lãnh thổ của Lào, Campuchia và cả hai miền Việt Nam. Vào ngày 7 tháng 11, nhánh lập pháp đã bác bỏ quyền phủ quyết của Nixon đối với Đạo luật Quyền lực Chiến tranh. Trong giai đoạn 1972–1973, Việt Nam Cộng hòa đã nhận được 2,2 tỷ USD viện trợ từ Mỹ. Đến giai đoạn 1973–1974, con số đó đã bị cắt giảm xuống còn 965 triệu USD, giảm hơn 50 phần trăm.Bản mẫu:Sfnp Những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng của Nixon (đặc biệt là vụ bê bối Watergate) và sự đối kháng ngày càng lớn giữa hai nhánh lập pháp và hành pháp đối với các chính sách về Việt Nam đã không làm giảm bớt kỳ vọng của phía Việt Nam Cộng hòa. Một số người trong ban lãnh đạo Sài Gòn đã thực tế hơn trong việc đánh giá tình hình. Theo tướng Không quân Việt Nam Cộng hòa (RVNAF) Đồng Văn Khuyên: "Các nhà lãnh đạo của chúng ta tiếp tục tin tưởng vào sự can thiệp bằng không quân của Mỹ ngay cả sau khi Quốc hội Mỹ đã nghiêm cấm điều đó một cách rõ ràng... Họ đã tự lừa dối mình."Bản mẫu:Sfnp Cú sốc cắt giảm viện trợ càng thêm trầm trọng vào ngày 9 tháng 8, khi Richard Nixon, người bảo trợ cho nền độc lập của Việt Nam Cộng hòa, bị buộc phải từ chức. Vào tháng 10 năm 1973, cuộc cấm vận dầu mỏ của các nước Ả Rập bắt đầu, và cú sốc dầu mỏ 1973–74 kéo theo đã gây ra một đợt lạm phát phi mã, tàn phá nặng nề nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa, khiến một người phát ngôn của ông Thiệu phải thừa nhận trong một cuộc phỏng vấn truyền hình rằng chính phủ đang bị lạm phát "đè bẹp".Bản mẫu:Sfnp Một hệ quả của đợt lạm phát này là chính phủ Việt Nam Cộng hòa ngày càng gặp khó khăn trong việc trả lương cho binh lính.[cần dẫn nguồn]

Tận dụng khoảng thời gian phục hồi của Quân đội nhân dân Việt Nam trong năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu đã dàn mỏng lực lượng của mình bằng cách phát động các cuộc tấn công chiếm lại hầu hết các vùng lãnh thổ bị Quân đội nhân dân Việt Nam kiểm soát trong đợt giành đất năm 1973, tương đương 15 phần trăm tổng diện tích đất đai do Quân đội nhân dân Việt Nam kiểm soát tại thời điểm có lệnh ngừng bắn.Bản mẫu:Sfnp Đến cuối năm 1974, QLVNCH rơi vào tình trạng suy giảm hỏa lực do viện trợ của Mỹ giảm sút, trong khi các lực lượng đối phương tiếp tục gia tăng sức mạnh.[cần dẫn nguồn]

Đến cuối tháng 10, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định chiến lược cho năm 1975 và 1976. Trong kế hoạch được biết đến với tên gọi Nghị quyết năm 1975, ban lãnh đạo Đảng nhận định cuộc chiến đã bước vào "giai đoạn cuối". Quân đội cần củng cố các thành quả đã đạt được, xóa bỏ các đồn bốt biên giới của Việt Nam Cộng hòa, bảo đảm an toàn cho hành lang hậu cần, và tiếp tục xây dựng lực lượng ở miền Nam.Bản mẫu:Sfnp Trong năm 1976, cuộc tổng tiến công cuối cùng sẽ bắt đầu.Bản mẫu:Sfnp Chiến lược này rõ ràng là thận trọng, do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh giá quá cao năng lực của QLVNCH, lực lượng vốn chiến đấu tốt trong mùa hè và mùa thu. Họ liên tục tin rằng phía Việt Nam Cộng hòa, ít nhất là về mặt kỹ thuật, vẫn vượt trội về tổng sức mạnh.Bản mẫu:Sfnp Tháng sau, các chỉ huy chiến trường và chính ủy của Quân đội nhân dân Việt Nam đã được triệu tập về Hà Nội để đánh giá chiến lược mới. Ban đầu, các bên nhất trí rằng một cuộc tấn công vào Tây Nguyên sẽ có cơ hội thành công lớn nhất, nhưng ý tưởng này đã bị thách thức bởi Trung tướng Trần Văn Trà, tư lệnh quân sự của Trung ương Cục miền Nam. Các tham mưu của ông đã lập sẵn một kế hoạch tấn công trực diện vào Sài Gòn, và ông Trà nhanh chóng đề xuất việc phát động một cuộc tấn công thử nghiệm tại tỉnh Phước Long để xem QLVNCH sẽ kháng cự ra sao và liệu Mỹ có phản ứng hay không.[2] Kế hoạch của ông Trà mang lại tiềm năng giành thắng lợi lớn với rủi ro thấp. Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã thông qua kế hoạch, nhưng cảnh báo ông Trà rằng không được phép thất bại và căn dặn: "Cứ tiến hành tấn công... [Nhưng] anh phải chắc chắn thắng."Bản mẫu:Sfnp

Lực lượng đối địch

Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH)

Sau khi ký kết Hiệp định Paris, chính phủ Việt Nam Cộng hòa sở hữu lực lượng quân sự lớn thứ tư trên thế giới nhờ vào các chương trình Enhance và Enhance Plus của Mỹ. Quốc gia này nhận được các máy bay chiến đấu và vận tải mới, xe bọc thép, trực thăng, pháo mặt đất cùng các trang thiết bị khác trị giá 753 triệu USD.Bản mẫu:Sfnp Các chuyến hàng vũ khí này được Sài Gòn hoan nghênh, nhưng việc thiếu huấn luyện đầy đủ và sự phụ thuộc vào Mỹ về phụ tùng thay thế, nhiên liệu cùng đạn dược đã gây ra nhiều vấn đề về bảo dưỡng và hậu cần. Lực lượng Việt Nam cộng hòa chắc chắn vượt trội về số lượng so với lực lượng liên minh Quân đội nhân dân Việt Nam/Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở miền Nam với khoảng 1,5 triệu quân thường trực.Bản mẫu:Sfnp Nhưng gần 482.000 người trong số này thuộc lực lượng Địa phương quân hoặc Nghĩa quân, những tổ chức có độ tin cậy không đồng đều.[cần dẫn nguồn] Ngay cả con số ít hơn cũng gây hiểu lầm. Chỉ có khoảng 200.000 người trong tổng số còn lại thực sự phục vụ với tư cách quân chính quy trong các binh chủng chiến đấu. Số còn lại nằm trong bộ phận "đuôi" hành chính và hậu cần cần thiết để hỗ trợ họ (dĩ nhiên, một tỷ lệ lớn lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam và quân Giải phóng cũng tham gia vào các hoạt động tương tự trên đường mòn Hồ Chí Minh, mạng lưới phòng không, hành chính, v.v., giống như bất kỳ quân đội hiện đại nào).Bản mẫu:Sfnp

QLVNCH luôn gặp vấn đề trong việc duy trì quân số trong hàng ngũ, nhưng trong giai đoạn 1973–75, vấn đề này đã bùng phát thành một đại dịch. Ví dụ, trong năm 1974, chỉ có 65% quân số được phê duyệt có mặt thực hiện nhiệm vụ vào bất kỳ thời điểm nào.Bản mẫu:Sfnp Sĩ quan quân đội của quốc gia này vẫn chịu ảnh hưởng từ việc thăng chức và giữ lại các tướng lĩnh dựa trên lòng trung thành chính trị chứ không phải năng lực chuyên môn. Donald Duncan, sĩ quan xuất sắc của Lực lượng Đặc biệt Mỹ tại Việt Nam trong giai đoạn 1964-65, nhận xét về sự tham nhũng của Quân lực VNCH:"Sĩ quan có quá nhiều lý do để khỏi phải ra trận cùng lính. Lính thấy sĩ quan ba hoa về mình trong trận đánh. Lính biết sẽ bị ăn chặn tiền lương ngay khi có thể. Lính biết quân nhu có thể bị đem bán ngoài phố. Lính chiến đấu chỉ để duy trì một hệ thống sẽ giữ họ trong nghèo đói và thất học. Sếp hứa rất nhiều và thất hứa cũng thật nhiều, để giờ lính chẳng còn tin vào chính phủ."Bản mẫu:Sfnp

Nạn tham nhũng và sự bất tài trong hàng ngũ sĩ quan là căn bệnh kinh niên, một số người thậm chí "nâng nó lên thành một dạng nghệ thuật.Bản mẫu:Sfnp Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp Tư lệnh đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị và sớm tiêu thụ hết sạch sành sanh.Bản mẫu:SfnpĐể xoa dịu các học giả chỉ trích, Tổng thống Thiệu đã cách chức tư lệnh Quân đoàn IIQuân đoàn IV, các Tướng Nguyễn Văn ToànNguyễn Vĩnh Nghi, cả hai đều là những người thân tín của ông Thiệu và khét tiếng về tham nhũng. Thật không may, cả hai người cũng là những chỉ huy có năng lực đã được chứng minh, được binh lính yêu mến và linh hoạt trên chiến trường.Bản mẫu:Sfnp Vào năm 1972, Đại tướng Creighton Abrams đã nổi giận trước những lời than phiền của QLVNCH rằng họ thiếu vũ khí và trang bị. Ông nói: "QLVNCH không mất xe tăng vì xe tăng địch bắn cháy chúng. QLVNCH mất xe tăng vì, chết tiệt thật, họ đã bỏ lại chúng. Và, mẹ kiếp, nếu họ có xe tăng Josef Stalin 3 [của Liên Xô], tình hình cũng chẳng khá hơn đâu." Ông cũng thẳng thắn chỉ trích Tổng thống Thiệu và Tổng Tham mưu trưởng Sài Gòn Cao Văn Viên: "Trang bị không phải là thứ các ông cần. Các ông cần những con người biết chiến đấu... Các ông có tất cả trang bị mình cần rồi... Các ông mất hầu hết pháo binh vì các ông đã bỏ lại chúng."Bản mẫu:Sfnp Ký giả Alan Dawson nhận xét: Đội quân này trang bị vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có nhiều máy bay chiến đấu, có nhiều đạn dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ thiếu mỗi một điều thôi. Một người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: Chúng tôi đã cho anh mọi thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy.Bản mẫu:Sfnp

Nhà báo người Mỹ William J. Lederer, trong chuyến điều tra năm 1968, đã nhận xét rằng kẻ thù tồi tệ nhất của Mỹ chính là nạn tham nhũng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hàng tỷ USD viện trợ của Mỹ đã bị tham ô rồi bán ra chợ đen. Ông đã chứng kiến những kho hàng lậu đầy ắp vũ khí quân dụng, có tới cả 1.000 khẩu súng trường, bao gồm cả loại súng M16 hiện đại. Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng tận dụng nạn tham nhũng của đối phương để mua vũ khí Mỹ đánh lại chính quân Mỹ. Quan chức Mỹ biết rõ tình trạng đó, nhưng chẳng làm gì bởi họ cần tiếp tục viện trợ để duy trì sự tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng hòa. William J. Lederer nhận xét: "Tôi đã thấy Hoa Kỳ sẽ bị đánh bại như thế nào - không phải chỉ bằng sức mạnh của đối phương, mà còn bởi chính những sai lầm của mình, sự bất lực của chính mình".Bản mẫu:Sfnp

Việc cắt giảm nghiêm trọng viện trợ của Mỹ đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất chiến đấu của quân đội. Các khẩu đội pháo trước đây được cấp 100 viên đạn mỗi ngày nay bị giảm xuống chỉ còn bắn 4 viên hằng ngày. Mỗi người lính QLVNCH bị giới hạn chỉ có 85 viên đạn mỗi tháng. Do thiếu hụt nhiên liệu và linh kiện thay thế, các chuyến xuất kích của trực thăng và máy bay vận tải Việt Nam Cộng hòa đã giảm từ 50 đến 70%.Bản mẫu:Sfnp Do mệnh lệnh "không nhượng đất" của Tổng thống Thiệu, quân đội đã bị dàn mỏng đến mức giới hạn để phòng thủ địa hình dọc theo biên giới dài 600 dặm. Ngay cả lực lượng dự bị chiến lược như Sư đoàn Nhảy dùSư đoàn Thủy quân Lục chiến, cũng bị sa lầy vào các vai trò phòng thủ tĩnh. QLVNCH, vốn được người Mỹ đào tạo theo lối cơ động nhanh và áp dụng hỏa lực tối đa, đang mất dần khả năng thực hiện cả hai điều đó.Bản mẫu:Sfnp Tình hình quân sự càng thêm trầm trọng bởi sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa và làn sóng tị nạn khổng lồ đổ vào các đô thị.[lower-alpha 2]

Trong cùng thời kỳ, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đang phục hồi sau những tổn thất trong Cuộc tiến công mùa Phục sinh năm 1972 bằng cách bổ sung nhân lực và trang thiết bị với viện trợ quân sự từ Liên Xô và Trung Quốc. Theo CIA ước tính, trong năm 1973, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã nhận được 2,8 triệu tấn hàng hóa (trị giá 330 triệu USD) từ các nước khối xã hội chủ nghĩa, tăng 50% so với năm trước. Vào năm 1974, tổng số đó đã tăng lên 3,5 triệu tấn (400 triệu USD). Trong khi đó, viện trợ cho Việt Nam cộng hòa bị cắt giảm xuống chỉ còn 965 triệu USD vào năm 1974, giảm mạnh so với mức 2,2 tỷ USD của năm 1973.[3]

Quân đội nhân dân Việt Nam (PAVN)

Đến cuối năm 1974, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành lập hai bộ tư lệnh quân đoàn, tương thích với cấu trúc chỉ huy và điều khiển của Việt Nam cộng hòa tại Vùng 1 và Vùng 2 Chiến thuật.Bản mẫu:Sfnp Hầu hết các trung đoàn bộ binh độc lập của Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam cũng được tổ chức lại thành các cấu trúc sư đoàn. Một báo cáo của Văn phòng Tùy viên Quốc phòng Mỹ (DAO) (được thành lập vào năm 1973 để thay thế MACV, gồm 50 sĩ quan và binh sĩ của DAO điều phối tất cả viện trợ quân sự cho Việt Nam cộng hòa) kết luận rằng Quân đội nhân dân Việt Nam đã tăng lực lượng dự bị chiến lược từ hai sư đoàn lên bảy sư đoàn, giúp có thêm 70.000 quân sẵn sàng bổ sung cho 200.000 quân chiến đấu và 100.000 quân hậu cần đã có mặt ở miền Nam Việt Nam.Bản mẫu:Sfnp

Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam cũng nhận thấy nhu cầu cải thiện mạng lưới hậu cần của mình nhằm tạo điều kiện vận chuyển đủ lương thực, vũ khí và đạn dược cần thiết cho các chiến dịch quy mô lớn liên tục. Đến năm 1973, Đoàn vận tải 559, đơn vị kiểm soát đường mòn Hồ Chí Minh ở đông nam Lào, được lệnh mở rộng sang phía đông Dãy Trường Sơn và đi trực tiếp vào miền Nam Việt Nam. Tuyến đường hậu cần mới, Hành lang 613, chạy bên trong miền Nam Việt Nam từ vùng DMZ vào tận Lộc Ninh. Bên cạnh việc tạo ra nhánh mở rộng mới, Đoàn 559 đã nâng cấp toàn bộ mạng lưới của mình, xây dựng các con đường trải mặt kiên cố, chịu được mọi thời tiết để đáp ứng cho một quân đội cơ giới hóa hiện đại được xây dựng lại kể từ sau Hiệp định Hòa bình Paris. Công việc này đòi hỏi hai năm để hoàn thành, nhưng thời gian cần thiết để vận chuyển nhân lực từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường cực nam đã giảm từ bốn tháng xuống còn ba tuần.Bản mẫu:Sfnp

Một của những đặc điểm đe dọa nhất của việc tăng cường lực lượng mới của Quân đội nhân dân Việt Nam là mạng lưới phòng không được thiết lập ngay trong miền Nam Việt Nam, tính đến năm 1975 bao gồm 22 trung đoàn được trang bị các hệ thống pháo điều khiển bằng radar và các tên lửa phòng không SA-2 Guideline cùng tên lửa vác vai SA-7 Grail.Bản mẫu:Sfnp Các hệ thống này cấu thành một mối đe dọa răn đe lớn đối với Không lực Việt Nam Cộng hòa (RVNAF), do máy bay của họ không được trang bị để đối phó với những mối đe dọa như vậy. Kết quả là, việc RVNAF oanh tạc trên không nhằm ngăn chặn quá trình xây dựng hậu cần của đối phương trở nên gần như bất khả thi và các chuyến bay trinh sát được giữ ở mức tối thiểu.Bản mẫu:Sfnp Trớ trêu thay, quyết định của Mỹ trong việc cung cấp cho RVNAF các loại máy bay không mấy tinh vi một phần xuất phát từ nỗi sợ rằng máy bay tốt hơn sẽ kích thích Việt Nam Cộng hòa phát động các chiến dịch tấn công ra miền Bắc. Các máy bay có năng lực kém hơn sẽ giữ cuộc chiến ở mức độ tương đối thấp hơn, tăng cường khả năng đàm phán.Bản mẫu:Sfnp Sự thiếu hụt các hoạt động thu thập tình báo tích cực này đã khiến việc ước tính sức mạnh và ý đồ của Quân đội nhân dân Việt Nam trở nên khó khăn hơn nhiều.

Tuy nhiên, những thiếu hụt của lực lượng tăng thiết giáp và pháo binh hạng nặng của Quân đội nhân dân Việt Nam, vốn rất cần thiết cho các cuộc tấn công vào các căn cứ cấp trung đoàn và sư đoàn kiên cố của QLVNCH, đã đè nặng lên tâm trí của các nhà hoạch định thuộc Bộ Tổng tham mưu khi họ lập ra kế hoạch trình lên Bộ Chính trị vào tháng 10 năm 1974. Nhiều sự chú ý đã tập trung vào vai trò của tình trạng thiếu thốn đạn dược của QLVNCH trong sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa, nhưng người ta không biết liệu Quân đội nhân dân Việt Nam có phải chịu tình trạng thiếu hụt tương tự hay không. Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt là trong danh mục "vũ khí tiến công" (xe tăng và pháo binh), đã giảm đáng kể kể từ sau Hiệp định Paris.[4]Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Ngoài ra, phần lớn xe tăng và pháo binh của Quân đội nhân dân Việt Nam ở trong tình trạng kém và linh kiện thay thế rơi vào cảnh khan hiếm. Hầu hết các đơn vị pháo binh của Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam, vẫn chỉ được trang bị súng cối hạng nhẹ, súng không giật, hoặc bệ phóng tên lửa một nòng. Tại địa bàn tác chiến của Trung ương Cục miền Nam, bao gồm nửa phía nam đất nước, bảy sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 3, 4, 5, 6, 7, 89) và một bộ tư lệnh quân đoàn (Quân đoàn 4) chỉ được hỗ trợ bởi vỏn vẹn năm tiểu đoàn pháo dã chiến, hai trong số đó trang bị vũ khí thu được của Mỹ vốn có rất ít đạn, và ba tiểu đoàn thiết giáp thiếu quân số. Quân đoàn 2 của Quân đội nhân dân Việt Nam, với ba trung đoàn pháo binh thuộc ba sư đoàn bộ binh trực thuộc, một lữ đoàn pháo binh, một lữ đoàn xe tăng và một tiểu đoàn thiết giáp độc lập, chỉ có thể tung ra tổng cộng 89 xe tăng và xe bọc thép chở quân cùng 87 khẩu pháo kéo khi xuất quân tấn công Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975.Bản mẫu:Sfnp Do việc Trung Quốc cắt giảm hỗ trợ quân sự đã buộc Quân đội nhân dân Việt Nam phải sử dụng các xe tăng lỗi thời T-34 và pháo tự hành diệt tăng SU-100 trong cuộc tiến công.[5]Bản mẫu:Sfnp

Cả xe tăng và pháo binh hạng nặng (pháo dã chiến và súng cối có cỡ nòng từ 85mm trở lên) của QLVNCH và Quân đội nhân dân Việt Nam đều phải chịu tình trạng thiếu hụt đạn dược trầm trọng. Đại tướng Văn Tiến Dũng viết rằng, so với năm 1973, trong năm 1974 "hỏa lực của QLVNCH đã giảm gần 60% vì thiếu bom và đạn. Khả năng cơ động của nó cũng bị giảm một nửa do thiếu máy bay, xe cộ và nhiên liệu... Sự cắt giảm viện trợ của Mỹ đã khiến quân đội bù nhìn không thể thực hiện các kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của họ." Sự sụt giảm hỏa lực tiếp tục kéo dài trong suốt năm tiếp theo khi QLVNCH nỗ lực tiết kiệm đạn dược. Trong các cuộc giao tranh ác liệt từ tháng 7 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975, QLVNCH tiêu thụ trung bình 18.267 tấn đạn mỗi tháng, so với 66.500 tấn mỗi tháng vào năm 1972, giảm hơn 72%.Bản mẫu:Sfnp Tuy nhiên, nhờ viện trợ lũy kế từ các năm trước, quân đội VNCH vẫn có dự trữ vật tư chiến tranh dồi dào, lên tới 1.930.000 tấn với hàng triệu viên đạn pháo.

Ở phía bên kia, Quân đội nhân dân Việt Nam bị thiếu đạn dược nghiêm trọng: toàn bộ kho đạn pháo hạng nặng và pháo xe tăng của Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1974, bao gồm tất cả số đạn tại các kho tiền phương và trong các kho dự trữ chiến lược, chỉ đạt tổng cộng 100.000 viên. Vấn đề đạn dược nghiêm trọng đến mức bộ tư lệnh pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam đã phải thay thế các vũ khí lớn hơn ở một số đơn vị bằng các khẩu pháo 76,2 mm và 57 mm lạc hậu được rút ra từ kho lưu trữ vốn vẫn còn đủ đạn phù hợp. Do đó, cuộc tiến công sẽ phải dựa một phần vào các kho khí tài thu giữ được của QLVNCH.Bản mẫu:Sfnp

Nhiều nhà sử học duy trì quan điểm rằng trước sự cắt giảm ồ ạt viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa sau năm 1973, bất kỳ cuộc tiến công lớn nào của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chắc chắn thành công. Tuy nhiên, các binh sĩ QLVNCH đều là những cựu binh dạn dày chiến trận, và Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì các kho dự trữ đạn dược và thiết bị khổng lồ (như đã được chứng minh bởi số lượng vũ khí khổng lồ gồm hàng nghìn xe tăng, đại bác và hàng triệu viên đạn pháo mà Quân đội nhân dân Việt Nam thu giữ khi chiến tranh kết thúc). Sự sụp đổ cuối cùng của QLVNCH có thể là điều khó tránh khỏi, nhưng kết cục sẽ đẫm máu hơn nhiều và lâu đến hơn nhiều nếu Quân đội nhân dân Việt Nam lựa chọn một kế hoạch tấn công chính quy trực diện hơn. Trên thực tế, đòn đánh gây thiệt hại nặng nề nhất cho toàn bộ chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam có lẽ chính là đòn giáng mạnh mẽ vào tâm lý mà chiến lược tài tình và đầy bất ngờ của họ đã gây ra cho tâm trí của tổng tư lệnh phía QLVNCH.Bản mẫu:Sfnp

Tương quan lực lượng

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam

Năm hướng tiến công vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (26–30/4/1975): Tây Bắc – Quân đoàn 3; Bắc – Quân đoàn 1; Đông Nam – Quân đoàn 2; Đông – Quân đoàn 4; Tây và Tây Nam – Đoàn 232 cùng chủ lực Quân khu 8.

Hướng Tây Bắc – Mặt trận Tây Nguyên (B3)
Hướng Bắc – Mặt trận Quảng Trị – Thừa Thiên Huế (B5)

Quân đoàn 2 tham gia từ đầu chiến dịch; các đơn vị chủ lực khu tham gia từ giai đoạn trước.Chỉ huy quân đoàn là Thiếu tưống Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh, Thiêu tướng Lê Linh làm Chính uỷ.Bản mẫu:Sfnp

Ven biển miền Trung (Khu 5)
  • Sư đoàn Bộ binh 2
  • Trung đoàn Bộ binh 93 (chủ lực khu)
  • Trung đoàn Bộ binh 94 (chủ lực khu)
  • Trung đoàn Bộ binh 96 (chủ lực khu)
  • Trung đoàn Bộ binh 271 (Quân khu 4 tăng cường)
  • Trung đoàn Bộ binh 46 (Quân khu 3 tăng cường)
  • Trung đoàn Pháo binh 572
  • Trung đoàn Pháo binh 576
  • Trung đoàn Tăng thiết giáp 574
  • Trung đoàn Phòng không 573
  • Trung đoàn Công binh 83
Hướng Đông – Đông Nam Bộ (B2)
Tập tin:South Vietnam - The final days 1975.jpg
Bản đồ miêu tả Chiến dịch Mùa Xuân 1975 của Hoa Kỳ
  • Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long). Tư lệnh: Thiếu tướng Hoàng Cầm; Chính ủy: Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện.Bản mẫu:Sfnp
  • Khối chủ lực miền (B2):
    • Sư đoàn Bộ binh Phước Long (thành lập tháng 2 năm 1975 từ các đơn vị thuộc C30B)
    • Sư đoàn Đặc công 2
    • Lữ đoàn Đặc công 316
  • Khối chủ lực Khu 6:
    • Trung đoàn Bộ binh 812
    • Tiểu đoàn Pháo binh 130
    • Tiểu đoàn Đặc công 200C
  • Khối chủ lực Khu 7:
    • Trung đoàn Bộ binh 16
    • Trung đoàn Bộ binh 271B
Hướng Tây và Tây Nam – Đồng bằng Tây Nam Bộ (Khu 8 và Khu 9)
Khu vực Sài Gòn – Gia Định (T-4)
  • Trung đoàn Bộ binh 1 (Đoàn Gia Định 1)
  • Trung đoàn Bộ binh 2 (Đoàn Gia Định 2)
Quân dự bị chiến lược – tham gia giai đoạn cuối Chiến dịch Hồ Chí Minh
Lực lượng Hải quân và Không quân
Các quân khu
  • Trung đoàn Bộ binh 271 (Quân khu 4)
  • Trung đoàn Bộ binh 46 (Quân khu 3)
  • Trung đoàn An ninh vũ trang thuộc Bộ Tư lệnh Miền
  • Trung đoàn Gia Định
  • 4 Trung đoàn Cao xạ
  • 3 Trung đoàn Đường ống xăng dầu
Tuyến vận tải Trường Sơn (Đoàn 559 – Binh đoàn Trường Sơn)
  • Sư đoàn 968 (trực thuộc Đoàn 559; tham gia chiến đấu từ Chiến dịch Tây Nguyên)
  • Sư đoàn Phòng không 377
  • 2 Sư đoàn Ô tô vận tải 471, 571
  • Trung đoàn Công binh 470
  • 3 Trung đoàn Công binh 472, 473, 565
  • 2 Trung đoàn Cao xạ độc lập
  • 1 Trung đoàn Vệ binh
  • 1 Trung đoàn Đường ống xăng dầu
  • 2 Trung đoàn Thông tin liên lạc
Lực lượng bảo vệ hậu phương miền Bắc (không trực tiếp tham chiến ở miền Nam)

Trong khi toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược được đưa vào chiến trường, các đơn vị sau đây được giữ lại để bảo vệ miền Bắc, đề phòng mọi tình huống bất ngờ từ bên ngoài.

Lực lượng bộ binh

Lực lượng Phòng không – Không quân

Lực lượng Phòng thủ bờ biển

  • 2 Trung đoàn Pháo tầm xa bảo vệ bờ biển
  • 4 Hải đội tàu phóng lôi và tuần duyên

Lực lượng xe tăng – thiết giáp huy động cho chiến dịch gồm 320 xe tăng và 250 xe bọc thép,[8] bao gồm các loại xe tăng T-34, T-54, pháo tự hành ZSU-57-2SU-100 của Liên Xô; xe tăng lội nước PT-76 của Ba Lan; xe thiết giáp BTR-40/50/60/152 của Liên Xô; cùng xe tăng chủ lực kiểu 59xe tăng hạng nhẹ kiểu 63 của Trung Quốc. Ngoài ra còn có 679 xe ô tô các loại phục vụ chiến đấu.[8]

Pháo binh yểm hộ mặt đất gồm 88 khẩu pháo cỡ lớn (pháo nòng dài 130 mm, 122 mm và lựu pháo 105 mm) và 1.561 pháo nhỏ, súng cối, súng chống tăng không giật (ĐKZ).[8] Trang bị cụ thể gồm súng cối các cỡ nòng 60 mm, 81 mm và 120 mm; ĐKZ cỡ nòng 73 mm và 82 mm; các dàn pháo phản lực H-12, BM-13 và BM-14.

Lực lượng phòng không được trang bị một số hệ thống tên lửa SAM-2 và 343 pháo phòng không các cỡ 37 mm, 57 mm, 85 mm và 100 mm. Các đơn vị bộ binh có súng máy phòng không cỡ 12,7 mm và 14,5 mm; một số đơn vị được trang bị thêm tên lửa vác vai Strela 2 để đối phó máy bay tầm thấp. Lực lượng không quân tham gia giai đoạn cuối chiến dịch sử dụng 6 máy bay A-37 thu được của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tại các sân bay Đà Nẵng và Thành Sơn, cùng một số tàu phóng lôi, tàu tuần duyên cỡ nhỏ, tàu vận tải và xuồng chiến đấu của Hải quân.

Đây là chiến dịch mà Quân Giải phóng huy động phương tiện vận tải với quy mô lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến. Riêng tuyến vận tải chiến lược đã sử dụng 3.400 xe cơ giới, 32 tàu biển và 310 toa xe lửa; ở cấp chiến dịch sử dụng gần 4.000 xe vận tải, 656 ghe xuồng và canô, 300 xe bò, gần 2.000 xe đạp thồ và hơn 63.000 dân công.[9] Ngoài ra còn huy động 2.000 phương tiện vận tải thủy của Hải quân và 17.000 xe ô tô từ các quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn và cơ quan nhà nước.

Quá trình chuẩn bị cho chiến dịch

Theo một số hãng thông tấn phương Tây, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tính đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (kể cả các sư đoàn phòng thủ miền Bắc, không tham gia chiến đấu trực tiếp) gồm 23 Sư đoàn Bộ binh và các lực lượng.Bản mẫu:Sfnp

Trong 2 năm (1973-1974), tại miền Bắc đã có 242.023 thanh niên nhập ngũ. Đến đầu năm 1975, các lực lượng trên đường Trường Sơn đã mở được 5.560 km đường mới các loại (gần bằng nửa độ dài các con đường đã mở trong 8 năm trước), đưa chiều dài của hệ thống đường vận tải và hành quân dọc dãy Trường Sơn lên 16.790 km, trong đó có 6.810 km đường trục dọc, 4.980 km đường ngang và 5.000 km đường vòng tránh. Từ đầu năm 1973 đến 4/1975, đã vận chuyển trên 823.146 tấn hàng hoá các loại (gấp 1,6 lần khối lượng vận chuyển của 13 năm trước đó), trong đó giao cho các chiến trường 364.524 tấn (gấp 2,6 lần khối lượng vận chuyển của 13 năm trước đó). Trong hơn 2 năm (1973 đến 4/1975), quân Giải phóng đã tổ chức cho 411.161 lượt người (có 25.989 cán bộ dân chính đảng) hành quân vào miền Nam (riêng từ tháng 11/1974 đến 4/1975 đã đưa vào chiến trường hơn 232.000 người). Về trang bị, trong 2 năm 1973 - 1974 đã vận chuyển vào miền Nam 149 đoàn binh khí kỹ thuật với 269 khẩu pháo mặt đất, 974 pháo cao xạ, 457 xe tăng và xe bọc thép; đưa 219.380 thương bệnh binh ra miền Bắc điều trị[10] Trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy, ngành Hậu cần đã vận chuyển nhiều quân đoàn, sư đoàn và lực lượng binh khí kỹ thuật, vận chuyển vào các chiến trường 46.892 tấn đạn và 93.540 tấn xăng dầu, tạo nên lượng dự trữ gần 260.000 tấn vật chất trên các chiến trường; cứu chữa cho 15.999 thương binh; thu trên 360.000 tấn chiến lợi phẩm.[11]

Theo tướng Võ Nguyên Giáp thì khi tuyển quân tham gia chiến dịch đã có những khó khăn gay gắt bởi số lính nhập ngũ đã chiếm quá nửa số nam thanh niên từ 18-25 tuổi còn lại trong cả nước. Dù đường Trường Sơn đã yên tĩnh hoàn toàn thì miền Bắc cũng không còn nhiều nhân lực để đưa vào nam nữa. Kế hoạch động viên năm 1975 lên đến 108.000 người (tăng 50% so với 1973 và 1974) tuy là cao nhưng rất cần thiết, và ngay trong 2 tháng đầu năm 1975 phải bổ sung nhanh chóng 57.000 người. Ông yêu cầu bất kỳ tình huống nào cũng phải đủ quân tham chiến ở miền Nam, nên dù có phải tuyển thêm ở độ tuổi 26-30 và kể cả khu vực học sinh, sinh viêncán bộ, công nhân viên Nhà nước cũng phải làm.[12]

Sự ủng hộ của người dân miền Nam

Đến đầu năm 1975, số lượng dân quân tự vệ và du kích tại miền Nam đã đạt tới 296.984 người, trong đó có 83.953 người trực tiếp tham gia chiến đấu[13]

Trước ngày Tổng tấn công và nổi dậy, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, sinh viên, các tổ chức hòa bình đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Thiệu từ chức... nổ ra ở tất cả các thành phố lớn, diễn ra dưới nhiều hình thức, kết hợp bí mật với công khai và bán công khai, hợp pháp và bán hợp pháp... đã tập hợp ngày càng nhiều quần chúng ủng hộ quân Giải phóng, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế lúng túng, hoang mang, bị động. Các hạt nhân chính trị ở vùng ven và nội đô các thành phố được tích cực xây dựng, với hàng chục vạn quần chúng có tổ chức sẵn sàng nổi dậy. Từ vùng rừng núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị; trong nông dân, công nhân, tín đồ các tôn giáo, lực lượng trí thức, sinh viên, học sinh... đều thành lập cơ quan chỉ huy kháng chiến và nổi dậy, tổ chức học tập chính trị, phân công nhiệm vụ theo phương án kết hợp tổng tiến công và nổi dậy, như: biểu tình đấu tranh, trinh sát, dẫn đường, tiếp tế lương thực, thực phẩm, may cờ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, làm công tác binh vận và xuống đường phối hợp với các mũi tiến công quân sự giải phóng địa bàn. Cùng với đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương nhằm diệt những binh lính Việt Nam Cộng hòa còn cố chống cự, phá vòng vây, khống chế và phá rã phòng vệ dân sự, công tác binh vận cũng được tăng cường, nhằm tranh thủ lôi kéo binh lính, nhân viên, các phe phái trong nội bộ Việt Nam Cộng hòa, mở rộng mặt trận đoàn kết, cô lập những kẻ còn ngoan cố, góp phần đánh sập ý chí chiến đấu, sức phản kháng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tạo thêm thế và lực cho Quân Giải phóng và người dân vùng khác tiến hành tổng công kích, hạn chế bớt đổ máu.[14]

Trên chiến trường miền Nam, khắp các tỉnh, thành phố, nhân dân miền Nam đã bao bọc cho Quân Giải phóng; tổ chức đào hầm bí mật để bảo vệ cán bộ, cất giấu vũ khí, cùng Quân Giải phóng vận động lính Việt Nam Cộng hòa không đi càn. Đặc biệt, để huy động lực lượng đến mức cao nhất, hàng vạn cán bộ được điều động để tăng cường cho thành phố Sài Gòn - Gia Định và các địa bàn ven đô.

Riêng ở Quân khu 9, trong nửa đầu tháng 4-1975 đã có hơn 9.000 thanh niên gia nhập quân Giải phóng, đưa tổng số tiểu đoàn quân chủ lực của quân khu từ 14 lên 23 tiểu đoàn. Quân khu 8 tuyển hơn 5.000 thanh niên, thành lập thêm 7 tiểu đoàn chủ lực. Nhiều tỉnh phát triển từ 3 lên 6 tiểu đoàn. Lực lượng khởi nghĩa được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn với số lượng hơn 10.000 nam, nữ thanh niên xung phong... Cuối chiến dịch, ở một số địa bàn mà đơn vị hành chính cũ đã đầu hàng, thanh niên địa phương đã bắt liên lạc gia nhập Quân Giải phóng. Chính sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân là động lực mạnh mẽ để quân Giải phóng quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.[15]

Nhân dân địa phương đã vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xe tăng và pháo của Quân Giải phóng vượt qua. Nhân dân đã dẫn đường cho các mũi đột kích của Quân Giải phóng đánh chiếm nhiều mục tiêu khác nhau trên chiến trường miền Nam. Trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, những nơi chưa có bộ đội tiếp quản thì nhân dân, chủ yếu là công nhân, sinh viên, học sinh tiếp quản tạm thời.[16]

Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Binh lực

Ở thời điểm năm 1975, Hoa Kỳ đã rút quân viễn chinh về nước. Tuy rút hết quân trên danh nghĩa, nhưng trong thực tế, Hoa Kỳ vẫn duy trì Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam với hàng ngàn nhân viên quân sự tại miền Nam Việt Nam (dưới danh nghĩa "cố vấn") để tham gia chỉ huy tác chiến, vận chuyển vũ khí, điều phối các hoạt động quân sự và thu thập thông tin tình báo.

Về Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

  • Tổng quân số: 1.351.000 người, gồm 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương và 381.000 quân "phòng vệ dân sự" có vũ trang.
  • 13 Sư đoàn Bộ binh và binh chủng đặc biệt gồm: Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 3, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 21, Sư đoàn 18, Sư đoàn 22, Sư đoàn 23, Sư đoàn 25, Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy quân lục chiến.
  • Liên đoàn 81 biệt kích dù.
  • 18 liên đoàn biệt động quân.
  • 65 tiểu đoàn pháo binh.
  • 20 thiết đoàn, 3 lữ đoàn và 57 chi đội xe tăng thiết giáp.
  • 6 sư đoàn không quân.
  • 5 hải đoàn và 4 giang đoàn.

Vũ khí và trang thiết bị quân sự

  • Lục quân có 2.044 xe tăngxe thiết giáp, trong đó 383 xe tăng (M48 Patton: 162 chiếc, M41: 221 chiếc) và 1.661 xe thiết giáp các loại (M-113, V-100, M42 Duster, M578...). Theo thư viện chiến tranh Hoa Kỳ, đầu năm 1975 QLVNCH có 550 xe tăng (M48A3 và M41A3) và 1.381 xe thiết giáp M-113 (chưa kể các loại khác).[17]
  • Pháo binh có 1.556 khẩu pháo cỡ lớn (các cỡ 175 mm, 155 mm, 105 mm). Theo thư viện chiến tranh Hoa Kỳ, đầu năm 1975 QLVNCH có 1.607 khẩu pháo cỡ lớn, 14.900 súng cối, 200 khẩu súng chống tăng không giật cỡ 90 mm, 63.000 súng chống tăng M72 LAW và 47.000 súng phóng lựu M79.[18]
  • Không quân có 1.683 máy bay các loại, gồm: 699 trực thăng UH-1; 61 trực thăng CH-47; 61 cường kích cánh quạt A-1; 202 cường kích phản lực A-37; 129 tiêm kích phản lực F-5; 30 máy bay vận tải C-130; 52 máy bay vận tải C-47; 62 máy bay trinh sát các loại RC-47, RC-119 và RF-5; 167 máy bay quan sát – liên lạc O-1; 31 máy bay quan sát – liên lạc O-2; 89 máy bay liên lạc U-1 và U-17; 46 máy bay huấn luyện T-37 và T-41.
  • Phòng không có 167 khẩu cao xạ cỡ nòng 40 mm.
  • Hải quân có 579 tàu chiến, tàu chở quân, tàu vận tải, tàu vớt mìn và tàu phóng lôi trên biển; 1.016 tàu xuồng chiến đấu, vận tải và vớt mìn trên sông.

Bố trí binh lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa[19]

Quân khu I (Quân đoàn I)

Lực lượng mặt đất

  • Các Sư đoàn Bộ binh 1, 2, 3; mỗi sư đoàn được tăng phái 1 thiết đoàn kỵ binh (4, 7, 11) và 4 tiểu đoàn pháo.
  • Các liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15.
  • Các thiết đoàn kỵ binh trực thuộc quân đoàn 17, 18, 20.
  • 3 tiểu đoàn pháo binh trực thuộc quân đoàn (trang bị pháo M-107 và pháo 155 mm).
  • 3 tiểu đoàn phòng không trang bị pháo cao xạ 40 mm.
  • 4 tiểu đoàn biệt kích thám báo.
  • 8 liên đoàn bảo an gồm 50 tiểu đoàn.
  • 4 đại đội cảnh sát dã chiến.
  • 2 liên đoàn công binh 8 (xây dựng) và 10 (chiến đấu).

Không quân

  • Sư đoàn Không quân 1 gồm 5 phi đoàn chiến đấu, 6 phi đoàn trực thăng, 1 phi đoàn vận tải và 1 phi đoàn trinh sát; căn cứ tại Đà Nẵng.

Hải quân

  • Bộ chỉ huy Vùng 1 Hải quân có 6 duyên đoàn trực thuộc.
Quân khu II (Quân đoàn II)

Lực lượng mặt đất

  • Các Sư đoàn Bộ binh 22 và 23; ngoài các trung đoàn bộ binh, mỗi sư đoàn còn có 1 thiết đoàn kỵ binh (3/22, 14/23) và 4 tiểu đoàn pháo binh.
  • Các liên đoàn biệt động quân 21, 22, 23, 24, 26 (của quân khu) và 4, 6 (của Bộ Tổng tham mưu tăng phái).
  • Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp 2 gồm các thiết đoàn 8, 19, 21.
  • 6 tiểu đoàn pháo binh trực thuộc quân đoàn.
  • 2 tiểu đoàn phòng không 40 mm.
  • 4 liên đoàn bảo an.
  • 2 tiểu đoàn và 4 đại đội cảnh sát quân cảnh.
  • 16 đại đội cảnh sát dã chiến.

Không quân

  • Các Sư đoàn Không quân 2 (căn cứ tại Phù Cát, Pleiku) và 6 (căn cứ tại Nha Trang, Phan Rang) gồm 9 phi đoàn chiến đấu, 6 phi đoàn trực thăng và 4 phi đoàn trinh sát – huấn luyện.

Hải quân

  • Bộ chỉ huy Vùng 2 Hải quân có 6 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
Quân khu III (Quân đoàn III)

Lực lượng mặt đất

  • Các Sư đoàn Bộ binh 5, 18 và 25; mỗi sư đoàn còn có 1 thiết đoàn kỵ binh (1, 5, 10) và 4 tiểu đoàn pháo binh.
  • Các liên đoàn biệt động quân 31, 32 và 33.
  • Lữ đoàn Kỵ binh 3 gồm thiết đoàn xe tăng 22 và thiết đoàn kỵ binh 15.
  • Chiến đoàn biệt kích thám báo số 1.
  • 4 tiểu đoàn pháo binh trực thuộc quân đoàn.
  • 1 tiểu đoàn cao xạ phòng không 40 mm.
  • 5 liên đoàn bảo an.
  • 4 tiểu đoàn và 5 đại đội quân cảnh.
  • 33 đại đội cảnh sát dã chiến.
  • 2 liên đoàn công binh 5 (xây dựng) và 30 (chiến đấu).
  • 2 liên đoàn thông tin.

Không quân

  • Các Sư đoàn Không quân 3 (tại Biên Hòa) và 5 (tại Tân Sơn Nhất) gồm 5 phi đoàn chiến đấu, 7 phi đoàn trực thăng, 4 phi đoàn vận tải và 2 phi đoàn trinh sát – huấn luyện.

Hải quân

  • Hạm đội Trung ương gồm 7 tàu tuần dương và khu trục, 7 tàu hộ tống và hơn 100 tàu nổi khác.
  • 4 hải đoàn tuần duyên và 3 hải đội duyên phòng.
  • 4 liên giang đoàn và 6 giang đoàn độc lập.
Quân khu IV (Quân đoàn IV)

Lực lượng mặt đất

  • Các Sư đoàn Bộ binh 7, 9, 21; ngoài các trung đoàn bộ binh, mỗi sư đoàn còn có 1 thiết đoàn kỵ binh (2, 6, 9) và 4 tiểu đoàn pháo binh.
  • Lữ đoàn Kỵ binh 4 gồm các thiết đoàn 12 và 16.
  • 3 tiểu đoàn pháo binh trực thuộc quân đoàn.
  • 2 liên đoàn công binh 7 (xây dựng) và 20 (chiến đấu).
  • 10 liên đoàn bảo an.
  • 5 tiểu đoàn và 1 đại đội quân cảnh.
  • 20 đại đội cảnh sát dã chiến.

Không quân

  • Sư đoàn Không quân 4 gồm 3 phi đoàn chiến đấu, 6 phi đoàn trực thăng và 2 phi đoàn huấn luyện; căn cứ tại Bình Thủy (Cần Thơ) và Trà Nóc (Sóc Trăng).

Hải quân

  • 4 hải đoàn tuần duyên.
  • 2 hải đội duyên phòng.
  • 3 liên giang đoàn đặc nhiệm thủy bộ.
  • 7 liên giang đoàn đặc nhiệm tuần tra.
  • 7 giang đoàn xung kích.
Biệt khu Thủ đô
  • Lữ đoàn An ninh Thủ đô (gồm 3 tiểu đoàn).
  • 2 tiểu đoàn quân cảnh.
  • 11 tiểu đoàn bảo an.
  • 2 tiểu đoàn công vụ.
Các đảo ven biển miền Trung, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc
  • 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến.
  • 1 tiểu đoàn bộ binh.
  • Một số đơn vị hỏa lực.
  • 4 hải đội tuần duyên, 1 tàu tuần dương, 2 tàu hộ tống, 4 tàu đổ bộ loại LCU (thay phiên tăng phái từ đất liền).[20]

Các điểm yếu của quân đội VNCH

Quân đội Việt Nam Cộng hòa có hơn 1,3 triệu quân, được Hoa Kỳ trang bị hiện đại, nhưng đội quân này tồn tại rất nhiều điểm yếu.

Không có sự ủng hộ của người dân

Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn).[21] Gregory Daddis nhận xét: Những hành vi tội ác của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến người dân xem họ như kẻ thù. Một nông dân kể rằng "Khi quân đội VNCH tới, mọi người trong làng đều bị đe dọa... Quân đội thoải mái đánh đập bất cứ ai, giết bất cứ ai", người khác kể rằng "cứ mỗi lần quân đội VNCH tới thì lại càng có nhiều người dân kết thân với Việt cộng". Khi được hỏi tại sao người dân không ủng hộ chính phủ Sài Gòn, một người dân trả lời "vì quân đội Quốc gia... thường xuyên đốt nhà của dân làng và hiếp dâm phụ nữ". Không có cách nào để quân đội Việt Nam Cộng hòa có thể đánh bại đối phương khi mà người dân đã xa lánh họ và quan hệ thân thiết với quân Giải phóng.[22]

Theo nhà sử học Vũ Ngự Chiêu thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa chỉ có thể kiểm soát hoàn toàn được khoảng 20-30% dân số miền Nam. Phân nửa lãnh thổ với khoảng 1/3 dân số sống trong vùng tranh chấp. Phần còn lại sống trong những vùng do quân Giải phóng miền Nam kiểm soát. Ngay trong số người dân ở vùng do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát, nhiều người cũng không ủng hộ chế độ này, những người này ngầm ủng hộ quân Giải phóng, hoặc chia làm nhiều phe phái chống lại nhau vì những lý do như tôn giáo (Thiên Chúa giáo - Phật giáo), sắc tộc (người Việt - người Hoa), vùng miền (gốc Bắc – gốc Nam)[7]

Donald Duncan, sĩ quan xuất sắc của Lực lượng Đặc biệt Mỹ tại Việt Nam trong giai đoạn 1964-65, nhận xét:[23]

Lính VNCH càng qua nhiều lần thì dân chúng càng có cảm tình hơn với VC (quân Giải phóng). VC có thể ngủ trong nhà họ, còn quân chính phủ thì cướp bóc. VC giúp họ trồng và thu hoạch, còn lính chính phủ thì phá trụi. Hiếp dâm sẽ bị VC trừng phạt nghiêm khắc, nhưng lại là quá bình thường bên phía VNCH đến mức hiếm ai dám tố cáo vì họ sợ sẽ phải hứng chịu những tội ác còn tồi tệ hơn.
Tôi đã thấy lữ đoàn dù VNCH đến Nha Trang, và hầu như đã khủng bố thành phố trong 3 ngày. Tiểu thương nhặt nhạnh tiền bạc rời thành phố, quán hàng đóng cửa. Lính tráng vào quán gọi đồ rồi không trả tiền, thay vào đó là đập phá quán. Họ ghẹo gái trên phố và cảnh sát thì bất lực hoặc không muốn giúp.

Nhờ có được sự ủng hộ từ người dân, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam áp dụng hiệu quả chiến lược chiến tranh nhân dân, do đó Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị dồn ép liên tục, phải trải quân khắp nơi để giữ đất. Toàn bộ 13 Sư đoàn và 17 Liên đoàn Biệt động quân (tương đương với 5 sư đoàn) phải bảo vệ 44 tỉnh, tính trung bình một tỉnh chỉ được 1 tới 2 Trung đoàn chính quy đóng giữ. Trong khi đó quân Giải phóng miền Nam do nắm thế chủ động chiến lược có thể tập trung hơn 10 Trung đoàn để đánh một tỉnh như tại Buôn Mê Thuột tháng 3/1975.

Sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ

Do phải chiến đấu nhiều năm trong điều kiện bị áp đảo về hỏa lực nên Quân Giải phóng miền Nam, có kinh nghiệm hơn hẳn về việc tận dụng vũ khí trong điều kiện thiếu thốn, trong khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì quen dựa dẫm vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ nên thường bị lúng túng khi phải tự lực chiến đấu. Các tướng lĩnh Mỹ đã nhận xét: "Hiệu quả chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đều, họ đứng vững được bởi sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên không... Điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy là họ tỏ ra quá phụ thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ".[24][25]

Tập tin:ARVN helicopter.jpg
Một lính Việt Nam Cộng hòa đang cố gắng đu bám vào càng một chiếc trực thăng UH-1 để di tản

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không được tự đưa ra được quyết sách gì, chính sách từ lớn xuống bé đều do Tòa Đại sứ Mỹ, các tướng lĩnh MACV (Trung tâm chỉ huy tác chiến Hoa Kỳ tại Việt Nam), và sau này là USAID (Cơ quan quản lý viện trợ Hoa Kỳ) soạn thảo rồi đôn đốc thực hiện. Đại sứ Ellsworth Bunker và rồi Graham Martin có quyền lực không khác gì những “Toàn quyền Đông Dương” của Pháp trước kia – dù Việt Nam Cộng hòa không ngừng tự xưng là "Đồng minh" của Mỹ. Tổng chỉ huy quân đội là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn khởi đầu binh nghiệp làm thông ngôn cho quân Pháp. Bản thân ông lên được chức Tổng thống đều là do đảo chính chứ không phải vì thành tích mặt trận. Có được ghế Tổng thống rồi, ông Thiệu lại tập trung hết quyền bính trong tay, biến Bộ Tổng Tham mưu thành một cơ cấu thư ký, không được tự ra quyết sách (vì ông Thiệu sợ rằng đến lượt chính mình sẽ bị người khác đảo chính lật đổ). Qua màng lọc của hệ thống phe đảng của Tổng thống Thiệu, những cấp chỉ huy có tiềm năng nhưng không có thế lực chính trị đỡ đầu thì thường bị chết trận hay bị loại ngũ. Suốt 10 năm Quân lực Việt Nam Cộng hòa tác chiến dựa vào hỏa lực mạnh của Quân đội Hoa Kỳ, nên khi không còn hỏa lực Mỹ nữa thì bị lâm vào lúng túng. Hiệp định Paris 1973 khiến binh sĩ hoang mang rằng "Mỹ đã bỏ rơi chăng? Nếu Mỹ còn không đánh lại thì sao mà tự đánh được?", thế là tinh thần chiến đấu càng sụt giảm. Có đơn vị tự ý bỏ chạy khi vừa bị một viên pháo nã vu vơ vào đồn, đơn vị khác thì nghe tiếng máy cày trong đêm đã vội báo cáo tăng địch xuất hiện.[7]

Craig A. Lockard nhận xét rằng "trong sự khinh thường của những người Mỹ mà họ phục vụ, Việt Nam Cộng hòa chỉ là một thứ công cụ để hợp thức hóa việc phê chuẩn, nếu không phải là thường bị loại ra khỏi sự chỉ đạo của Mỹ. Việt Nam Cộng hòa hiếm khi đưa ra chính sách lớn, họ thậm chí còn không được tham khảo ý kiến về quyết định của Mỹ năm 1965 đưa một lực lượng lớn quân vào tham chiến trên bộ."[26] Suốt nhiều năm phụ thuộc vào quân Mỹ đã khiến các chỉ huy Việt Nam Cộng hòa không còn đủ khả năng để tự đưa ra các chiến lược lớn trên chiến trường.

Nạn tham nhũng

Tập tin:ARVN, Battle of An Loc 1972.jpg
Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đang cố bám vào càng một chiếc trực thăng UH-1 để di tản trong trận An Lộc

Nạn tham nhũng làm hao mòn trang bị và sức chiến đấu của quân đội: như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Súng cũng được tuồn ra bán với giá 25-30 đôla một khẩu. Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp Tư lệnh đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị và sớm tiêu thụ hết sạch sành sanh, tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết phần lớn số đó đã lọt vào tay quân Giải phóng[27]

Nhà sử học Vũ Ngự Chiêu nhận xét: cả guồng máy chống cộng của Việt Nam Cộng hòa giống một thứ siêu thị, người ta mua bán bất cứ thứ gì có thể sinh lợi, từ chức tước tới tấm giấy miễn quân dịch. Từ hồ sơ mật an ninh quốc phòng tới đạn dược, thuốc men, vật tư chiến tranh, từ góc phố tới nha sở, dinh thự. Mạng lưới tham nhũng khi đó rất tinh vi, và hễ có tiền là mua được tất cả, kể cả vũ khí. Thực tế, ngay đến Tư lệnh Quân khu, Sư đoàn, Tiểu khu trưởng... cũng đứng ra bảo trợ cho việc buôn lậu. Được dư luận biết đến nhiều nhất có vụ "lính ma, lính kiểng" của Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn IV, hay đoàn xe buôn lậu có Quân cảnh hộ tống do các mệnh phụ phu nhân của các tướng lĩnh – thường được gọi là “Mặt Trời Cái” – bảo trợ. Đó là chưa kể đường dây buôn lậu nha phiến, ngoại tệ và phế liệu chiến tranh do các tướng lĩnh Thiệu, Khiêm và Kỳ đứng đầu.[7]

Ngay cả đến người đứng đầu là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng dung túng cho vợ mình tham gia buôn lậu. Năm 1974, một vụ buôn lậu của bà Mai Anh (vợ Nguyễn Văn Thiệu) bị phát hiện, trị giá lô hàng gồm nhiều thứ xa xỉ phẩm hàng hiệu, trị giá khoảng 600 triệu đồng tiền Việt Nam Cộng hòa thời bấy giờ (tương đương 3 triệu USD thời giá năm 1974, hoặc 20 triệu USD thời giá năm 2017). Những người phát hiện vụ việc thay vì được khen thưởng đã bị tống giam, trong khi không có ai đứng đầu tổ chức buôn lậu này bị xét xử.[28][29]

Nhà báo người Mỹ William J. Lederer, trong chuyến điều tra năm 1968, đã nhận xét rằng kẻ thù tồi tệ nhất của Mỹ chính là nạn tham nhũng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hàng tỷ USD viện trợ của Mỹ đã bị tham ô rồi bán ra chợ đen. Ông đã chứng kiến những kho hàng lậu đầy ắp vũ khí quân dụng, có tới cả 1.000 khẩu súng trường, bao gồm cả loại súng M16 hiện đại. Quy mô buôn lậu lên tới hàng tỷ USD, với sự tham gia của đủ các thành phần: quan chức Việt Nam Cộng hòa, thương nhân Mỹ và Đài Loan, binh lính Mỹ, Hàn Quốc, Philippines... Ngay cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng tận dụng nạn tham nhũng của đối phương để mua vũ khí Mỹ đánh lại chính quân Mỹ. Quan chức Mỹ biết rõ tình trạng đó, nhưng chẳng làm gì bởi họ cần tiếp tục viện trợ để duy trì sự tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng hòa. William J. Lederer nhận xét: "Tôi đã thấy Hoa Kỳ sẽ bị đánh bại như thế nào - không phải chỉ bằng sức mạnh của đối phương, mà còn bởi chính những sai lầm của mình, sự bất lực của chính mình".[30]

Tinh thần chiến đấu thấp

Tập tin:043.png
Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đang cố trèo lên càng một chiếc trực thăng UH-1 để thoát khỏi chiến trường An Lộc.
Tập tin:Air Vice Marshal Ky arrives on the USS Midway.jpg
Tướng Nguyễn Cao Kỳ và tướng Ngô Quang Trưởng của VNCH khi chạy ra tàu sân bay Mỹ vào ngày 29 tháng 4 năm 1975

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không ngừng tham gia vào các âm mưu chính trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ. Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12 năm 1974, có 176.000 lính đào ngũ (trung bình mỗi tháng có 24.000 lính đào ngũ). Tại các lực lượng tinh nhuệ của quân đội, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam rất ít khi đào ngũ hoặc chịu đầu hàng; họ đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể.[31]

Ngày 12 tháng 11 năm 1968, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Clark Cliffords gửi thư công khai cảnh cáo Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu rằng:

"...Chỉ cần Quân lực Việt Nam Cộng hòa có được nửa lá gan của người cộng sản, thì ngày hôm nay quân đội Hoa Kỳ có thể duyệt binh ở Hà Nội rồi, Quân đội của các ông chỉ biết bắn giết dân thường, bám theo sau và rút chạy trước, tướng lĩnh thì toàn tham nhũng, toàn hiếp dâm và chỉ giỏi nhảy đầm."

Cuối năm 2005, cựu tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống kiêm Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa nhận định rằng:

Mục tiêu của các bên

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam

Tháng 4 năm 1974, Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã có Nghị quyết 21 yêu cầu các cơ quan chiến lược giúp Tổng Quân uỷ chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự, trong đó, tập trung xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Cuối tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam và Quân uỷ miền cũng gửi ra Hà Nội bản Kế hoạch tác chiến mùa khô 1974-1975 với dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Nội dung kế hoạch này cũng được bổ sung vào dự thảo kế hoạch của Quân uỷ Trung ương. Bản kế hoạch sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng, trình bày tại Hội nghị ngày 30 tháng 9 năm 1974 giữa Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội.Bản mẫu:Sfnp

Bản dự thảo kế hoạch chiến lược vạch ra các bước, các đợt hoạt động quân sự, các hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường; dự định hoàn thành trong 2 năm 1975-1976.[33]

  • Bước 1 (1975): Kế hoạch dự kiến phát động một cách bất ngờ các hoạt động quân sự trên phạm vi toàn bộ chiến trường miền Nam với ba đợt:
+ Đợt 1 (từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975): Hoạt động quân sự có mức độ với mục tiêu thăm dò phản ứng của đối phương tại Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Đợt 2 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1975): Mở chiến dịch tấn công quy mô lớn ở Nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở Đông Nam bộ, Bắc Khu V, Trị Thiên, Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Đợt 3 (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975): Phát triển tấn công ở Nam Bộ, mở rộng vùng giải phóng ở Trị Thiên, Khu V, tiếp tục chuẩn bị lực lượng, vũ khí, phương tiện.
  • Bước 2 (1976): Tiến hành tổng tiến công kết hợp với tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam dựa vào thời cơ có thể xuất hiện trong những giai đoạn sau:
+ Phương án 1: Sau đợt 2 (đợt tấn công chủ yếu của năm 1975).
+ Phương án 2: Đầu đợt 3 (phát triển tấn công ở Nam Bộ trong mùa mưa).
+ Phương án 3: cuối năm 1975 (khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà tổ chức bầu cử Tổng thống).
  • Phương châm hành động là tiến công với cường độ tăng dần từ nhỏ đến lớn; hạn chế chiến tranh trong phạm vi chiến trường miền Nam Việt Nam; thăm dò và theo dõi phản ứng và tái can thiệp của Hoa Kỳ; sẵn sàng đối phó với các hành động phản ứng quyết liệt của Hoa Kỳ bằng không quân và hải quân, kể cả bằng lực lượng phản ứng nhanh trên bộ; khai thác khả năng nổi dậy của dân chúng tại các vùng, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định.Bản mẫu:Sfnp

Các ý kiến bổ sung của Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp vào bản kế hoạch cũng chỉ rõ: "Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng nhưng năm 1975 là năm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng. Nếu thời cơ đến vào năm 1975 thì lập tức tiến hành tổng tấn công, giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975".[34]

Mọi thành viên bộ chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung ương Cục miền Nam Việt Nam đều nhất trí rằng Mỹ đã rút thì khó quay lại, nếu đánh bằng không quân cũng không thể cứu nổi VNCH. Họ đã giành được quyền chủ động chiến trường, tạo thế chiến lược vững chắc. Lực lượng quân sự, dự trữ vật chất được tăng cường, hệ thống đường chiến lược, chiến dịch đang hoàn chỉnh. Ở các đô thị, phong trào đấu tranh đòi lật đổ Thiệu đang phát triển. Vai trò của Mặt trận giải phóng được nâng cao. VNCH đã suy yếu nghiêm trọng toàn diện và họ khẳng định "Ở miền nam, ta (quân Giải phóng Miền Nam) đã mạnh hơn địch (chỉ quân đội Sài Gòn).[35]

Phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà

Đầu tháng 8 năm 1974, tại Sài Gòn đã diễn ra phiên họp quan trọng của Hội đồng An ninh quốc gia Việt Nam Cộng hoà dưới sự chủ trì của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá đặc biệt của Tổng thống, đã trình bày bản Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975 do Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà soạn thảo. Mục tiêu chiến lược của bản kế hoạch này không đề cập đến các hoạt động tấn công rộng rãi để "tràn ngập lãnh thổ" như các kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973 và 1974 mà tập trung vào nhiệm vụ giữ vững những vùng chiếm đóng, tiếp tục xoá các điểm "da báo", xoá các "lõm" của quân giải phóng miền Nam.[36]

Một trong các nhiệm vụ lớn được bàn thảo là việc ngăn chặn tiếp tế của Quân Giải phóng từ miền Bắc vào miền Nam. Ý kiến của Phó đô đốc Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân, cho rằng tiếp liệu qua đường biển của đối phương gần như đã bị Hải quân Việt Nam Cộng hoà cắt đứt hoặc ít nhất cũng bị gián đoạn trong thời gian dài; do đó, khả năng đối phương đánh lớn trong năm 1975 là hạn chế. Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không quân, đưa ra những kết quả trinh sát đường không và cho biết đã có hàng chục vạn tấn tiếp liệu được đối phương đưa vào miền Nam qua hàng vạn km đường hành lang Đông và Tây Trường Sơn. Hệ thống ống dẫn dầu đã vào đến Bến Giàng (Quảng Nam) và đang tiếp tục được nối qua Hạ Lào và Cao nguyên trung phần và đến địa đầu Quân khu III. Như vậy, nếu không đánh lớn trong năm 1975, họ sẽ đánh lớn vào năm sau.

Đối với Quân khu I, Trung tướng Ngô Quang Trưởng cho rằng có hai vùng có thể trở nên nguy hiểm:

  • Huế và vùng phụ cận (Nam Quảng Trị) với binh lực đối phương lên đến gần 100.000 người và họ cũng rất dễ đưa quân tăng viện từ phía Bắc vào.
  • Sau trận Nông Sơn - Thượng Đức, vùng Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ cũng bị uy hiếp với 3 sư đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn chiến xa và các đơn vị tăng phái khác của đối phương.

Ngô Quang Trưởng đề nghị bổ sung thêm quân tăng phái ngoài các sư đoàn dù và thuỷ quân lục chiến hiện có.

Đối với Quân khu II, Thiếu tướng Phạm Văn Phú cũng yêu cầu cho giữ lại 3 liên đoàn biệt động quân do Bộ Tổng tham mưu đã tăng phái và nếu có thể thì tăng phái thêm với lý do địa bàn rộng, dài, khó kiểm soát; lực lượng đối phương mạnh hơn năm 1972 và được tiếp tế đầy đủ.

Trung tướng Dư Quốc Đống cho rằng tình hình Quân khu III cũng không kém nguy hiểm vì đối phương đang có những lực lượng rất mạnh ở Lộc Ninh, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Kiến Tường, Rừng Sác... Trong cuộc thảo luận này, chỉ có tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân khu IV, là không có ý kiến về phối trí lại lực lượng.

Tập tin:HCMC3.jpg
Bản đồ dự kiến 5 tuyến trì hoãn chiến của Việt Nam Cộng hòa tại Phòng Tình hình - Dinh Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1975

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phân tích hai khả năng về quân sự:

  • Một là đối phương sẽ duy trì cuộc chiến với cường độ tăng dần trên toàn lãnh thổ để đòi thi hành Hiệp định Paris. Thật ra thì đối phuơng đã áp dụng các giải pháp này từ giữa năm 1974, phù hợp với nhu cầu và thực trạng của họ. Khả năng này có thể tiếp diễn một thời gian nữa.
  • Hai là đối phương sẽ mở cuộc tấn công tổng lực để quyết định nhanh chiến cuộc. Nhưng khả năng này là thấp vì đối phương còn phải để ý đến phản ứng của đồng minh Hoa Kỳ.

Nguyễn Văn Thiệu kết luận: Đối phương có thể mở cuộc tấn công vào đầu sang năm với quy mô lớn hơn năm 1972 và kéo dài cả năm; có thể chiếm Quảng Trị, cô lập Huế, Đà Nẵng, lấy Kontum để gây áp lực với Pleiku; lấy Tây Ninh làm thủ đô đồng thời đẩy mạnh hoạt động du kích ở đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng sẽ khó giữ được Vùng I nên chỉ thị rằng "giữ được phần nào thì giữ", nhưng phải giữ vùng duyên hải miền trung và Vùng II nếu có thể được vì tiềm năng dầu hoả ngoài khơi. Ở Tây Nguyên thì Buôn Ma Thuột quan trọng hơn Kontum và Pleiku do tài nguyên dồi dào và dân số đông hơn hai vùng trên. Nguyễn Văn Thiệu kết luận: Phương án tốt nhất là giữ được Đà Nẵng, nếu được cả Huế càng tốt. Phương án thứ hai là lùi về Quảng Nam, lấy Chu Lai làm căn cứ tiền tiêu. Phương án thứ ba là lui về Tuy Hoà. Ngoài các lý do về quân sự thuần túy, một trong những lý do buộc Nguyễn Văn Thiệu phải tính đến khả năng thu hẹp vùng lãnh thổ là để tương xứng với viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ bị cắt giảm từ hơn 1 tỷ USD xuống còn 700 triệu USD trong năm tài khoá 1975.Bản mẫu:Sfnp Thực chất, đây là cốt lõi của bản kế hoạch tái phối trí lại binh lực của Quân lực Việt Nam Cộng hoà do Đại tướng Cao Văn Viên đệ trình hồi tháng 1 năm 1974 nhưng đã bị Nguyễn Văn Thiệu gạt qua một bên.[37]

Do không thể tự sản xuất vũ khí và phải nhập 100% từ bên ngoài, khả năng chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn phụ thuộc vào mức viện trợ của Mỹ. Trong một tài liệu do tướng John Murray và Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa trình lên tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tháng 10 năm 1974 cũng chỉ rõ:

  • "Nếu mức viện trợ quân sự là 1,4 tỷ USD thì có thể giữ được các vùng đông dân cư tại bốn vùng chiến thuật.
  • Nếu mức viện trợ xuống 1,1 tỷ USD thì có thể không giữ được Quân khu I
  • Nếu mức Viện trợ còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II và khó đương đầu với cuộc tổng tấn công của đối phương.
  • Nếu viện trợ chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thu một vài khu vực và sẽ khó mà có thể đàm phán với đối phuơng.
  • Nếu viện trợ chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long".[38]

Diễn biến quốc tế

Liên Xô và Trung Quốc

Cũng như năm 1972, Liên bang Xô Viết hoàn toàn ủng hộ cuộc chiến đấu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam về nguyên tắc. Những thiệt hại vật chất của phía VNDCCH được Liên Xô bù đắp dần dần bằng những khoản viện trợ lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự đã khác trước. Theo ước tính của CIA, trong 2 năm 1973 - 1974, VNDCCH nhận được từ Liên Xô và Trung Quốc khoản viện trợ trị giá 2.525 triệu USD trong đó có 730 triệu USD là viện trợ quân sự. Tổng số viện trợ tuy cao hơn 2 năm 1971 - 1972 (2.525 triệu USD/2.220 USD) nhưng phần viện trợ quân sự chỉ bằng 68,3% so với 2 năm trước đó, (730 triệu USD/1.065 triệu USD).[39] Còn theo thống kê của VNDCCH thì giá trị viện trợ quân sự mà họ nhận được thấp hơn nhiều so với con số mà CIA đưa ra. Cụ thể, trong 2 năm 1973-1974, họ nhận được 114.532 tấn viện trợ quân sự từ các nước XHCN (chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc) trị giá 339.355.353 rúp (~330 triệu USD), bằng 19% so với 2 năm 1971-1972.[40]

Để tăng cường năng lực hậu cần của mình, VNDCCH đã tự tổ chức sản xuất vũ khí và phương tiện. Điều này họ đã làm từ năm 1957 để giảm bớt phụ thuộc vào viện trợ. Trong 3 năm 1973 đến 1975, VNDCCH đã tự sản xuất được 3.409 tấn vũ khí đạn dược, 1.863 tấn phụ tùng xe, máy và 26.074 tấn quân trang, quân dụng khác.[41] Vừa dựa vào viện trợ, vừa dựa vào sức mình, đến giữa năm 1974, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã xây dựng lại nền kinh tế của mình với tổng lượng bằng mức năm 1965.[42]

Về ngoại giao, các đồng minh Liên Xô và Trung Quốc không còn nhiều ràng buộc với Hoa Kỳ như hồi năm 1972 và họ vẫn ủng hộ VNDCCH với những cách thức và mục tiêu khác nhau. Trong khi Liên Xô công khai khuyến khích VNDCCH giải phóng miền Nam bằng chuyến đi thăm hữu nghị đến Hà Nội của Thứ trưởng Bộ quốc phòng, đại tướng Victor Kulikov ngày 22 tháng 12 năm 1974 thì Trung Quốc không hẳn muốn VNDCCH sớm giành thắng lợi mặc dù họ biết đó là xu thế khó có thể đảo ngược. Tháng 1 năm 1974, họ đã chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng hoà. Theo đánh giá của Henry Kissinger, người Trung Hoa không muốn có một nước Việt Nam thống nhất mạnh ở biên giới phía nam của họ, và cả Trung Quốc lẫn Liên Xô đều không muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tăng cường chiến sự ở miền Nam Việt Nam.

Hoa Kỳ

Về quân sự, Hoa Kỳ tiếp tục có những động thái làm cho Việt Nam Cộng hoà tin rằng họ sẽ được hỗ trợ về hải quân. Ngày 4 tháng 1 năm 1974, Hạm đội 7 hải quân Hoa Kỳ đã điều động một lực lượng tàu tuần dương và tàu khu trục đến vùng giữa biển Đông. Tuy nhiên Mỹ đã từ chối cho Hải quân của mình yểm trợ Hải quân Việt Nam Cộng hòa khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa trong các ngày từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974. Về ngoại giao, trong dịp thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà đã ra thông cáo chung San Clemente ngày 4 tháng 4 năm 1973, trong đó, Hoa Kỳ cam kết ủng hộ Việt Nam Cộng hoà và chỉ công nhận Chính phủ Việt Nam Cộng hoà là chính phủ hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam.[42]

Ngày 9 tháng 8 năm 1974, Tổng thống Richard Nixon buộc phải từ chức sau vụ bê bối Watergate. Phó tổng thống Gerald Ford kế nhiệm chức vụ Tổng thống và vẫn cam kết ủng hộ Việt Nam Cộng hoà, nhưng với những giới hạn cho phép vì nền kinh tế Hoa Kỳ đang trong giai đoạn khó khăn sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và phải tập trung viện trợ quân sự cho Israel khoảng 1,5 tỷ USD để giữ vững đồng minh chiến lược này ở Trung Đông. Trong lá thư ngày 10 tháng 8 năm 1972 của Tổng thống Hoa Kỳ do phó đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn W.J.Lehman trao tận tay Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, ông Gerald Ford nhắc nhở Chính phủ Việt Nam Cộng hòa sử dụng viện trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh một cách hữu hiệu hơn để có thể đưa lại một nền kinh tế tự túc trong vài năm tới.[38] Nếu như trong tài khoá 1972-1973, Việt Nam Cộng hoà còn nhận được 1.614 triệu USD thì đến tài khoá 1973-1974, Sài Gòn chỉ còn nhận được 1.026 triệu USD và đến tài khoá 1974-1975 thì chỉ còn 780 triệu USD. Theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, đó là số viện trợ của Hoa Kỳ cho cả Việt Nam Cộng hoà, Campuchia và Lào và đó cũng chỉ là con số trên giấy tờ. Trên thực tế, sau khi trừ đi các khoản của Campuchia và Lào, số viện trợ Hoa Kỳ chỉ còn lại 313 triệu USD. Số đô la mua được từ nguồn dịch vụ cho trụ sở các cơ quan Hoa Kỳ và các đồng minh cũng sụt giảm từ 300-400 triệu/năm xuống còn 97 triệu (năm 1974)[38]

Ở thời điểm 1974-1975, đối với Hoa Kỳ, việc giải quyết khủng hoảng dầu lửa và vấn đề Trung Đông cùng với việc tái tạo trang bị cho đồng minh Israel sau khi họ thua trận trước đối thủ Ai Cập trên bán đảo Sinai tháng 10 năm 1973 là vấn đề quan trọng hơn so với việc viện trợ cho đồng minh Việt Nam Cộng hoà. Mặt khác, do những ràng buộc của Hiệp định Paris và không được sự ủng hộ cả hai viện của Quốc hội Hoa Kỳ nên khả năng can thiệp bằng quân sự ở Việt Nam của Chính phủ Hoa Kỳ là rất thấp.

Các nước khác và các tổ chức quốc tế

Sau khi Quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi cuộc chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa không chỉ mất đi hỏa lực yểm hộ từ trên không, dưới mặt đất và ngoài biển mà còn thiếu hụt một khoản ngân sách lớn do viện trợ bị cắt giảm. Cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới năm 1973 đã chất thêm gánh nặng về chi phí nhiên liệu cho các hoạt động quân sự, dù chỉ là giới hạn trong tập luyện, bảo trì, bảo dưỡng phương tiện quân sự theo quy định của Hiệp định Paris và các văn kiện kèm theo. Cơ số đạn dược các loại được cấp giảm từ 50% đến 65%; một nửa số chiến xa không thể ra khỏi căn cứ và khoảng 200 máy bay không thể cất cánh vì không đủ xăng dầu.[38] Giá cả tiêu dùng tăng từ 2 đến 4 lần đối với lương thực, thực phẩm, nhiên liệu và một số hàng tiêu dùng thiết yếu đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của dân chúng.[43]

Để bù đắp thiếu hụt ngân sách và cân bằng cán cân thanh toán; ngoài việc yêu cầu một số nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ khuyến cáo Quốc hội nương tay, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã phái tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng và một số quan chức khác tìm kiếm các nguồn kinh phí để ổn định tình hình kinh tế xã hội, chi phí cho bộ máy chính quyền và duy trì lực lượng quân sự. Tuy nhiên, việc tìm vay từ các nguồn vốn khác ngoài Hoa Kỳ cũng khó khăn như việc thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ không cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc này với "Cái nhục của kẻ đi cầu xin".[38]

Sau chuyến đi không thành công của đại tướng Cao Văn Viên và tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sang Hoa Kỳ tháng 5 năm 1974 với kết quả là sự cắt giảm 50% viện trợ Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng hoà và Tu chính án Kennedy cũng cấm sử dụng ngân sách riêng của Bộ Quốc phòng đề chi tiêu nhân danh các nước Đông Nam Á; Chính quyền Việt Nam Cộng hoà phải tìm đến các nguồn tài chính ngoài Hoa Kỳ. Trớ trêu thay, những nguồn này hoặc không đủ thời gian để triển khai hoặc người lãnh đạo nó tỏ thái độ không hợp tác hoặc các nước cho vay có những điều kiện không nhằm chi tiêu cho quân sự (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Tại Ngân hàng thế giới (WB) ông Nguyễn Tiến Hưng đã vấp phải thái độ thờ ơ và lãnh đạm của ngài chủ tịch Robert MacNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ dưới thời Linden B. Johnson.

Đối với Cộng hoà Pháp thì trở ngại chính là ODA của chính phủ với lãi suất thấp và dài hạn lại phải gắn với việc cho vay của ngân hàng tư nhân với lãi suất cao và ngắn hạn theo luật của Pháp. Phía Pháp cũng yêu cầu phải sử dụng khoản vay ưu đãi này vào các công trình phúc lợi xã hội chứ không thể chi phí cho việc khác nhưng phía Việt Nam Cộng hoà không chịu nên khoản viện trợ 130 triệu fr Pháp bị đình lại. Nhật Bản cũng có thái độ tương tự. Các nguồn viện trợ khác khá nhỏ và có khuynh hướng thiên về viện trợ nhân đạo. Chỉ có Quốc vương Arab Saudi là có một thoả thuận đáng kể và bí mật về đầu tư dài hạn mấy trăm triệu USD vào thăm dò và khai thác dầu mỏ với lãi suất nhẹ (có thể vay bằng chính dầu mỏ, cái mà VNCH đang thiếu), khi nào có sản phẩm mới phải trả nợ. Nhưng sự việc đang tiến triển thì ông này bị ám sát. Hy vọng cuối cùng của phía Việt Nam Cộng hòa có được một ngân khoản vài trăm triệu USD để bổ sung và duy trì trang bị cho quân đội cũng tan vỡ.[38]

Các bước tiến đầu

Chiến dịch Đường 14 - Phước Long

Tập tin:Map of the Battle of Phuoc Long.jpg
Bản đồ chiến dịch Phước Long

Phước Long là tỉnh lỵ nằm ở cực bắc của Quân đoàn III, cách Sài Gòn khoảng 75 dặm (121 km) về phía đông bắc. Vào cuối tháng 12 năm 1974, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 3 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, cùng một trung đoàn bộ binh độc lập, với sự hỗ trợ của lực lượng tăng thiết giáp, phòng không và pháo binh hạng nặng đã hành quân từ Campuchia sang để tiến công. Tỉnh này được phòng thủ bởi năm tiểu đoàn Địa phương quân, 48 trung đội Nghĩa quân và bốn phân đội pháo binh lãnh thổ. Từ bộ tư lệnh ở Biên Hòa, Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Quân đoàn III, đã tăng cường cho lực lượng này bằng cách điều động Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Bộ binh 7 của Sư đoàn 5, hai phân đội pháo binh và ba đại đội trinh sát.Bản mẫu:Sfnp Trận đánh kiểm soát tỉnh bắt đầu vào ngày 13 tháng 12 khi các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu cô lập các tuyến giao thông đường bộ của thị xã Phước Long và xóa bỏ các đồn bốt như Bù Đăng, Bù Na.Bản mẫu:Sfnp Sau đó, họ bắt đầu pháo kích chính xác vào Phước Long bằng pháo hạng nặng và phát động một cuộc tiến công hiệp đồng bộ binh và thiết giáp trên mặt đất vào ngày 31.Bản mẫu:Sfnp

Bất kỳ cuộc phản công hay nỗ lực ứng cứu nào do phía Việt Nam Cộng hòa dự định đều bị phá sản do hàng ngàn dân thường di tản đổ ra đường để chạy trốn khói lửa chiến tranh. Tình trạng đào ngũ trong các đơn vị QLVNCH trở nên phổ biến, khi binh lính bắt đầu rời bỏ hàng ngũ để đi tìm kiếm người thân.[lower-alpha 3] Kịch bản này đã trở nên quá phổ biến khi cuộc tiến công tiếp diễn, không chỉ trong lực lượng địa phương mà còn trong cả hàng ngũ quân chính quy.Bản mẫu:Sfnp

Vào ngày 2 tháng 1, một cuộc họp khẩn cấp đã được tổ chức tại Dinh Độc Lập ở Sài Gòn giữa Tổng thống Thiệu, Bộ Tổng tham mưu và Tướng Đống. Tại cuộc họp, ông Đống đã trình bày một kế hoạch ứng cứu Phước Long bằng cách sử dụng một sư đoàn bộ binh hoặc Sư đoàn Nhảy dù. Kế hoạch này đã bị bác bỏ vì ba lý do: thứ nhất, đơn giản là không còn lực lượng dự bị có quy mô đủ lớn ở bất kỳ nơi nào trên toàn quốc cho nhiệm vụ này;Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp thứ hai, với việc tất cả các tuyến đường bộ đã nằm trong tay đối phương, mọi hoạt động di chuyển và hậu cần sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào đường hàng không, một năng lực không còn tồn tại; và thứ ba, bất chấp các vị trí phòng thủ có lợi thế, các lực lượng tại Phước Long không thể cầm cự trước hai sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đủ lâu để bất kỳ nỗ lực ứng cứu nào có thể thành công.Bản mẫu:Sfnp Quyết định sau đó đã được đưa ra. Thị xã và tỉnh Phước Long sẽ được để lại cho các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam như một biện pháp tình thế, vì nơi đây được đánh giá là ít quan trọng hơn về mặt chiến lược so với Tây Ninh, Pleiku hay Huế – xét trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và nhân khẩu học.Bản mẫu:Sfnp

Giao tranh xung quanh Phước Long tiếp diễn cho đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, sau đó thị xã này trở thành tỉnh lỵ đầu tiên bị Quân đội Nhân dân Việt Nam kiểm soát hoàn toàn. Trong số hơn 5.400 binh lính QLVNCH ban đầu tham gia trận đánh, chỉ có 850 người rút lui được về chiến tuyến của chính phủ.Bản mẫu:Sfnp Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thu giữ được 10.000 viên đạn pháo. Điều quan trọng hơn đối với họ là sự thờ ơ hoàn toàn rõ rệt từ phía Mỹ đối với tổn thất này. Đòn giáng mạnh vào tâm lý của chính phủ và người dân Việt Nam Cộng hòa là hết sức nặng nề. Theo Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, Đại tướng Cao Văn Viên: "Hy vọng rằng Hoa Kỳ sẽ trừng phạt nghiêm khắc miền Bắc Việt Nam vì những hành vi vi phạm trắng trợn hiệp định ngừng bắn gần như đã tan biến... Còn sự khích lệ nào lớn hơn thế mà các nhà lãnh đạo cộng sản có thể đòi hỏi?"Bản mẫu:Sfnp

Ngay sau thất bại trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long, cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu chính xác rằng sự sụp đổ của quân đội Sài Gòn sẽ sớm diễn ra. Ông viết:

Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là "thủ đô tiêu dùng" nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...[44]

Tin tức về sự sụp đổ của Phước Long bay về đến Bộ Chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay giữa lúc Hội nghị Trung ương lần thứ 23 đang diễn ra, và cơ quan này đã lập tức chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu xây dựng một kế hoạch tiếp nối. Đánh giá của Bộ Chính trị rằng Mỹ sẽ không tái can thiệp vào cuộc chiến đã được chứng minh là chính xác, điểm yếu trong hệ thống phòng thủ của QLVNCH đã bị phơi bày, và điều quan trọng không kém là họ đã tìm ra giải pháp cho tình trạng thiếu hụt đạn dược nghiêm trọng nhất của mình – đó là nhắm mục tiêu và đánh chiếm các kho dự trữ pháo binh của QLVNCH. Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tuyên bố rằng: "Chưa bao giờ chúng ta có điều kiện quân sự và chính trị hoàn hảo hay có một lợi thế chiến lược lớn như hiện nay." Mục tiêu đầu tiên được lựa chọn là Căn cứ Đức Lập, một đồn bốt biên giới thuộc tỉnh Đắk Lắk của Quân đoàn II.Bản mẫu:Sfnp Một lần nữa, tầm ảnh hưởng của Trần Văn Trà đã thúc đẩy một số thành viên đề xuất một kế hoạch táo bạo hơn: tấn công Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ của tỉnh này. Lần này, ông Lê Duẩn còn ngần ngại chưa đồng ý, cho đến khi ông Lê Đức Thọ dồn sự ủng hộ của mình sau chiến lược táo bạo hơn đó.Bản mẫu:Sfnp Đại tướng Văn Tiến Dũng được lệnh tiến vào miền Nam để trực tiếp chỉ huy cuộc tiến công mới này, chiến dịch được đặt mật danh là Chiến dịch 275.

Chiến dịch Tây Nguyên

Tập tin:BanMeThuot.jpg
Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếm Buôn Ma Thuột ngày 11 tháng 3 năm 1975

Nhận thấy sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khi không đủ khả năng phản kích chiếm lại những vùng đã mất, hay quan trọng hơn cả là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp quân sự ở miền Nam,Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp giới lãnh đạo Hà Nội quyết định phát động Chiến dịch Tây Nguyên nhắm vào khu vực Cao nguyên Trung phần.Bản mẫu:Sfnp Quân Giải phóng chọn Thị xã Buôn Ma ThuộtBản mẫu:Sfnp làm mục tiêu then chốt mở màn Chiến dịch Tây Nguyên vì đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam Cộng hòa tại Cao nguyên Trung phần.Bản mẫu:Sfnp Tư lệnh Quân Giải phóng là Đại tướng Văn Tiến Dũng bố trí nghi binh ở khu vực bắc Cao nguyên khiến Thiếu tướng Phạm Văn Phú, chỉ huy Quân đoàn II Việt Nam Cộng hòa, phải chuyển một phần binh lực tới PleikuKon Tum để đối phó, dẫn tới cánh Buôn Ma Thuột bị sơ hở.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Do đó, việc phòng thủ Buôn Ma Thuột chỉ được giao phó cho một liên đoàn Biệt động quân cùng các đơn vị Nghĩa quân và Địa phương quân (khoảng 4.000 người). Họ được tăng cường vào đầu tháng 3 bởi Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23.Bản mẫu:Sfnp Quân Giải phóng lúc này bí mật di chuyển lực lượng lớn về phía Nam, qua đó áp đảo quân phòng thủ Buôn Ma Thuột với tỷ lệ 8 trên 1.Bản mẫu:Sfnp

Đại tướng Văn Tiến Dũng đã xây dựng một kế hoạch bài bản để đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Được gọi là thuật đánh hiểm "nở hoa trong lòng địch", mục tiêu đề ra là né tránh các vị trí phòng thủ vòng ngoài của Việt Nam Cộng hòa và giáng đòn trực diện vào mục tiêu cốt lõi trước, "giống như một nụ hoa từ từ bung nở các cánh hoa."Bản mẫu:Sfnp Kế hoạch dành cho khoảng 75.000–80.000 quân thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia chiến dịch trước hết là cô lập Buôn Ma Thuột bằng cách cắt đứt các tuyến Quốc lộ 14, 1921, ngăn chặn mọi ngả đường tiếp viện của Việt Nam Cộng hòa.Bản mẫu:Sfnp Sư đoàn 320 sau đó có nhiệm vụ vô hiệu hóa các đồn bốt phía bắc và đánh chiếm Sân bay Hòa Bình (Phụng Dực). Nhiệm vụ của Sư đoàn 10 là tiến hành mũi tiến công chính vào thành phố dọc theo trục Quốc lộ 14.Bản mẫu:Sfnp

Tập tin:HCMC2.jpg
Sự sụp đổ của Buôn Ma Thuột

Trận quyết chiến tại Buôn Ma Thuột bắt đầu vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi Trung đoàn Đặc công 198 nổ súng tiến công sân bay thị xã, mở màn trận Buôn Ma Thuật.Bản mẫu:Sfnp Mở màn bằng một đợt pháo kích dữ dội, Sư đoàn 10 nhanh chóng thọc sâu vào thành phố và đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 23.Bản mẫu:Sfnp Ngay trong đêm đó, Sư đoàn 316 tiến vào tham chiến tại khu vực trung tâm thị xã. Vào ngày 16, Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 QLVNCH và một tiểu đoàn thuộc Liên đoàn 21 Biệt động quân được trực thăng vận đến Phước An, cách Buôn Ma Thuột 20 dặm (32 km) về phía đông, để thiết lập một lực lượng ứng cứu cho thành phố đang bị vây hãm.Bản mẫu:Sfnp Cánh quân này, khi đang tiến vào giữa làn sóng của hàng ngàn dân thường tị nạn và gia binh binh lính đang tháo chạy khỏi vùng cao nguyên, đã sớm chạm trán với Sư đoàn 10. Mũi phản công của Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng tan rã và lực lượng này buộc phải rút lui, hòa vào dòng người di tản dân sự.Bản mẫu:Sfnp

Vào ngày 18 tháng 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã làm chủ Phước An, dập tắt hoàn toàn mọi hy vọng hướng về Buôn Ma Thuột, giành hoàn toàn quyền kiểm soát tỉnh Đắk Lắk.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Các lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng di chuyển về phía đông nhằm ngăn chặn Quân Giải phóng đánh xuống các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Nhận thức được tình trạng suy yếu của quân đội mình, Tổng thống Thiệu đã cử một phái đoàn đến Washington vào đầu tháng 3 để yêu cầu tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa Graham Martin, người tin rằng viện trợ bổ sung sẽ giúp ích cho việc phòng thủ của chính thể Cộng hòa, cũng đã thực hiện một chuyến đi đến Washington để trình bày tình hình trước Tổng thống Gerald Ford. Tuy nhiên, Quốc hội Mỹ, ngày càng ngần ngại trong việc chuyển dòng tiền từ công cuộc phục hồi kinh tế vào một cuộc chiến được xem là đã cầm chắc phần thất bại, đã cắt giảm gói viện trợ quân sự đề xuất trị giá 1,45 tỷ USD cho năm 1975 xuống còn 700 triệu USD.Bản mẫu:Sfnp Dẫu vậy, chính quyền của ông Ford, từ tổng thống trở xuống, vẫn tiếp tục khích lệ ông Thiệu trong điều mà nhà sử học Arnold Isaacs gọi là "giấc mơ hão huyền rằng Quốc hội sẽ khôi phục lại các khoản tiền mà họ đã cắt giảm."Bản mẫu:Sfnp

Đánh giá lại tình hình

Tổng thống Thiệu cảm nhận được áp lực ngày càng gia tăng. Theo lời một trong những cố vấn thân cận nhất của ông, ông trở nên "đa nghi... kín kẽ... và luôn đề phòng một cuộc đảo chính nhắm vào mình."Bản mẫu:Sfnp Ông tuyên bố rằng "trong tình hình chính trị Việt Nam, phải cẩn thận ngay cả với dấu chấm, dấu phẩy."Bản mẫu:Sfnp Sự cô lập ngày càng lớn này bắt đầu khiến ông không còn nhận được "sự phục vụ của những người có năng lực, công tác tham mưu đầy đủ, sự tham vấn và phối hợp."Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Ông hiếm khi trao đổi cùng các tướng và thành viên ban tham mưu, sẵn sàng ra tay triệt hạ những người tài nếu thấy họ có thể lấn át mình.Bản mẫu:Sfnp Các quyết định quân sự của ông Thiệu được hàng ngũ sĩ quan trung thành làm theo một cách mù quáng, những người nhìn chung đồng ý với Đại tướng Cao Văn Viên rằng "ông Thiệu đưa ra mọi quyết định về cách thức tiến hành cuộc chiến."Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Đến ngày 11 tháng 3, một ngày sau khi Buôn Ma Thuột bị tiến công, ông Thiệu đi đến kết luận rằng không còn bất kỳ hy vọng nào về việc nhận được gói viện trợ bổ sung trị giá 300 triệu USD mà ông đã yêu cầu từ chính phủ Mỹ.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Nguyễn Văn Thiệu đã cho mời ba cố vấn quân sự thân cận nhất của mình là Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên và Trung tướng Đặng Văn Quang đến Dinh Độc Lập để họp.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Sau khi rà soát lại tình hình quân sự, ông Thiệu rút ra một tấm bản đồ thu nhỏ của Việt Nam Cộng hòa và thảo luận về khả năng tái triển khai các lực lượng vũ trang để "chỉ giữ và bảo vệ những vùng đất đông dân và trù phú, có tầm quan trọng nhất."Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Tập tin:HCMC3.jpg
Bản đồ định hướng của Tổng thống Thiệu

Ông Thiệu sau đó phác thảo trên bản đồ những khu vực mà ông cho là quan trọng nhất – toàn bộ Vùng 3 và Vùng 4 Chiến thuật. Ông cũng chỉ ra các khu vực hiện do Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng kiểm soát cần phải đánh chiếm lại. Chìa khóa cho vị trí của các chiến dịch này là nơi tập trung các nguồn tài nguyên thiên nhiên – lúa gạo, cao su, công nghiệp, v.v.Bản mẫu:Sfnp Những khu vực cần được giữ vững này cũng bao gồm cả vùng duyên hải nơi dầu mỏ đã được phát hiện ở thềm lục địa.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Những khu vực này sẽ trở thành, theo lời ông Thiệu: "Vùng đất cốt lõi bất khả xâm phạm của chúng ta, pháo đài quốc gia không thể bị thu hẹp."Bản mẫu:Sfnp Theo ông, những khu vực này đủ để Việt Nam Cộng hòa tồn tại và phát triển thành một quốc gia riêng.Bản mẫu:Sfnp Đối với tương lai của Vùng 1 và Vùng 2 Chiến thuật, ông vẽ một loạt đường ranh giới phân kỳ trên bản đồ để chỉ ra rằng các lực lượng Việt Nam Cộng hòa nên giữ những gì họ có thể, nhưng họ có thể tái triển khai dần về phía nam tùy theo tình hình thực tế thúc bách. Ông Thiệu tuyên bố chiến lược mới này là "đầu bé, đít to" – thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Tướng Viên thông báo với ông Thiệu rằng ông tin việc tái triển khai là một bước đi cần thiết, nhưng đã kiềm chế không đề cập đến việc ông tin rằng điều đó đã quá muộn. Tướng Viên cho rằng một cuộc tái triển khai trên quy mô như vậy đáng lẽ phải được thực hiện vào giữa năm 1974 hoặc muộn nhất là ngay sau khi Tổng thống Nixon từ chức. Tướng Viên cũng tin rằng, tính đến thời điểm Ban Mê Thuột sụp đổ, quán Giải phóng đã có được ưu thế áp đảo về quân số tại bất kỳ điểm nào, và "bị kéo căng và áp sát theo cách của chúng ta" thì "có rất ít cơ hội để chúng ta có thể rút lui khỏi bất kỳ nơi nào mà không bị truy kích và gây áp lực nặng nề hơn." Vào thời điểm đó, Bộ Tổng tham mưu cũng thấy rõ rằng bất kỳ cuộc rút quân nào cũng sẽ bị cản trở bởi dòng người tị nạn dân sự khổng lồ từ các khu vực bị bỏ lại và sự hỗn loạn gia tăng do binh lính lo lắng (và đào ngũ) vì số phận của gia đình họ.Bản mẫu:Sfnp

Ngày 14 tháng 3 năm 1975, Thiệu cùng 3 người trên bay tới vịnh Cam Ranh để gặp tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn II.Bản mẫu:Sfnp Trong cuộc họp, ông đã ra một quyết định mang tính bước ngoặt đối với chính quyền Sài Gòn. Ông Thiệu quyết định bỏ Pleiku và Kon Tum, và các lực lượng phòng thủ tại đây sẽ được tái triển khai để đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột,Bản mẫu:Sfnp nơi có tầm quan trọng hơn về mặt nhân khẩu học và kinh tế.Bản mẫu:Sfnp Sách lược của Thiệu là tập trung tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó có Sư đoàn 320 hiện đang chiếm giữ Buôn Ma Thuột, thay vì đối đầu với các toán du kích quân địa phương.Bản mẫu:Sfnp Tướng Phú báo cáo với tổng thống rằng tuyến đường duy nhất khả thi cho cuộc rút quân này, trước các hoạt động ngăn chặn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, là tuyến Tỉnh lộ 7B ít khi được sử dụng, một con đường mòn bỏ hoang, nhỏ hẹp, bề mặt gồ ghề (thực chất là đường khai thác gỗ) với vài cây cầu đã bị sập dọc tuyến.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Trong khi đó, Đại tướng Văn Tiến Dũng báo cáo về Hà Nội rằng ông đang chuyển hướng lực lượng để truy kích lực lượng rút lui từ Kon Tum và Pleiku.Bản mẫu:Sfnp Tại Hà Nội, tổng bí thư Lê Duẩn hối thúc Bộ Tổng tham mưu tận dụng bàn đạp mà họ đã giành được ở vùng cao nguyên.Bản mẫu:Sfnp Chỉ còn hai tháng nữa là đến mùa mưa, thời điểm các hoạt động quân sự sẽ bị đình trệ. Những thắng lợi chiến lược xa hơn rõ ràng là có thể đạt được trước sự suy yếu thấy rõ của Sài Gòn và mức độ phản ứng từ phía Mỹ.

Các tỉnh phía Bắc sụp đổ

Thảm họa ở Tây Nguyên

Tướng Phú sau đó phải đối mặt với một nhiệm vụ khổng lồ là di chuyển một đoàn quân, trang thiết bị và xe cộ có quy mô tương đương một quân đoàn vượt qua quãng đường khoảng 160 dặm (260 km) phần lớn chưa được biết rõ, xuyên qua núi rừng Tây Nguyên về Nha Trang để chuẩn bị cho nỗ lực phản công. Lực lượng này bao gồm một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 44 QLVNCH, năm liên đoàn Biệt động quân, Thiết đoàn 21, hai tiểu đoàn pháo 155 mm, một tiểu đoàn pháo 175 mm cùng các đơn vị Nghĩa quân và Địa phương quân. Tháp tùng đoàn quân còn có binh sĩ và trang thiết bị của Liên đoàn 20 Công binh chiến đấu và Nhóm 231 Hỗ trợ trực tiếp.Bản mẫu:Sfnp

Tuy nhiên, việc quá ám ảnh với sự bí mật của ông Phú đã làm tiêu tan nỗ lực này ngay từ đầu. Kế hoạch tác chiến chỉ giới hạn trong một số ít cấp dưới thân tín, những người tham gia dự thảo hoặc biết về nó, thậm chí học còn được ra lệnh không được để cho phía Hoa Kỳ biết.Bản mẫu:Sfnp Công tác tham mưu hoàn toàn bị bỏ trống.Bản mẫu:Sfnp Ví dụ, Tham mưu trưởng Quân đoàn II thừa nhận ông hoàn toàn không biết gì về kế hoạch bỏ Pleiku và Kon Tum.Bản mẫu:Sfnp Quyền chỉ huy đoàn xe được giao cho chỉ huy lực lượng Biệt động quân Quân đoàn II. Tướng Phú càng làm cho cơ cấu chỉ huy trở nên hỗn loạn hơn khi bổ nhiệm phụ tá hành quân của mình để đồng thời giám sát cuộc rút quân.Bản mẫu:Sfnp Cuộc rút lui quy mô lớn với hàng trăm nghìn quân nhân và thường dân được dự đoán sẽ rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nó đã được tổ chức một cách vội vã mà không có kế hoạch cụ thể, dẫn tới sự thiếu phối hợp giữa các bên. Nhiều sĩ quan cao cấp không hề hay biết về lệnh triệt thoái, một số đơn vị bị bỏ lại sau hoặc rút lui một cách rời rạc.Bản mẫu:Sfnp Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi đoàn xe vận tải bị trễ ba ngày do cầu bị hỏng.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Tập tin:HCMC4.jpg
Sự sụp đổ của QLVNCH tại Tây Nguyên

Trong hai ngày đầu tiên của cuộc di chuyển (16 và 17 tháng 3), mọi việc diễn ra khá thuận lợi, cho đến khi tại Hậu Bổn (Cheo Reo), dòng người tị nạn từ các thành phố bị bỏ lại và các đoàn xe quân sự va vào nhau và bị kẹt cứng. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi lực lượng công binh phải hoàn thành một cây cầu phao bắc qua sông Đà Rằng. Ngay đêm đó, các lực lượng Quân giải phóng bắt đầu phục kích và chặn đứng khối binh sĩ và dân di tản hơn 200.000 người, đoàn người mà chẳng bao lâu sau sẽ được mệnh danh là "đoàn quân nước mắt". Ban đầu bị bất ngờ trước cuộc rút quân của Việt Nam Cộng hòa, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn 95B, 1 tiểu đoàn xe tăng và một bộ phận pháo binh của Trung đoàn 675 tiến đến Cheo ReoBản mẫu:Sfnp đánh thẳng vào sườn đoàn xe khi các lực lượng vùng duyên hải đang chạy đua để chặn đường tiến phía trước.Bản mẫu:Sfnp Sư đoàn 968 được lệnh mở đường xuyên qua Pleiku và đánh tập hậu vào đuôi của cánh quân rút lui.Bản mẫu:Sfnp

Ngày hôm sau, đoàn xe chỉ tiến thêm được 15 dặm (24 km) trước khi vấp phải một trận địa chặn viện quy mô lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa cùng thiết xa đánh chặn vô tình bị không quân oanh tạc nhầm, phải hứng chịu thương vong lớn.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Lợi dụng lợi thế về mặt số lượng, Quân Giải phóng tiến hành truy kích, đánh phá đoàn di tản.Bản mẫu:Sfnp Kể từ thời điểm đó, dòng người di tản chỉ có thể tiến lên bằng cách vừa đánh vừa mở đường. "Họ dội vào chúng tôi đủ mọi thứ", binh nhì Biệt động quân Nguyễn Văn Sáu mô tả một trận mưa đạn pháo, súng cối và rocket không ngớt bắn từ trong rừng sâu vào dòng người di tản.Bản mẫu:Sfnp Khi đến sông Đà Rằng, chỉ cách Tuy Hòa 20 km, một cây cầu phao đã phải được trực thăng vận đến cho đoàn quân. Đến ngày 22 tháng 3, cây cầu được hoàn thành, nhưng việc tiến quân ngày càng trở nên nguy hiểm do nhiều đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiến vào các vị trí chặn đường. Trong suốt cuộc hành quân, Không lực Việt Nam Cộng hòa (RVNAF) chỉ cung cấp được sự hỗ trợ tối thiểu do thời tiết xấu. Vào ngày 27 tháng 3, chốt chặn cuối cùng bị vượt qua và vào lúc 21:00, những chiếc xe đầu tiên của đoàn quân đã tiến vào Tuy Hòa. "Có bao nhiêu người trong đoàn quân ban đầu sống sót sau chuyến đi thảm khốc đó, không ai biết chính xác."Bản mẫu:Sfnp Sau 9 ngày, chỉ có 20.000 trong số tổng cộng 60.000 quân và 25% trong số 180.000 thường dân tham gia di tản đến được Tuy Hòa vào ngày 27 tháng 3.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Lệnh di tản của ông Thiệu đến quá trễ đã biến cuộc triển khai này trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn, tạo nên một "con đường máu" cùng với hơn 150.000 người chết hoặc bị thất lạc.Bản mẫu:Sfnp Sau chiến thắng với tầm mức không ngờ, Quân Giải Phóng đã hoàn toàn làm chủ toàn bộ Cao nguyên Trung phầnBản mẫu:Sfnp trong khi chiến dịch phản công nhằm chiếm lại Buôn Ma Thuột của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không bao giờ được hiện thực hóa vì Quân đoàn II chỉ còn 25% binh lực ban đầu.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Cuộc rút lui khỏi Tây Nguyên đã trở thành một sự sụp đổ tan rã trên quy mô chiến lược. Ít nhất "75% năng lực chiến đấu của Quân đoàn II, bao gồm Sư đoàn 23 Bộ binh, cùng các đơn vị Biệt động quân, thiết giáp, pháo binh, công binh và thông tin đã bị tổn thất một cách bi thảm chỉ trong vòng mười ngày."Bản mẫu:Sfnp Kế hoạch tác chiến nhằm đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột chưa bao giờ thành hình đơn giản vì Quân đoàn II không còn bất kỳ phương tiện nào để thực hiện điều đó. Thừa thắng xông lên trước thắng lợi dễ dàng, các Sư đoàn 10, 316 và 320 của Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu rầm rộ tiến về phía bờ biển. Chướng ngại duy nhất đứng trước họ là Sư đoàn 22 QLVNCH, đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ các đèo dẫn xuống đồng bằng duyên hải.Bản mẫu:Sfnp Tuy nhiên, đến cuối tháng 3, các đơn vị này của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng sẽ tiến vào được HuếĐà Nẵng.

Vào ngày 30 tháng 3, Sư đoàn 22 được lệnh di chuyển về vùng bờ biển tại Quy Nhơn để di tản bằng đường biển. Các lực lượng quân Giải phóng đã tấn công họ tại đây từ hướng bắc và hai trung đoàn của sư đoàn đã phải chiến đấu ác liệt để mở đường ra bãi biển chờ tàu bốc đi. Vào lúc 02:00 ngày 1 tháng 4, những gì còn sót lại của sư đoàn được rút đi bằng đường biển. Hai đại tá trung đoàn trưởng, sau khi nhận được lệnh di tản, đã khước từ rời đi, lựa chọn tự sát thay vì rút lui hay đầu hàng.Bản mẫu:Sfnp Trung đoàn thứ ba của sư đoàn, Trung đoàn 47, lọt vào một trận phục kích tại Phù Cát và chịu tổn thất nặng nề, mất khoảng một nửa quân số.Bản mẫu:Sfnp Khi tái tập hợp lại tại Vũng Tàu sau đó, Sư đoàn 22 chỉ còn lại vỏn vẹn hơn 2.000 người, tư lệnh của sư đoàn này cũng đã lựa chọn tự sát chứ không đầu hàng.Bản mẫu:Sfnp

Chiến dịch Huế-Đà Nẵng

Cục diện của QLVNCH tại Vùng 1 Chiến thuật đã giành lại được đôi chút sự ổn định sau khi bẻ gãy một mũi tiến công quy mô ba sư đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào cuối năm 1974. Bước sang đầu năm sau, Quân đoàn I sở hữu trong tay ba sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 1, 23), các Sư đoàn Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến tinh nhuệ, bốn liên đoàn Biệt động quân cùng Lữ đoàn 1 Kỵ binh thiết giáp. Các tỉnh phía bắc lúc bấy giờ được đặt dưới sự chỉ huy của một trong những vị tướng quyết đoán nhất của Việt Nam Cộng hòa, Trung tướng Ngô Quang Trưởng.Bản mẫu:Sfnp Cho đến giữa tháng 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ hạn chế các hoạt động tiến công của mình ở những nỗ lực cắt đứt Quốc lộ 1, tuyến giao thông huyết mạch bắc – nam nối liền Huế với Đà Nẵng và Đà Nẵng với Chu Lai.Bản mẫu:Sfnp Để đối đầu với lực lượng QLVNCH, Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam Lê Trọng Tấn đã tập hợp một khối chủ lực khổng lồ gồm năm sư đoàn và chín trung đoàn bộ binh độc lập, ba trung đoàn đặc công, ba trung đoàn tăng thiết giáp, mười hai trung đoàn cao xạ phòng không và tám trung đoàn pháo binh.Bản mẫu:Sfnp[lower-alpha 4]

Tập tin:HCMC8.jpg
Giai đoạn mở màn cuộc tiến công của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Quân đoàn I

Tại một cuộc họp ở Sài Gòn vào ngày 13 tháng 3, Tổng thống Thiệu đã nghe Tướng Trưởng và tân Tư lệnh Quân đoàn III, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, báo cáo về tình hình quân sự. Ông Thiệu sau đó vạch ra kế hoạch tái cấu trúc quốc gia của mình. Nguyễn Văn Thiệu sau khi phân tích tình hình đã truyền đạt kế hoạch "co cụm" lãnh thổ của mình với tướng Trưởng và ra lệnh bỏ Huế để rút về Đà Nẵng.Bản mẫu:Sfnp Theo cách hiểu của Tướng Trưởng, ông được toàn quyền tái triển khai lực lượng để giữ vững khu vực Đà Nẵng. Thành phố lớn thứ hai của Việt Nam Cộng hòa này buộc phải được cố thủ bằng mọi giá nhằm phục vụ cho mục đích khai thác các mỏ dầu ngoài khơi trong tương lai.Bản mẫu:Sfnp Tướng Trưởng tuy không phàn nàn, song cảm thấy bối rối trước kế hoạch của tổng thốngBản mẫu:Sfnp và cảm thấy bất ngờ khi phát hiện ra rằng Sư đoàn Nhảy dù sẽ bị điều động rút về Quân đoàn III. (Tướng Trưởng không hề hay biết vào thời điểm đó, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến cũng đã có kế hoạch tái triển khai để cả hai đơn vị này hợp thành lực lượng dự bị chiến lược quốc gia mới).

Tướng Trưởng được triệu hồi về Sài Gòn vào ngày 19 tháng 3 để trình bày với ông Thiệu về kế hoạch rút quân của mình. Vị tướng đã lập sẵn hai phương án dự phòng: Phương án thứ nhất dựa trên giả định chính phủ kiểm soát được Quốc lộ 1, tuyến đường sẽ được sử dụng cho hai cuộc rút quân đồng thời từ Huế và Chu Lai về Đà Nẵng; Phương án thứ hai được đặt ra trong trường hợp Quốc lộ 1 bị chặn cắt, đòi hỏi phải rút lực lượng vào ba "ốc đảo" cố thủ: Huế, Đà Nẵng và Chu Lai.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Đây được xem là một biện pháp tạm thời, bởi các cánh quân rút về Huế và Chu Lai sau đó sẽ được Hải quân Việt Nam Cộng hòa bốc đi bằng đường biển để tập trung về Đà Nẵng. Sau khi nghe tướng Trưởng giải thích rằng không còn đường nào để rút khỏi Huế do Quốc lộ 1 đã bị Quân Giải phóng đánh chặn, ông Thiệu miễn cưỡng nghe theo.Bản mẫu:Sfnp Ngày 20 tháng 3 năm 1975, Tổng thống Thiệu lên sóng phát thanh, hiệu triệu rằng Huế cần phải được phòng thủ "bằng mọi giá".Bản mẫu:Sfnp Tối hôm đó, Ngô Quang Trưởng lệnh binh lính rút khỏi Quảng Trị để lui về phòng tuyến tại sông Mỹ Chánh ở phía Bắc Huế.Bản mẫu:Sfnp Vì nhuệ khí và kỷ luật của ba quân vẫn còn tương đối cao, tướng Trưởng tự tin có thể giữ được Huế.Bản mẫu:Sfnp Thế nhưng, tổng thống đã làm vị tướng kinh ngạc khi tuyên bố rằng ông Trưởng đã hiểu sai các mệnh lệnh trước đó của mình:Bản mẫu:Sfnp Huế không được phép bỏ. Tình hình càng thêm tồi tệ khi Tướng Trưởng phát hiện ra lực lượng của mình sẽ bị cắt giảm do việc điều động rút đi Sư đoàn Thủy quân Lục chiến.

Tính đến thời điểm của cuộc họp thứ hai, rõ ràng phương án cố thủ ba ốc đảo là con đường duy nhất có thể thực hiện, do mọi cuộc rút quân theo từng giai đoạn dọc theo Quốc lộ 1 đã trở nên bất khả thi. Nguyên nhân xuất phát từ áp lực tiến công ngày càng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam khiến QLVNCH khó lòng chống đỡ, cùng với dòng người tị nạn khổng lồ tháo chạy hỗn loạn trên đường lộ. Tướng Trưởng sau đó đã xin phép được rút quân vào ba ốc đảo như kế hoạch và xin giữ lại lực lượng Thủy quân Lục chiến. Câu trả lời của ông Thiệu là ra lệnh cho ông phải "giữ chặt bất kỳ phần lãnh thổ nào có thể bằng bất cứ lực lượng nào đang có trong tay, bao gồm cả Sư đoàn Thủy quân Lục chiến."Bản mẫu:Sfnp

Bên kia chiến tuyến, ngày 18 tháng 3 năm 1975, sau khi phát hiện tin Quân lực Việt Nam Cộng hòa rút khỏi Kontum và Pleiku, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Lê Trọng Tấn ra lệnh Quân khu Trị - Thiên đưa lưc lượng xuống hoạt động tại đồng bằng, Quân đoàn 2 cắt đứt đường số 1 và chuẩn bị tấn công Đà Nẵng.Bản mẫu:Sfnp Ngày 19 tháng 3, tỉnh Quảng Trị rơi vào tay Quân Giải phóng, phòng tuyến phía Bắc tỉnh Thừa Thiên bị đe dọa.Bản mẫu:Sfnp

Tướng Trưởng quay trở lại Đà Nẵng ngay trong ngày và đón nhận những hung tin. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phát động cuộc tổng tiến công trên toàn Quân đoàn I và đã chọc thủng tuyến phòng thủ phía bắc của Tướng Trưởng tại sông Thạch Hãn. Tổng thống Thiệu đã có bài phát biểu trên đài phát thanh quốc gia chiều hôm đó, tuyên bố rằng Huế sẽ được giữ vững "bằng mọi giá."Bản mẫu:Sfnp Ngay tối hôm đó, Tướng Trưởng ra lệnh rút quân về một tuyến phòng thủ mới tại sông Mỹ Chánh, đồng thời nhượng lại toàn bộ tỉnh Quảng Trị cho đối phương. Ông tự tin rằng lực lượng của mình có thể giữ được Huế, nhưng rồi ông lại bị làm cho sững sờ bởi một bức điện vào cuối chiều từ tổng thống, ra lệnh rằng "do không có khả năng phòng thủ đồng thời cả ba ốc đảo cố thủ, Tư lệnh Quân đoàn I được tự do... tái triển khai lực lượng của mình chỉ để bảo vệ Đà Nẵng."Bản mẫu:Sfnp Bất chấp những lời trấn an từ tổng thống, người dân Quảng Trị và Huế đã bắt đầu rời bỏ nhà cửa bằng hàng vạn người, hòa vào một dòng người di tản ngày một đông hướng về Đà Nẵng.

Từ ngày 21 tháng 3, Quân đoàn 2 phối hợp với Quân khu Trị – Thiên triển khai thế bao vây nhiều hướng, chặn quân địch rút lui theo đường biển qua cửa Thuận An và Tư Hiền. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 324 và 325 lần lượt tiêu diệt các căn cứ Lương Điền, Mũi Né, Phú Lộc, Phú Bài rồi đánh thẳng vào nội đô Huế,Bản mẫu:Sfnp trong khi nhân dân các địa phương đồng loạt nổi dậy phối hợp cùng bộ đội. Đến 13 giờ ngày 25 tháng 3, cờ Trung đoàn 101 tung bay trên Phu Văn Lâu;Bản mẫu:Sfnp sáng ngày 26 tháng 3, toàn tỉnh Thừa Thiên – Huế hoàn toàn được giải phóng.Bản mẫu:Sfnp

Các mũi tiến công của quân Giải phóng đang từ từ nghiền nát sự kháng cự của QLVNCH ở cả phía bắc lẫn phía nam Đà Nẵng. Kế hoạch của Thượng tướng Lê Trọng Tấn kêu gọi thực hiện các mũi tấn công vào khu vực này từ các hướng tây, bắc và nam nhằm dồn các lực lượng Việt Nam cộng hòa vào trong thành phố Đà Nẵng, nơi họ sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.Bản mẫu:Sfnp Tuyến giao thông huyết mạch giữa Huế và Đà Nẵng đã bị cắt đứt tại huyện Phú Lộc sau những trận giao tranh ác liệt vào ngày 22 tháng 3.Bản mẫu:Sfnp Ở phía nam Đà Nẵng, Sư đoàn 2 QLVNCH hầu như chỉ có thể chống đỡ một cách yếu ớt trước mũi tiến quân của đối phương hướng về Tam Kỳ và vùng đồng bằng duyên hải. Tuy nhiên, vào sáng ngày 24 tháng 3, Sư đoàn 711, với sự hỗ trợ của các đơn vị tăng thiết giáp, đã làm chủ Tam Kỳ,Bản mẫu:Sfnp đẩy hàng ngàn người dân chạy ngược lên phía bắc về hướng Đà Nẵng. Các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam sau đó đã chặn cắt Quốc lộ 1 đoạn nằm giữa Quảng Ngãi và Chu Lai,Bản mẫu:Sfnp một động thái mà Sư đoàn 2 do đã quá rệu rã nên không thể phản ứng. Được sự chấp thuận của Quân đoàn, binh lính Việt Nam cộng hòa từ Quảng Ngãi đã chiến đấu mở đường máu lên phía bắc, nhưng chỉ một số ít đến được Chu Lai. Chỉ trong vòng một ngày, tình hình tại Quân đoàn I đã tuột khỏi tầm kiểm soát.

Khi cuộc rút quân vào ba ốc đảo hoàn tất, Tướng Trưởng ra các mệnh lệnh như sau: Sư đoàn 1 và các đơn vị khác ở khu vực Huế sẽ rút quân theo đường bộ về hướng Đà Nẵng, trong khi các bộ phận Thủy quân Lục chiến sẽ được tàu chiến đón đi từ Huế; Sư đoàn 2, gia đình họ và những gì còn lại của lực lượng tiểu khu Quảng Ngãi sẽ di tản bằng đường biển ra Đảo Ré, cách bờ biển Chu Lai 20 dặm (32 km). Nỗ lực này được thực hiện nhằm giúp Tướng Trưởng tuân thủ chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu rằng ông phải tổ chức phòng thủ Đà Nẵng mà không có lực lượng Thủy quân Lục chiến, đơn vị vốn có lệnh phải rút về phía nam. Sự thiếu hụt kế hoạch và cuộc rút quân vội vã dọc theo các tuyến đường không được bảo vệ nhằm kịp thời hạn di tản đã khiến Sư đoàn 2 tổn thất tới 2/3 quân số cùng hầu hết trang thiết bị. Chỉ có 7.000 binh lính và khoảng 3,000 thường dân được di tản khỏi Chu Lai.Bản mẫu:Sfnp

Trong ngày 26 tháng 3, hệ thống chỉ huy và điều khiển hoàn toàn sụp đổ và kỷ luật của Sư đoàn 1 bị xói mòn nghiêm trọng sau khi tư lệnh sư đoàn nói với các binh sĩ của mình: "Chúng ta đã bị phản bội... Giờ thì sauve qui peut (ai chạy được cứ chạy)... Hẹn gặp lại ở Đà Nẵng."Bản mẫu:Sfnp Cuộc hành quân bằng đường bộ, vốn liên tục hứng chịu những loạt pháo kích dữ dội trên suốt chặng đường, đã biến thành một cảnh tượng hỗn loạn khi tiến về Đà Nẵng. Ngay khi những gì còn sót lại của cánh quân đặt chân đến thành phố, các binh lính đã nhanh chóng đào ngũ, tản mát đi tìm kiếm người thân của họ. Trên vùng bờ biển gần Huế, chỉ có duy nhất một trung đoàn thuộc Sư đoàn 1, khoảng 600 lính thủy đánh bộ và 7.700 thường dân được các tàu hải quân đón đi.Bản mẫu:Sfnp Trước tình thế không thể tháo chạy, năm tiểu đoàn trưởng thuộc Sư đoàn Thủy quân Lục chiến đã nói lời từ biệt rồi tự sát bằng súng chứ không chấp nhận bị bắt làm tù binh.Bản mẫu:Sfnp

Từ phía bắc, hai sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng các đơn vị tăng thiết giáp và pháo binh đã bao vây sườn phía tây của Đà Nẵng. Ở phía nam, thêm hai sư đoàn nữa áp sát và đưa khu vực trung tâm thành phố vào trong tầm bắn của pháo binh. Đà Nẵng sau đó rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn tột cùng. "Nạn đói, cướp bóc và tội phạm diễn ra tràn lan. Giao thông tê liệt hoàn toàn... khối người bị mắc kẹt trong thành phố ước tính lên tới khoảng 1,5 triệu người."Bản mẫu:Sfnp Trưa ngày 28 tháng 3, khi việc tổ chức một hệ thống phòng thủ có tổ chức cho thành phố trở nên bất khả thi, Tướng Trưởng đã xin phép được di tản bằng đường biển, nhưng ông Thiệu, trong sự bối rối, đã khước từ đưa ra một quyết định dứt khoát. "Ông ấy không bảo Tướng Trưởng nên rút lui hay ở lại để chiến đấu", Tướng Viên, người ở bên cạnh ông Thiệu lúc đó, cho biết. Khi hệ thống thông tin liên lạc với Sài Gòn bị cắt đứt, và dựa trên sự tự quyết của chính mình, Tướng Trưởng đã ra lệnh thực hiện một cuộc di tản bằng đường biển bắt đầu vào sáng ngày hôm sau, 29 tháng 3.Bản mẫu:Sfnp

Hàng ngàn binh lính và thường dân đã tràn ra biển, nơi hàng trăm người đã bị chết đuối khi cố gắng tiếp cận các con tàu vốn không thể cập bờ do thủy triều xuống thấp. Hàng ngàn binh sĩ đã tử nạn dưới làn pháo kích liên tục của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong số bốn sư đoàn bộ binh, bốn liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn thiết giáp, sư đoàn không quân cùng hàng ngàn nhân viên địa phương, hậu cần và tham mưu của QLVNCH, chỉ có khoảng 16.000 người được di tản thành công khi Quân đội Nhân dân Việt Nam tràn vào làm chủ thành phố vào ngày 29 tháng 3.Bản mẫu:Sfnp Trong số gần hai triệu thường dân đổ về chật cứng Đà Nẵng vào cuối tháng 3, chỉ có hơn 50.000 người được rút đi bằng đường biển.Bản mẫu:Sfnp Bị bỏ lại phía sau là 70.000 binh lính QLVNCH bị các lực lượng quân Giải phóng bắt làm tù binh.Bản mẫu:Sfnp Phía Việt Nam cộng hòa cũng bỏ lại 33 máy bay phản lực chiến đấu A-37 Dragonfly còn nguyên vẹn tại Căn cứ không quân Đà Nẵng cùng gần 60 máy bay khác tại Căn cứ không quân Phù Cát. Trong sự kiện sụp đổ của Đà Nẵng, không có một trận hội chiến lớn nào diễn ra và rất ít binh lính QLVNCH đóng trong và xung quanh thành phố nổ súng để phòng thủ bảo vệ nó.Bản mẫu:Sfnp

Tướng Ngô Quang Trưởng đã không giữ lời hứa “chết trong thành phố Huế”, mà tìm cách bơi ra tàu chiến đang neo ngoài khơi Đà Nẵng để thoát khỏi vòng vây.[45] Ngày 29/3, khi tướng Trưởng đang ở trên tàu HQ-404 thì Nguyễn Văn Thiệu ra một mệnh lệnh qua điện thoại yêu cầu ông tổ chức lực lượng quay lại tái chiếm Đà Nẵng, ông từ chối thi hành nhiệm vụ với lý do là binh sĩ đã mất hết tinh thần chiến đấu[46]

Tiếp sau đó, những trung tâm kháng cự ít ỏi còn lại dọc theo dải duyên hải "đã đổ sụp như một dãy bình sứ trượt khỏi kệ": Quảng Ngãi vào ngày 24 tháng 3; Quy Nhơn và Nha Trang vào ngày 1 tháng 4; và Vịnh Cam Ranh vào ngày 3 tháng 4.Bản mẫu:Sfnp

Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông

Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Nam Biển Đông từ kinh tuyến 111 độ 30 phút Đông đến kinh tuyến 117 đô 20 phút Đông; từ vĩ tuyến 6 độ 50 phút Bắc đến vĩ tuyến 12 độ Bắc; cách bán đảo Cam Ranh 480 km, cách đảo Hải Nam 1.150 km, cách đảo Đài Loan 1.780 km. Với hơn 100 đảo có diện tích đất nổi không quá 200 km vuông nhưng bao trùm diện tích mặt nước và các bãi đá ngầm có diện tích đến 180.000 km vuông; đây là vùng đảo có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng.[47] Vào thời điểm đầu năm 1975, QLVNCH chiếm giữ 5 đảo trong số 11 đảo có người ở gồm: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn. Tổng số quân 160 người thuộc tiểu đoàn 371 địa phương quân tỉnh Phước Tuy. Tuy số quân không đông nhưng lực lượng này được một tàu tuần dương và hai tàu hộ tống yểm hộ bằng hỏa lực hạm tàu, lập thành vành đai phòng ngự cơ động trên biển xung quanh các đảo. Ngoài ra còn có 4 tàu vận tải đậu tại các bãi để chuyển quân khi cần thiết.[20]

Ngày 25 tháng 3 năm 1975, Quân ủy trung ương và Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng có kiến nghị trình lãnh đạo Đảng và Nhà nước về việc đánh chiếm Trường Sa. Ngày 30 tháng 3, Bộ tư lệnh Quân khu 5 được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân lập kế hoạch và tổ chức đánh chiếm Trường Sa. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, dưới sự chỉ huy của trung tá Mai Năng, các tàu vận tải 673, 674, 675 của Hải đoàn 125 chở các đơn vị thuộc Đoàn 126 đặc công hải quân, tiểu đoàn 471 Quân khu 5 xuất phát từ quân cảng Đà Nẵng hướng về đảo Song Tử Tây, mục tiêu tấn công đầu tiên.[48]

Sau 20 ngày vừa hành quân, vừa tổ chức chiến đấu, hồi 9 giờ 30 ngày 29 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng đã lần lượt làm chủ các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa lớn và một số đảo khác. Cũng trong tháng tư, các đảo ven biển miền Trung, Côn Đảo cũng lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng trong các cuộc nổi dậy, có sự phối hợp của lực lượng vũ trang địa phương.Bản mẫu:Sfnp Riêng tại đảo Phú Quốc và các đảo nhỏ trên vịnh Thái Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phải dùng lực lượng quân sự mạnh để đánh đuổi quân Khmer đỏ lợi dụng sự suy yếu và tan rã của QLVNCH để chiếm đóng các đảo này.[49]

Chiến dịch Hồ Chí Minh

Trên tuyến phòng thủ Phan Rang - Xuân Lộc

Bản mẫu:Further Sau những thắng lợi vượt xa mức tưởng tượng tại miền Trung và Tây Nguyên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm giành chiến thắng trước khi miền Nam bước vào mùa mưa năm 1975 thay vì đợi đến năm 1976 để thực hiện bước 2 của Kế hoạch chiến lược hai năm 1975–1976 như đã đề ra vào cuối năm 1974.[lower-alpha 5]Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị họp nhận định: "Thời cơ chiến lược lón đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mối, tranh thủ thòi gian cao độ, nhanh chóng tặp trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay. Bộ CHính trị quyết định: quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5-1975)".Bản mẫu:Sfnp Đại tướng Văn Tiến Dũng được lệnh bỏ qua học thuyết lâu đời về việc lập kế hoạch tỉ mỉ và chuẩn bị chiến trường một cách bài bản nhằm nhanh chóng đè bẹp "chính quyền bù nhìn" và kết thúc chiến tranh.Bản mẫu:Sfnp Trở ngại duy nhất đối với mục tiêu đó là việc điều động các lực lượng phía bắc của ông vượt qua quãng đường 370 dặm (600 km) (các sư đoàn dự bị ở miền Bắc sẽ phải di chuyển tới 1.000 dặm (1.600 km)) về phía nam để tham gia cuộc tấn công vào thủ đô Sài Gòn. Trong một trong những chiến công hậu cần phức tạp nhất của cuộc chiến, ông đã tiến hành thực hiện chính xác điều đó.Bản mẫu:Sfnp

Tập tin:HCMC5.jpg
Trận Xuân Lộc

Sau ngày 25 tháng 3, Lê Đức Thọ được Bộ Chính trị cử vào khu B2 trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh.Bản mẫu:Sfnp Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Lê Đức Thọ đến sở chỉ huy của Đại tướng Văn Tiến Dũng tại Lộc Ninh.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Tướng Dũng và các tham mưu của ông về cơ bản đã điều chỉnh kế hoạch ban đầu của ông Trà và chuẩn bị một cuộc tiến công theo ba mũi do Quân đoàn 4 dẫn đầu, mũi này sẽ đánh chiếm nút giao thông đường bộ huyết mạch tại Xuân Lộc,Bản mẫu:Sfnp tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh và được mệnh danh là "cánh cửa thép bảo vệ Sài Gòn."Bản mẫu:SfnpBản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Việc làm chủ ngã tư này sẽ mở toang cánh cửa tiến về Biên Hòa (nơi lưu trữ 60% số đạn dược còn lại của Việt Nam cộng hòa) và các hướng tiếp cận chiến lược phía đông của Sài Gòn.Bản mẫu:Sfnp Cánh quân đảm nhiệm nhiệm vụ này là Quân đoàn 4 dưới sự chỉ huy của tư lệnh Hoàng Cầm và chính ủy Hoàng Thế Thiện.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Để đánh lạc hướng sự chú ý của Sài Gòn và ngăn chặn việc tăng viện cho Xuân Lộc, Đoàn 223 vừa được thành lập sẽ chặn cắt Quốc lộ 4, chia cắt Sài Gòn với Đồng bằng sông Cửu Long.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Để hỗ trợ cho nỗ lực này, các thành phần khác của Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ khép chặt vòng vây quanh thành phố từ phía tây và phía nam. Vì chưa có mật danh nào được áp dụng cho cuộc tiến công mới, Tướng Dũng đã đề xuất đặt tên cho chiến dịch là Chiến dịch Hồ Chí Minh.Bản mẫu:Sfnp Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua vào ngày 14 tháng 4. Ông Lê Đức Thọ sau đó đã chuyển một thông điệp từ Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tôn Đức Thắng tới Đại tướng Văn Tiến Dũng: "Các đồng chí phải thắng. Nếu không, đừng quay về."Bản mẫu:Sfnp

Trọng trách phòng thủ Xuân Lộc được giao phó cho Sư đoàn 18, được tăng cường bởi Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5, Lữ đoàn 3 Kỵ binh Thiết giáp, hai tiểu đoàn Biệt động quân, hai tiểu đoàn pháo binh và Liên đoàn 81 Biệt kích dù.Bản mẫu:Sfnp Cuộc giao tranh khốc liệt kéo dài một tuần bùng phát vào ngày 8 tháng 4 diễn ra ngay trong và xung quanh Xuân Lộc, trở thành trận quyết chiến lớn nhất trong toàn bộ cuộc tiến công. Đợt tấn công mở màn được tiến hành bởi Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam,Bản mẫu:Sfnp các đơn vị này đã tấn công trực diện vào thị xã, một chiến thuật được sử dụng rộng rãi trước đây với hy vọng nhanh chóng làm tan rã lực lượng phòng thủ. Tuy nhiên, phía Quân giải phóng đã phải thay đổi chiến thuật sau khi vấp phải 2 tuần "tử thủ" của phía QLVNCH, sử dụng cách đánh cắt đứt và vu hồi phía sau.Bản mẫu:Sfnp

Sau khi một lực lượng đặc nhiệm thiết giáp QLVNCH được cử đi ứng cứu thị xã dọc theo Quốc lộ 1 bị ngăn chặn, Lữ đoàn 1 Nhảy dù đã được trực thăng vận xuống khu vực ngoại ô Xuân Lộc.Bản mẫu:Sfnp Phía QLVNCH đã tập trung 25,000 binh lính vào trận đánh này, chiếm gần 1/3 lực lượng dự bị còn lại của họ. Lần đầu tiên kể từ khi cuộc tiến công của quân Giải phóng nổ ra, Không lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục cung cấp hỗ trợ hỏa lực tầm gần hiệu quả cho các binh lính phòng thủ. Ngay cả Tướng Dũng cũng bị ấn tượng bởi "sự ngoan cố của địch" tại nơi đã biến thành một "cối xay thịt".Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Tập tin:American man punches Vietnamese man during Nha Trang evacuation.jpg
Một người đàn ông Mỹ đấm vào mặt một người khác để giành chỗ trên trực thăng di tản khỏi Nha Trang

Trong tuần đầu tháng 4 năm 1975, trước sức ép ngày càng tăng của Quân Giải phóng, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn vừa tăng cường lực lượng ra Phan Rang vừa khẩn trương bố trí lại thế trận. Khu vực trung tâm và sân bay Thành Sơn do Bộ Chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 đặt dưới quyền Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi trực tiếp phụ trách, với Trung đoàn 5 phòng ngự phía tây bảo vệ sân bay, Trung đoàn 11 giữ ngã ba Quốc lộ 1 và tỉnh lộ 11, Lữ đoàn Dù 2 bảo vệ sở chỉ huy tiền phương, và Liên đoàn 31 Biệt động quân chốt giữ Du Long cách phía bắc thị xã 20 km. Hai trận địa pháo binh 105mm và 155mm gồm 20 khẩu được bố trí phía sau làm hỏa lực ngăn chặn.Bản mẫu:Sfnp Đối phó với lực lượng này là Quân đoàn 2 và các lực lượng duyên hải.Bản mẫu:Sfnp

Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3 được tăng cường Trung đoàn 25 mở đợt tiến công vào tuyến phòng thủ tiền duyên Phan Rang, chiếm cảng Ninh Chữ, chia cắt Quốc lộ 1 và áp sát sân bay Thành Sơn. Ngày 15 tháng 4, Quân Giải phóng tiếp tục phá vỡ tuyến phòng ngự bên trong, vây chặt toàn bộ các mục tiêu trọng yếu trong thị xã. Quân đoàn 2 phải đưa thêm Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 cùng một tiểu đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203 vào tham chiến nhằm nhanh chóng chiếm Phan Rang.Bản mẫu:Sfnp

Sáng ngày 16 tháng 4 năm 1975, Quân Giải phóng đồng loạt tiến công toàn bộ mục tiêu trong thị xã. Đến 9 giờ 30 phút, Trung đoàn 101 chiếm dinh tỉnh trưởng và bắt toàn bộ bộ máy hành chính tỉnh kể cả Đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tư. Đến 10 giờ, Trung đoàn 25 Tây Nguyên đánh chiếm sân bay Thành Sơn, bắt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tiền phương Quân đoàn 3. Tối ngày 16 tháng 4, tỉnh Ninh Thuận và một phần phía bắc tỉnh Bình Thuận hoàn toàn được giải phóng.Bản mẫu:Sfnp

Từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 4 năm 1975, lực lượng vũ trang Khu 6 mở các đợt tác chiến tại Bình Thuận nhằm kìm chân lực lượng QLVNCH tại chỗ. Trung đoàn 812 cùng Tiểu đoàn đặc công 200C tiến công Chi khu Thiện Giáo, buộc QLVNCH rút dần về giữ cầu Sông Cái.Bản mẫu:Sfnp Liên đoàn 21 biệt động quân cùng 6 tiểu đoàn bảo an tổ chức phản kích có pháo hạm và không quân yểm trợ, nhưng đều bị đánh bật, các bàn đạp Phú Long, Tân Điền được giữ vững.Trưa ngày 18 tháng 4 năm 1975, sau khi giải phóng 4 quận lỵ Phan Rí, Tuy Phong, Sông Mao và Hòa Đa, Quân đoàn 2 áp sát Phan Thiết.Bản mẫu:Sfnp Trung đoàn 18 cùng xe tăng thiết giáp đột phá đánh chiếm cầu Sông Cái, phối hợp với Trung đoàn 812 và Trung đoàn 12 Khu 6 đánh thẳng vào nội thị. Đến 21 giờ cùng ngày, thị xã Phan Thiết hoàn toàn được giải phóng.Bản mẫu:Sfnp

Vào ngày 14 tháng 4, Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận được chỉ thị mới từ Hà Nội: "Chúng ta phải có mặt tại Sài Gòn để mừng ngày sinh của Bác Hồ." Thời hạn đó, ngày 19 tháng 5, chỉ còn cách đúng một tháng. Tại thời điểm đó, Tướng Dũng quyết định tiến hành đi vòng qua các lực lượng phòng thủ tại Xuân Lộc và bắt đầu nã pháo dồn dập vào Căn cứ không quân Biên Hòa, chấm dứt một cách hiệu quả sự hỗ trợ của không quân đối phương. Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng thay đổi mục tiêu ban đầu, thay vì đánh thẳng vào thị xã, họ chuyển sang tấn công và tiêu diệt các đồn bốt xung quanh Xuân Lộc, cắt đứt Sư đoàn 18 khỏi các lực lượng tiếp viện của họ.Bản mẫu:Sfnp Bị đe dọa bởi nguy cơ bao vây, Sư đoàn 18 đã tổ chức một cuộc rút quân về phía nam dọc theo Tỉnh lộ 2.Bản mẫu:Sfnp Sau hơn ba tuần giao tranh ác liệt, riêng Sư đoàn 18 đã chịu tổn thất 30% quân số (khoảng 4.000 binh lính) trong khi họ ước tính đã gây ra hơn 5.000 thương vong cho quân Giải phóng và phá hủy 37 xe tăng, xe quân sự. Tuy nhiên, họ không thể làm thay đổi được cục diện chung của cuộc chiến, khi Sư đoàn 18 nhanh chóng tan rã không lâu sau đó trong các trận giao tranh xung quanh Biên Hòa.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Với việc toàn bộ tỉnh Long Khánh đã nằm dưới quyền kiểm soát của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Văn Tiến Dũng hoàn toàn tự do điều động các lực lượng của mình bao vây chặt Sài Gòn.

Tập tin:ARVN helicopter.jpg
Một lính Việt Nam Cộng hòa đang cố gắng bám vào càng chiếc trực thăng UH-1 để di tản

Tướng Lê Minh Đảo ban đầu tuyên bố "tử thủ Xuân Lộc" nhưng cuối cùng đã cải trang làm dân thường, đi trên 1 chiếc xe lam chạy về Sài Gòn. Phóng viên chiến trường Dirck Halstead mô tả sự hoản loạn của binh sĩ QLVNCH khi Xuân Lộc sắp thất thủ:[50]

Tướng Đảo gọi trực thăng để di tản chúng tôi, nhưng đột nhiên, quân lực QLVNCH hai bên đường hoảng loạn, bỏ hàng ngũ và tràn vào chiếc trực thăng, lối thoát duy nhất của chúng tôi. Kíp lái đã cố gắng đẩy họ lại, nhưng rồi chiếc trực thăng vẫn bay lơ lửng trên không với hai người lính đang bám trên càng đáp

Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long

Bản mẫu:Further

Ngay cả sau tổn thất tại Đà Nẵng, "thảm họa đơn lẻ tồi tệ nhất trong lịch sử Việt Nam cộng hòa", chính quyền của Tổng thống Ford vẫn tiếp tục không tin rằng chính thể Sài Gòn đang trên đà sụp đổ hoàn toàn.Bản mẫu:Sfnp Vào ngày 10 tháng 4, Tổng thống Ford đã đến Quốc hội để yêu cầu một gói viện trợ quân sự bổ sung trị giá 722 triệu USD cho Việt Nam cộng hòa, cộng thêm 250 triệu USD viện trợ kinh tế và tị nạn.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Lý do biện minh cho khoản viện trợ của tổng thống đã thay đổi. Ông tuyên bố trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng ông lo ngại: "Nếu chúng ta nói 'không còn tiền nữa', ông Thiệu... có thể sẽ làm điều gì đó hoàn toàn mất lý trí." Nói cách khác, có khả năng nếu không có viện trợ, phía Việt Nam cộng hòa có thể quay sang bắt giữ những người Mỹ còn ở lại miền Nam để đòi tiền chuộc.Bản mẫu:Sfnp Quốc hội Mỹ không hề bị lay chuyển, họ tin rằng chính quyền có thể chỉ đang trì hoãn việc di tản các nhân viên và thường dân Mỹ còn lại nhằm ép buộc đạo luật viện trợ phải được thông qua.Bản mẫu:Sfnp Cũng trong khoảng thời gian này, để đề phòng trường hợp Quốc hội Hoa Kỳ từ chối viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu đã cử Tổng trưởng Bộ Ngoại giao Vương Văn Bắc sang Ả Rập Xê Út để yêu cầu vay tiền.Bản mẫu:Sfnp Tuy được Quốc vương Khalid bật đèn xanh, nhưng thương vụ cho vay được dự kiến sẽ phải mất ít nhất ba đến bốn tháng để hoàn thành.Bản mẫu:Sfnp Trong cơn tuyệt vọng, Tổng thống Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Ford đề nghị vay thế chấp 3 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, cả đề nghị vay nợ lẫn viện trợ đều bị Quốc hội Hoa Kỳ bác bỏ.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Tư lệnh Quân đoàn III QLVNCH, Tướng Toàn, đã tổ chức năm trung tâm đề kháng để phòng thủ thành phố. Các mặt trận này được kết nối với nhau tạo thành một vòng cung bao bọc khu vực phía tây, phía bắc và phía đông của thủ đô. Mặt trận Củ Chi ở phía tây bắc do Sư đoàn 25 trấn giữ; mặt trận Bình Dương ở phía bắc do Sư đoàn 5 chịu trách nhiệm; mặt trận Biên Hòa ở phía đông bắc do Sư đoàn 18 phòng thủ; mặt trận Vũng Tàu và Quốc lộ 15 ở phía đông nam do Lữ đoàn 1 Nhảy dù và một tiểu đoàn của Sư đoàn 3 trấn giữ; và mặt trận Long An do Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô chịu trách nhiệm, được phòng thủ bởi các thành phần thuộc Sư đoàn 22 vừa được tái tổ chức.Bản mẫu:Sfnp Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ (có 2 lữ đoàn) chốt giữ Long Bình; Lữ đoàn kỵ binh 3 chốt giữ Biên Hoà - Long Bình; Lữ đoàn dù 1 chốt giữ Bà Rịa. Tổng lực lượng phòng thủ của QLVNCH xung quanh Sài Gòn lên tới khoảng 60.000 quân.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp

Vào ngày 17 tháng 4, thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia sụp đổ vào tay Khmer Đỏ, và Mỹ đã không có hành động can thiệp nào cho người đồng minh cũ của mình. Do sức ép lớn từ các tướng dưới quyền như Trần Văn Đôn, Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hảo,Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Ông đã có một bài phát biểu kéo dài ba tiếng trên sóng truyền hình, được nhiều người đánh giá là bài diễn văn "hay nhất",Bản mẫu:Sfnp nhưng đồng thời cũng "đả kích nhất" của ông trong suốt 8 năm làm tổng thống.Bản mẫu:Sfnp Trong bài diễn văn tuy "rời rạc, nhưng nồng nhiệt và chân thành" này, ông lần đầu tiên thừa nhận lệnh di tản khỏi Cao nguyên Trung phần và miền Bắc là căn nguyên dẫn đến thảm bại.Bản mẫu:Sfnp Tuy nhiên, sau đó ông tuyên bố quyết định trên – nếu xét về tình hình lúc bấy giờ – là bất đắc dĩ, đồng thời đùn đẩy trách nhiệm cho các tướng.Bản mẫu:Sfnp Ông mô tả Hoa Kỳ là "một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo" và lên tiếng chỉ trích hành động cắt giảm viện trợ của họ.Bản mẫu:Sfnp Nguyễn Văn Thiệu cũng trách cứ Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger vì đã ký Hiệp định Paris – một hiệp định mà Hà Nội đã vi phạm.[51] Ông tuyên bố rằng người Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa, cho rằng "cái bản văn hiệp định đó là bản văn Hoa Kỳ bán miền Nam Việt Nam cho Cộng sản".Bản mẫu:Sfnp Ông Thiệu cũng đổ lỗi cho các phương tiện truyền thông cả trong và ngoài nước vì liên tiếp đưa tin tham nhũng và khủng hoảng của chính phủ Sài Gòn, làm suy sụp tinh thần của quân đội và dân chúng.[52] Cũng trong bài diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố mạnh mẽ rằng dù từ chức, ông ta sẽ tiếp tục sát cánh chiến đấu với binh sỹ: "Dù mất một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ...".Bản mẫu:Sfnp Nhưng những tuyên bố đó đã nhanh chóng bị Nguyễn Văn Thiệu vứt bỏ. Chỉ 4 ngày sau, Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật lên máy bay thoát khỏi Sài Gòn vào đêm ngày 25/4/1975. Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu diễn ra bí mật trong đêm tối, dưới sự sắp đặt của Thomas Polgar - chỉ huy trưởng CIA ở Sài Gòn.Bản mẫu:Sfnp Ngay sau bài phát biểu, ghế tổng thống được bàn giao lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương.Bản mẫu:Sfnp

Tại bộ chỉ huy tiền phương mới đặt tại Bến Cát, Đại tướng Văn Tiến Dũng chuẩn bị các kế hoạch cho trận quyết chiến sau cùng. Ông bao vây chặt Sài Gòn bằng bốn quân đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam và Đoàn 232 vừa được tập hợp cấp tốc, tạo thành một khối chủ lực gồm 15 sư đoàn, 5 trung đoàn và lữ đoàn bộ binh cùng các đơn vị pháo binh và tăng thiết giáp hỗ trợ, tổng cộng khoảng 270,000 quân trong đó có 20,000 là bộ đội địa phương. Kế hoạch của ông là tránh các cuộc giao tranh đô thị dữ dội ngay trong lòng thành phố bằng cách trước hết kìm chân các lực lượng QLVNCH vòng ngoài tại các vị trí phòng thủ của họ, sau đó tung năm mũi tiến công thọc sâu xuyên qua họ vào thẳng trung tâm, mỗi mũi nhắm vào một mục tiêu cụ thể: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất và Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Các cuộc tiến công ở vùng ngoại vi bắt đầu vào ngày 26 tháng 4 và mũi tấn công chính vào trung tâm thành phố bắt đầu vào ngày hôm sau.

Sau khi ông Thiệu từ chức, cục diện quân sự của QLVNCH ngày càng xuống dốc nghiêm trọng. Vào ngày 26, Quân đội Nhân dân Việt Nam phát động cuộc tấn công tổng lực để đánh chiếm Biên Hòa và tổ hợp hậu cần khổng lồ tại Tổng kho Long Bình từ hướng nam và đông nam. Ba ngày sau, thành phố cảng Vũng Tàu bị tấn công và áp lực đè nặng lên mặt trận Củ Chi là vô cùng dữ dội.Bản mẫu:Sfnp

Tình trạng mất tổ chức, mất kiểm soát và vô chính phủ tương tự từng xảy ra ở Quân đoàn I và II nay lại tái diễn ngay tại Sài Gòn, nơi lệnh thiết quân luật đã được ban bố để kiểm soát sự hỗn loạn và vô luật pháp. Mặc dù viễn cảnh về một chiến thắng của đối phương vào thời điểm đó đã gây ra cú sốc lớn trong nhiều tầng lớp xã hội miền Nam, phần lớn người dân lại có rất ít hoặc không có hành động nào để ngăn chặn điều đó.Bản mẫu:Sfnp Một kịch bản lặp lại của vụ thảm sát tại Huế, dẫu với quy mô lớn hơn nhiều, đã được chính phủ thúc đẩy như một chiêu bài tuyên truyền kể từ khi cuộc tiến công mở màn nhằm nỗ lực đoàn kết người dân, nhưng nó chỉ kích động một phản ứng thái quá và gây ra sự tê liệt gần như hoàn toàn khi thời điểm phòng thủ thành phố thực sự đến.Bản mẫu:Sfnp

Khi mũi tiến công chính triển khai vào ngày 27 tháng 4, Quốc hội Việt Nam cộng hòa đã bàn giao chức vụ tổng thống cho Đại tướng Dương Văn Minh, người đã tuyên thệ nhậm chức vào ngày hôm sau. Người ta rộng rãi giả định rằng ông Minh, một người không có lịch sử hành động đối đầu quyết liệt với phía bên kia, sẽ có thể thiết lập một lệnh ngừng bắn và mở lại các cuộc đàm phán.Bản mẫu:SfnpBản mẫu:Sfnp Tuy nhiên, lần đầu tiên kể từ Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, phía cách mạng đã nắm giữ lợi thế tuyệt đối trên chiến trường và chiến thắng đã nằm trong tầm tay, bất kể có những thay đổi chính trị nào ở Sài Gòn.Bản mẫu:Sfnp Kết quả là, họ không sẵn sàng đồng ý với một lệnh ngừng bắn, ngay cả khi ông Minh nắm quyền điều hành.

Việc ông Minh nhậm chức đóng vai trò như một tín hiệu cho các sĩ quan QLVNCH, những người "sẽ không có sự thỏa hiệp nào với đối phương" và từng chịu trách nhiệm cho việc tra tấn, giam giữ nhiều đặc tình cùng những người cảm tình của quân Giải phóng. Họ bắt đầu thu dọn hành lý và tìm mọi cách để rời khỏi đất nước.Bản mẫu:Sfnp Chiến dịch di tản bằng đường hàng không cho các nhân viên và thường dân Mỹ đã được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 tại Tân Sơn Nhất.Bản mẫu:Sfnp Chính trong cuộc di tản này, Hạ sĩ Thủy quân Lục chiến Mỹ Darwin Judge và Sĩ quan Charles McMahon, Jr., khi đang gác tại một chốt kiểm soát ở cổng chính của căn cứ, đã tử nạn trong một đợt pháo kích bằng rocket. Họ là những quân nhân Mỹ cuối cùng thiệt mạng trên đất nước Việt Nam.Bản mẫu:Sfnp Vào lúc 10:51 ngày 29 tháng 4, Chiến dịch Gió lốc, cuộc di tản bằng trực thăng của Mỹ dành cho các nhân viên quân sự, đại sứ quán, thường dân Mỹ và những công dân Việt Nam cộng hòa được cho là có nguy cơ bị trả đũa, đã được triển khai giữa bối cảnh thành phố rơi vào cảnh hỗn loạn tột cùng. Đến khi chiến dịch kết thúc, hơn 40 tàu chiến của Hạm đội 7 Mỹ đã đón nhận 1.373 người Mỹ và 5.595 người Việt Nam từ các trực thăng Mỹ cùng khoảng 60.000 người từ các tàu thuyền và máy bay.Bản mẫu:Sfnp Tổng số người được di tản bao gồm 57.507 người bằng đường hàng không và 73.000 người bằng đường biển.Bản mẫu:Sfnp

Vào ngày 28 tháng 4, các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu mở đường vào vùng ngoại ô thành phố. Tại cầu Tân Cảng, cách trung tâm thành phố khoảng 3 dặm (4,8 km), các binh lính QLVNCH đã giao tranh với quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đang cố gắng kiểm soát nhịp cầu, nhằm cắt đứt tuyến giao thông đường bộ cuối cùng của thành phố với phía nam và giành quyền tiếp cận trực tiếp vào trung tâm Sài Gòn. Cuối chiều hôm đó, khi Tổng thống Minh vừa kết thúc bài phát biểu nhậm chức, một biên đội gồm bốn chiếc A-37 thu giữ được của RVNAF đã tiến hành ném bom oanh tạc Sân bay Tân Sơn Nhất. Khi Biên Hòa thất thủ, Tướng Toàn chạy tháo về Sài Gòn, thông báo với chính phủ rằng hầu hết các lãnh đạo cấp cao của QLVNCH đã buông xuôi chấp nhận thất bại.Bản mẫu:Sfnp

Bất chấp sự tan rã ngày càng lớn của QLVNCH, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn phải đối mặt với sự kháng cự mãnh liệt, thậm chí là những nỗ lực phản công nhằm đẩy lùi họ. Vùng ngoại ô và trung tâm thành phố biến thành các bãi chiến trường, nơi quân tiến công giao tranh với các nhóm binh lính QLVNCH rệu rã đã chạy vào Sài Gòn nhưng không thể di tản. Những người đàn ông này, bị các chỉ huy của mình bỏ rơi, hoặc là cởi bỏ quân phục và ẩn náu, hoặc tiến hành các cuộc tấn công liều chết vào đối phương với hy vọng tìm một cái chết nhanh chóng. Những đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chiếm các công trình trọng yếu phát hiện mình đang phải đối đầu với một lực lượng có kỷ luật hơn, được chỉ huy bởi các sĩ quan bị từ chối quyền di tản. Những người này đã tận dụng trang thiết bị do các đồng đội trốn chạy bỏ lại để thiết lập một vành đai xung quanh thành phố. Tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực, một sự kết hợp lỏng lẻo của những binh lính hoặc muốn tháo chạy hoặc muốn tiêu diệt càng nhiều đối phương càng tốt trước khi chết, phần lớn không có người chỉ huy và bị cắt đứt nguồn tiếp tế, không thể hy vọng đứng vững trước một quân đội có kỷ luật với sự hỗ trợ của pháo binh và tăng thiết giáp.

Tập tin:BuiQuangThan.jpg
Các xe tăng số 390 (trái) và số 843 (phải) của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975

Vào lúc 4:58 sáng ngày 30 tháng 4, Đại sứ Mỹ Martin bước lên trực thăng và rời khỏi Đại sứ quán Mỹ trên một trong những chuyến bay di tản cuối cùng của người Mỹ. Vào lúc 07:53, những lính Thủy quân Lục chiến Mỹ cuối cùng được bốc đi khỏi nóc nhà Đại sứ quán. Vào lúc 10:24 sáng, Tổng thống Minh ra lệnh cho toàn bộ lực lượng Việt Nam cộng hòa ngừng bắn. Sau đó, ông Minh được áp giải đến đài phát thanh, từ đó ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Khoảng giữa trưa, một chiếc xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, mang số hiệu 390, đã húc đổ cổng chính của Dinh Độc Lập. Một thành viên của kíp xe 843, chiếc xe húc vào cổng phụ và bị kẹt lại, đã nhảy ra ngoài, chạy lên các bậc thềm, mang theo lá cờ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.Bản mẫu:Sfnp

Tổng số người miền Nam Việt Nam được Mỹ di tản hoặc tự di tản và cuối cùng nằm dưới sự quản lý của Hoa Kỳ để xử lý thủ tục như những người tị nạn nhập cảnh vào Mỹ đạt tổng cộng 138.869 người.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi các lực lượng quân sự Việt Nam cộng hòa dường như vẫn còn nguyên vẹn và có tinh thần chiến đấu, Phó Tư lệnh Quân đoàn IV, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng đã lên kế hoạch xây dựng một "khu vực bí mật", sử dụng nguồn tài nguyên nông nghiệp dồi dào của vùng đồng bằng để thành lập một vùng kháng chiến. Tướng Lê Văn Hưng đã thành lập một chiến dịch bí mật mang tên "Kế hoạch Hoài Hương" nhằm đưa các binh lính và sĩ quan QLVNCH còn lại đến các căn cứ quân sự và vị trí ẩn khuất trong rừng sâu ở Đồng bằng sông Cửu Long để tổ chức một cuộc phản công kéo dài chống lại lực lượng đối phương, với hy vọng về một lệnh ngừng bắn khác vào đầu mùa hè năm 1975 và giữ lại một phần Đồng bằng sông Cửu Long cho Việt Nam cộng hòa. Nhiều tuần trước khi Sài Gòn sụp đổ, hầu hết các tỉnh lỵ thuộc Quân đoàn IV vẫn được phòng thủ ổn định bởi các hệ thống phòng thủ của QLVNCH.

Tuy nhiên, các đơn vị quân Giải phóng đã bắt đầu giao tranh với lực lượng QLVNCH và thành công trong việc cô lập hoàn toàn Quân đoàn IV với Sài Gòn, điều này đã chấm dứt hoàn toàn kế hoạch "khu vực bí mật". Khi Tổng thống Minh tuyên bố đầu hàng, Quân đoàn IV bắt đầu tan rã. Cả Tướng Lê Văn Hưng và Tư lệnh Quân đoàn IV Nguyễn Khoa Nam đều không đồng tình với lệnh đầu hàng. Vào lúc 8 giờ tối, các đơn vị quân Giải phóng đã làm chủ một số quận huyện địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù Tướng Lê Văn Hưng và một số binh lính QLVNCH lên kế hoạch tiếp tục chiến đấu chống lại các đơn vị quân Giải phóng tại Cần Thơ, nhiều người dân Cần Thơ đã phản đối việc tiếp tục kháng cự vì tin rằng đối phương sẽ bắt đầu pháo kích vào Cần Thơ gây ra nhiều thương vong trong thành phố.

Tướng Lê Văn Hưng đã đồng ý hạ vũ khí phòng thủ Cần Thơ do các phương án tháo chạy hay phòng thủ kéo dài đều quá tồi tệ. Vào khoảng 8 giờ tối, ông Hưng nói với các binh lính còn lại của mình rằng ông không muốn phải chịu đựng một cuộc vây hãm tương tự như những gì ông từng trải qua tại An Lộc vào năm 1972. Sau đó, ông đã tự sát và việc phòng thủ Cần Thơ chính thức kết thúc. Quân đoàn IV bị giải thể ngay sau đó. Cùng ngày, Chuẩn tướng Trần Văn Hai đã tự sát tại Căn cứ Đồng Tâm.

Vị tướng QLVNCH còn lại ở Đồng bằng sông Cửu Long, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, cũng đã tự sát sau lệnh đầu hàng, vào rạng sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 tại bộ chỉ huy Quân đoàn IV ở Cần Thơ. Ông thực hiện điều này sau khi nhận được tin về vụ tự sát của Tướng Lê Văn Hưng.

Kết quả

Chiến dịch mùa Xuân năm 1975 là chiến dịch quân sự lớn nhất của Quân Giải phóng trong toàn bộ cuộc Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi quyết định. Trong Chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chính quy, địa phương, cảnh sát của chế độ Việt Nam Cộng hòa[53] Toàn bộ lực lượng cố vấn quân sự còn lại của Mỹ ở Việt Nam cũng phải lên máy bay rút chạy. Kết quả của chiến dịch này là sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Việt Nam sau hơn 100 năm bị nước ngoài xâm lược, chiếm đóng và chia cắt.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức thu giữ một số lượng vũ khí lên tới 5 tỷ USD (thời giá 1975), bao gồm: 550 xe tăng, vài trăm xe thiết giáp, 1.300 pháo (trong đó có 80 khẩu pháo 175mm, 250 khẩu 155mm, gần 1.000 khẩu pháo 105mm), 42.000 xe tải, 12.000 súng cối, gần 2 triệu vũ khí bộ binh (trong đó có 47.000 súng phóng lựu M79, 63.000 súng chống tăng M72 LAW, 791.000 súng trường M16), 48.000 bộ radio, 130.000 tấn đạn dược, 940 tàu thuyền các loại, 877 máy bay và trực thăng (bao gồm 51 chiếc F-5A, chiếc 22 F-5E, chiếc 113 A-37, 36 chiếc A-1, 36 chiếc AC-47, 159 chiếc O-1 và O-2, 40 chiếc C-119, 36 AC-47, 430 UH-1 và 36 CH-47).[54][55][56]

Nhận định

  • Trong thời đại ngày nay, khi các lực lượng cách mạng thế giới ở thế tiến công, một dân tộc nước không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác-Lê-nin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh thắng mọi thế lực đế quốc xâm lược, dù đó là tên đế quốc đầu sỏ" (nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam).
  • "Toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín của quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á." (Trần Quang Cơ)[57]
  • "Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 là một thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn cho Tổ quốc ta." (Văn Tiến Dũng)[58]
  • "Mùa Xuân năm 1975, quân và dân cả nước ta đã hái bó hoa Toàn Thắng tươi ngát sắc hương nở trong ánh hào quang chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"...Từ chân trời, đã ánh lên vừng dương sáng hồng như chân lý cách mạng và Mùa Xuân Đại thắng mà dân tộc ta đã sống." (Văn Tiến Dũng)[58]
  • "Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ" (Võ Nguyên Giáp).[59]
  • "Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta chiến thắng đế quốc Mỹ" (Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân quản Sài Gòn, nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh)[60]

Quan chức Hoa Kỳ

  • "Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử" (Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam).
  • "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ." - Henry Kissinger
  • Khi Việt Nam Cộng hoà sắp sụp đổ, ngày 9/4/1975, Henry Kissinger đã nguyền rủa: "Sao chúng (Việt Nam Cộng hoà) không chết phứt cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài"[61]

Sử gia Hoa Kỳ

  • "Không còn nghi ngờ gì nữa đối với các ý đồ của Bắc Việt Nam. Họ sẽ tấn công Nam Việt Nam khi nào có thời cơ thuận lợi; nhưng lần này sẽ là 1 cuộc tấn công quân sự với khí thế áp đảo!" (William Colby)[62]
  • "Chiến tranh Việt Nam, theo phân tích cuối cùng, là một trận đấu giữa Mỹ và người được họ bảo vệ và trợ cấp dồi dào với phong trào cách mạng mà gốc rễ giai cấp và cơ sở tư tưởng đưa lại cho họ một sức bật và một sức mạnh to lớn. Cách mà những cá nhân xử sự trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, phản ánh những tiêu chuẩn xã hội và tính chất của hai chế độ đang đối địch nhau. Nguồn sức mạnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản trên ba mươi lăm năm qua là quan niệm của họ về một đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nhấn mạnh của họ đối với ý nghĩa hàng đầu của mọi hành động và giá trị đưa đến một xã hội xã hội chủ nghĩa. Khả năng của Đảng phát triển một tổ chức mà cuộc sống của những thành viên phù hợp với những nguyên tắc nói trên, đã làm cho họ đạt được mục tiêu của họ". Gabriel Kolko[63]
  • "Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc" (Neil Sheehan).[64]
  • "Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự manh mún về chính trị; tình trạng thiếu các nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc gia yếu kém đến mức nguy hiểm... Trước những thực tế khắc nghiệt này, nỗ lực nhằm tạo nên một thành trì chống chủ nghĩa cộng sản ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 đã có mầm mống thất bại ngay từ đầu." George C. Herring.[65]

Khác

  • "Ngày 30 tháng 4, không có chuyện miền Bắc chiến thắng hay miền Nam chiến bại, mà chỉ có Đế quốc Mỹ thất bại trước nhân dân Việt Nam mà thôi." (Bùi Tín)[66]
  • Tác giả Ian Moris nhắc đến sự kiện này như một minh chứng rằng trong một số trường hợp Người phương Tây không vượt trội hơn so với người Phương Đông. Ông viết: "Người phương Tây không hoàn toàn nắm quyền quản trị thế giới từ những năm 1840, và thường thất bại trong việc thực hiện đường lối chính sách của họ. Nhiều người trong số chúng ta đã sống đủ lâu để nhớ lại cuộc tháo chạy nhục nhã khỏi Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) của người Mỹ vào năm 1975 và phương cách các nhà máy Nhật Bản đã đuổi cổ các đối thủ phương Tây khỏi thị trường vào những năm 1980" (Ian Moris, Tại sao phương Tây vượt trội, Nhà xuất bản Thế giới, năm 2020, trang 18)

Ghi chú

  1. ^ Ủy ban ICCS bao gồm các thành viên Canada (sau đó được thay thế bởi Iran), Indonesia, Ba Lan và Hungary.Bản mẫu:Sfnp
  2. ^ Giá nhiên liệu tăng vọt trên toàn thế giới, hệ quả của cuộc cấm vận dầu mỏ của các nước Ả Rập được thiết lập vào năm 1972, cùng các vụ mùa lúa gạo thất bát trên khắp châu Á đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình quân sự và kinh tế của Việt Nam Cộng hòa.
  3. ^ Việc các gia đình đi theo binh sĩ đến địa bàn tác chiến của họ là điều rất phổ biến. Chính sách này giúp nâng cao tinh thần chiến đấu của binh lính, nhưng nó cũng có xu hướng ràng buộc các đơn vị QLVNCH vào các khu vực địa lý cụ thể, làm giảm khả năng điều động các đơn vị này đến các vùng bị đe dọa khác.
  4. ^ Các lực lượng này bao gồm các Sư đoàn 2, 304, 324B, 325C và Sư đoàn 711
  5. ^ Kế hoạch chiến lược hai năm 1975–1976 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm hai bước:Bản mẫu:Sfnp
    • Bước 1 (1975): tranh thủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh địch trên phạm vi lớn toàn miền Nam.
    • Bước 2 (1976): thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Chú thích

  1. ^ Dương Hảo. sđd. tr. 130
  2. ^ Tran, Van Tra (1982). "Chapter Two". Vietnam: Concluding the 30-Year War (PDF) (bằng tiếng Anh). Quyển 5. Ho Chi Minh City: Van Nghe Publishing. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2026.
  3. ^ Communist Military and Economic Aid to North Vietnam, 1970–1974 (PDF) (Declassified document) (bằng tiếng Anh). Central Intelligence Agency. tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2026.
  4. ^ HPAV, p. 469; Hoang Van Thai, pp. 36, 73. Oleg Sarin and Lev Dvoretsky, Alien Wars (Novato, California: Presidio Press, 1996), drawing on official Soviet sources, state that the reduction in Soviet military aid to North Vietnam actually began in the early 1970s.
  5. ^ "Work in Progress: "The Vietnam-Soviet Union-China Triangle Relations during the Vietnam War (1964–1973) from Vietnamese Sources" with Pham Quang Minh". www.wilsoncenter.org (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2022.
  6. ^ Nguyen, Bieu V. (2005). The Army at the Tay Nguyen Front-3rd Corps. Hanoi: People's Army Publishing House.
  7. ^ a ă â b Quân đoàn một trong chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975. tr. 39-40 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "ReferenceA" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  8. ^ a ă â Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. tr. 91
  9. ^ Nguyễn Văn Tùng. "Công tác vận tải trong Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975". Báo Quân đội nhân dân. Tổng cục Hậu cần. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  10. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2021.
  11. ^ "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với công tác hậu cần quân đội". Báo Quân đội nhân dân. Tổng cục Hậu cần. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2026.
  12. ^ Đại thắng Mùa Xuân 1975 qua những trang Hồi ký. tr. 52. Hồi ký của Võ Nguyên Giáp
  13. ^ Bộ Tổng tham mưu, "Thống kê số liệu chiến tranh trong kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)". Phần thứ nhất: Lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến chống Mỹ, số 7436/KTCM. Tài liệu Trung tâm lưu trữ BQP (K4), tr. 8
  14. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016.
  15. ^ "Nhân hòa - Một yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975". Báo Quân đội nhân dân. ngày 29 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  16. ^ "Đại tướng Lê Đức Anh và cú chết hụt không thể nào quên". Báo điện tử VietNamNet. ngày 1 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  17. ^ "Estimated Number Of Personal Arms Left Behind, 1975". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2019.
  18. ^ "Estimated Number Of Personal Arms Left Behind, 1975". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2019.
  19. ^ Cao Van Vien. sđd.
  20. ^ a ă Lịch sử Cục tác chiến (1945-2005). tr. 688.
  21. ^ Noam Chomsky, Nguồn gốc, nguyên nhân và bài học trong chiến tranh Việt Nam, Biên bản Quốc hội Mỹ, tài liệu lưu trữ tại Ban tổng kết chiến lược - Bộ Quốc phòng, 1973]
  22. ^ https://books.google.com.vn/books?id=LqsVAgAAQBAJ&pg=PA162&lpg=PA162&dq=arvn+puppet+army&source=bl&ots=0-rFJSdZ4y&sig=Lun6nXCcRSZa5vwj-wLeUgC9zkE&hl=vi&sa=X&sqi=2&ved=0ahUKEwjR4eLdhNDNAhWGGJQKHYYfCF8Q6AEIGTAA#v=onepage&q=arvn%20puppet%20army&f=false
  23. ^ The whole thing was lies. Donald Duncan
  24. ^ Palmer, Dave Ri chard, Summons of the Trumpet: A History of the Vietnam War From A Military Mans Viewpoint. Novato CA: Presidio Press, 1999, tr.324.
  25. ^ Andrade, Dale, Trial By Fire: The 1972 Easter Offensive, Americas Last Việt Nam Battle, New York: Hippocrene Books, 1995, tr.529
  26. ^ Michael Macclear, The Ten Thousand Day War: Vietnam, 1945-1975 (New York: St.Martin's, 1981), pp.130-133
    Dẫn lại tại Lockard, 237, trích "Held in contempt by the Americans they served, they remained primarily verhicles for ratifying, if not always carying out, American directives. They rarely initiated major policies; indeed, they were not consulted on the US decision to commit massive ground forces in 1965."
  27. ^ "Kỳ 22 - Tại sao TT Marcos khuyên Nguyễn Cao Kỳ "để sẵn va-li đầu giường ngủ" và câu chuyện về "Quế tướng công"?". Một Thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2015.
  28. ^ "(T7) Bí mật về vụ buôn lậu của Đệ Nhất phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chấn động Sài Gòn". Báo điện tử Người đưa tin. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015.
  29. ^ "Vụ buôn lậu của Đệ Nhất phu nhân chấn động Sài Gòn (Kỳ cuối)". Báo đời sống & pháp luật Online. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015.[liên kết hỏng]
  30. ^ http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-45949919.html
  31. ^ http://ic.galegroup.com/ic/uhic/ReferenceDetailsPage/ReferenceDetailsWindow?failOverType=&query=&prodId=UHIC&windowstate=normal&contentModules=&display-query=&mode=view&displayGroupName=Reference&limiter=&currPage=&disableHighlighting=true&displayGroups=&sortBy=&search_within_results=&p=UHIC%3AWHIC&action=e&catId=&activityType=&scanId=&documentId=GALE%7CBT2336200026&source=Bookmark&u=imgacademy&jsid=5116c558dde83f89d502b9ce6a804831
  32. ^ "Dong Duong Thoi Bao". Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015.
  33. ^ Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. tr. 102, 106-108
  34. ^ Văn kiện Đảng toàn tập-Tập 35. tr. 177-179
  35. ^ Đại thắng Mùa Xuân 1975 qua những trang Hồi ký. tr. 46. Hồi ký của Võ Nguyên Giáp
  36. ^ Dương Hảo. sđd. tr. 131
  37. ^ Cao Van Vien. sđd. tr. 124.
  38. ^ a ă â b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên nguyentienhung
  39. ^ Tổng kết chiến tranh Việt Nam. Tập 2
  40. ^ Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
  41. ^ Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân.
  42. ^ a ă Gabriel Kolko. sđd.
  43. ^ Paul Dreifrus. sđd.
  44. ^ "Sự thất hứa của Mỹ sau Hiệp định Paris 1973". Kienthuc.net.vn. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015.
  45. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
  46. ^ Lê Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 163.
  47. ^ Lưu Văn Lợi. sđd. tr. 42-43
  48. ^ Đình Kính. sđd. tr. 193.
  49. ^ Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-2005). tr. 320-322.
  50. ^ "The Vietnam War Pictures That Moved Them Most". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2021.
  51. ^ The Daily Telegraph, 1 tháng 10 năm 2001
  52. ^ Stowe 2001
  53. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 227.
  54. ^ "Remember that time we forgot a navy and had to go back and get it?". Vietnam Magazine. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2019.
  55. ^ https://books.google.com.vn/books?id=kNzCDgAAQBAJ&pg=PA695&dq=250+155mm+howitzers&hl=vi&sa=X&ved=0ahUKEwiUqJvW2InhAhXME4gKHTY3CO4Q6AEINjAC#v=onepage&q=250%20155mm%20howitzers&f=false
  56. ^ Toperczer, Istvan (2001). MiG-21 Units of the Vietnam War. Osprey Publishing. tr. 80–1. ISBN 9781841762630.
  57. ^ Trần Quang Cơ. sđd.
  58. ^ a ă Văn Tiến Dũng. sđd. chương 17.
  59. ^ Dương Trung Quốc (ngày 26 tháng 8 năm 2011). "Cuộc đối thoại lịch sử: Tướng Giáp và Nguyên Bộ trưởng QP Mỹ". Báo điện tử Giáo dục Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026.
  60. ^ Tuần Việt Nam (ngày 29 tháng 4 năm 2011). "30-4: Làm bại tướng cũng cần bản lĩnh (bài viết về tướng Dương Văn Minh)". Báo điện tử Vietnamnet. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2026. Dương Văn Minh qua con mắt thuộc cấp
  61. ^ Khi đồng minh tháo chạy. Nguyễn Tiến Hưng 2005. Trang 165
  62. ^ William Colby. Một chiến thắng bị bỏ lỡ. Sđd. tr. 400
  63. ^ Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. tr. 441.
  64. ^ Trung tướng Gs. Hoàng Phương, Đại tá Hoàng Dũng, Đại tá Trần Bưởi, Đại tá Nguyễn Văn Minh (xuất bản năm 1996). Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1. Việt Nam: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. {{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  65. ^ George C. Herring. Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950 - 1975. Tr. 492.
  66. ^ "Phỏng vấn Bùi Tín, 1981". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2012.

Tham khảo

Tài liệu chính phủ

  • Cao, Văn Viên (1983). The Final Collapse (PDF) (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: United States Army Center of Military History.
  • Dong, Van Khuyen (1979). The RVNAF (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: United States Army Center of Military History.
  • Le Gro, William E. (1981). From Cease-Fire to Capitulation (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: United States Army Center of Military History.
  • Military History Institute of Vietnam (2002). Victory in Vietnam: A History of the People's Army of Vietnam, 1954–1975 (bằng tiếng Anh). trans. Merle Pribbenow. Lawrence, KS: University of Kansas Press. ISBN 0-7006-1175-4.
  • Momyer, William W. (1975). Lavalle, Arthur J. C. (biên tập). The Vietnam Air Force, 1951-1975: An Analysis of Its Role in Combat and Fourteen Hours at Koh Tang. USAF Southeast Asia monograph series (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: Department of Defense, Department of the Air Force.
  • Nguyen, Duy Hinh (1980). Vietnamization and the Cease-Fire (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: United States Army Center of Military History.
  • Tobin, Thomas G.; Laehr, Arthur E.; Hilgenberg, John F. (1985). Last Flight from Saigon (bằng tiếng Anh). Maxwell Air Force Base, AL: Air University Press. ISBN 0912799293.
  • Tran, Van Tra (1982). Vietnam: History of the Bulwark B2 Theater (bằng tiếng Anh). Quyển 5: Concluding the 30-Year War. Ho Chi Minh City: Van Nghe Publishing. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2007.
  • Van, Tien Dung (1977). Our Great Spring Victory: An Account of the Liberation of South Vietnam (bằng tiếng Anh). trans. John Spragens, Jr. New York: Monthly Review Press.
  • Bộ Quốc phòng (2005). Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Bộ Tư lệnh Hải quân (2005). Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955–2005). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Bộ Chính trị – Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (1999). Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
  • Cục Tác chiến (2005). Lịch sử Cục tác chiến (1945–2005). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập – Tập 35. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
  • Võ, Nguyên Giáp (2021). Phạm, Chí Nhân (biên tập). Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng: Hồi ức (ấn bản thứ 9). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. ISBN 978-604-57-6694-1.
  • Hồ Khang; Trần Tiến Hoạt; Nguyễn Xuân Năng; Nguyễn Văn Quyền; Lê Quang Lạng (2013). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975. Quyển Tập VIII: Toàn thắng. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. ISBN 978-604-57-1520-8. OCLC 34850334.
  • Nguyễn Ngọc Cơ; Hồ Khang; Đỗ Xuân Huy; Nguyễn Văn Minh; Nguyễn Huy Thục; Nguyễn Văn Quyền; Lê Quang Lạng; Trần Hữu Huy; Ngô Quang Chính (2013). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975. Quyển Tập IX: Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. ISBN 978-604-57-1520-8. OCLC 34850334.
  • Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1994). Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam: Tập II (1954 - 1975). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2002). Việt Nam những sự kiện quân sự thế kỷ XX. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

Nguồn thứ cấp tiếng Anh

Nguồn thứ cấp tiếng Việt

  • Dương, Hảo (1980). Một chương bi thảm. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Đinh, Văn Thiên; Đỗ, Phương Linh (2005). Những trận đánh trước cửa ngõ Sài Gòn. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Đình, Kính (2006). Lịch sử Đoàn Đặc công 126 (1966–2006). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Hoàng, Minh Thảo (2004). Chiến đấu ở Tây Nguyên. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Lê, Đại Anh Kiệt (2006). Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. Hà Nội: Nhà xuất bản Công an nhân dân.
  • Lê, Trọng Tấn (1979). Mấy vấn đề chỉ đạo và chỉ huy tác chiến. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Lưu, Văn Lợi (2007). Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh Niên.
  • Nguyễn, Huy Toàn; Phạm, Quang Định (1990). Lịch sử sư đoàn 304. Quyển 2. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Nguyễn, Tiến Hưng (1990). Khi đồng minh tháo chạy. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ.
  • Nguyễn, Văn Biều (2006). Bộ đội chủ lực mặt trận Tây Nguyên – Quân đoàn 3 (1965–2005). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Phạm, Đức Hoàn (2003). Lịch sử Quân đoàn 1 (1973–2003). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Phạm, Gia Đức; Phạm, Quang Định (2005). Lịch sử Quân đoàn 2 (1974–2004). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Phạm, Huấn (1988). Mặt trận Ban Mê Thuột. San Jose, CA: PO Box 6921.
  • Phạm, Ngọc Thạch; Hồ, Khang (2008). Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954–1975). Quyển VIII. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
  • Trần, Quang Cơ. Hồi ức và Suy nghĩ – Việt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20.
  • Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
  • Đại thắng Mùa Xuân 1975 qua những trang Hồi ký. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 2005.
  • Lịch sử Quân đoàn 4 – Binh đoàn Cửu Long (1974–2004). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 2005.
  • Quân đoàn một trong chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 2001.
  • Phạm Huy Dương; Phạm Bá Toàn, biên tập (2005). Chiến dịch Hồ Chí Minh: trang sử vàng qua các trận đánh. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. OCLC 645829083.

Các ngôn ngữ khác

Xem thêm

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Thanh chiến tranh Việt Nam