Bước tới nội dung

Năm Phỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm Phỉ
Tập tin:Nam Phi.jpeg
Chân dung nghệ sĩ Năm Phỉ (1938)
Biệt danh"Chuông vàng đem đánh xứ người"
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Lê Thị Phỉ
Ngày sinh
1906
Nơi sinh
Điều Hòa, Mỹ Tho, Đông Dương thuộc Pháp
Mất
Ngày mất
2 tháng 6, 1954(1954-06-02) (47–48 tuổi)
Nơi mất
Sài Gòn, Liên bang Đông Dương
Quốc tịchTập tin:Flag of France (1794–1815, 1830–1974).svg Liên bang Đông Dương
Nghề nghiệpDiễn viên sân khấu
Gia đình
Cha
Lê Công
Anh chị em
Lê Tấn Thành (Hai Thành)
Lê Thị Danh (Ba Danh)
Lê Tấn Toại (Tư Toại)
Lê Tấn Chí (Sáu Chí)
Lê Thị Nam (Bảy Nam)
Lê Tấn Nhi (Tám Nhi)
Lê Thị Bia (Chín Bia)
Lê Thị Truyền (Mười Truyền)
Lê Tấn Tạc (Mười Một Tạc)
Lê Tấn Để (Út Để)
Hôn nhân
Hai Giỏi
Nguyễn Ngọc Cương
Huỳnh Văn Chín
Lĩnh vựcCải lương
Sự nghiệp sân khấu
Năm hoạt động1916–1954
Vai diễnBàng Quý phi trong Xử án Bàng Quý phi
Chữ ký

Năm Phỉ (1906 – 2 tháng 6 năm 1954), tên thật là Lê Thị Phỉ, là một nữ nghệ sĩ cải lương người Việt Nam. Bà thuộc thế hệ tiên phong của nghệ thuật cải lương Nam Bộ.

Năm Phỉ sinh ra trong một gia đình công chức đông con. Dù bị cha cấm cản, bà vẫn bước chân vào con đường nghệ thuật từ rất sớm. Bà đầu quân cho gánh Nam Đồng Ban của ông Hai Cu và Hai Quản, đóng cặp với kép Hai Giỏi (con của ông Hai Cu và sau đó là chồng bà). Năm 1921, Hai Giỏi mất, bà đi theo gánh Văn Hí Ban, rồi sang gánh Phước Cương. Tại đây, bà nổi danh nhờ vai diễn Bàng Quý phi trong vở Xử án Bàng Quý phi. Bà kết hôn với ông Nguyễn Ngọc Cương, ông bầu của gánh Phước Cương. Năm 1931, bà sang Paris, Pháp trình diễn và nhận được sự hoan nghênh từ khán giả.[1]

Năm 1937, chồng bà cưới nghệ sĩ Bảy Nam (em của bà) và hạ sinh Nguyễn Thị Kim Cương. Năm sau, bà tách riêng lập gánh Nam Phi, tiếp theo đó là các gánh Tam Phụng, Đoàn Ca vũ nhạc kịch Năm Phỉ,… Bà cũng có công đào tạo các nghệ sĩ thế hệ sau như Kim Cương, Xuân Lan, Ngọc Yến và Kim Hoàng.[2] Bà tái giá với luật sư Huỳnh Văn Chín và sống với ông kể từ đó.[3]

Ngày 2 tháng 6 năm 1954, bà qua đời tại Bệnh viện Grall, hưởng dương 48 tuổi. Với những đóng góp cho sân khấu, bà được khán giả nhớ đến với biệt danh "Chuông vàng đem đánh xứ người"[4], và được đặt tên tại một con đường ở Mỹ Tho – nơi bà sinh ra.

Thân thế

Năm Phỉ tên thật là Lê Thị Phỉ, sinh năm 1906[5] (có tài liệu ghi là 1907[6][7], 1908[3][8] hoặc 1910[9][10]) ở làng Điều Hoà, Mỹ Tho[10] trong một gia đình công chức đông con. Cha của bà họ Lê tên Công, là một kĩ sư cầu cống Tây học nhưng chịu nhiều ảnh hưởng từ Nho giáo. Khi sinh ra 11 người con, ông đã đặt tên cho mỗi người hợp lại thành một câu ý nghĩa: “Công (tên ông), Thành, Danh, Toại; Phỉ, Chí, Nam, Nhi; Bia, Truyền, Tạc, Để”.[9] Sau này, những người em của bà như Bảy Nam, Chín Bia, Mười Truyền đều đi theo nghệ thuật.[11]

Năm Phỉ từ nhỏ đã có niềm yêu thích với nghệ thuật. Mặc dù bị cha cấm cản kịch liệt, bà lại nhận được sự ủng hộ từ mẹ. Ở tuổi vị thành niên[a], bà đã bắt đầu bước vào con đường sân khấu, hát cho gánh Nam Đồng Ban của ông Hai Cu và ông Hai Quản.[12] Cha bà biết được thì vô cùng tức giận, đã từ mặt bà và không cho phép ai trong nhà nhắc đến tên bà nữa.[13]

Sự nghiệp

Tập tin:Xử án Bàng Quí Phi (c. 1928).ogg
Dĩa hát Beka – B 20107: Vở cải lương Xử án Bàng Quý phi (khoảng 1928), do Năm Phỉ và Bảy Nhiêu của gánh Phước Cương ca bài Văn Thiên Tường, thu thanh cho dĩa hát Beka

Lúc ấy, có ông Hai Cu và Hai Quản là hai thợ bạc ở Mỹ Tho[5], vì say mê nghệ thuật nên đã vận động giới thợ bạc lập gánh Nam Đồng Ban.[6] Năm Phỉ được mời về gánh hát làm đào nhất, diễn cặp với nghệ sĩ Hai Giỏi – là con của ông Hai Cu.[12] Năm Phỉ và Hai Giỏi trở thành hai vợ chồng kể từ đó. Cả hai được biết đến qua các vở như Tham phú phụ bần, Ơn đến oán trả, Thiện ác hữu báo, Bội thê thiên xứ, Chí Thiện – Chí Hiếu,…[12]

Trong một đêm diễn vở Tham phú phụ bần, Hai Giỏi đau nặng, không thể ra sân khấu để diễn. Khán giả la ó, đòi trả vé khi không nhìn thấy ông. Bất lực, chủ gánh hát phải khiêng ông ra sân khấu. Ông đã cố gắng cống hiến hết mình cho đêm diễn ấy.[14] Mấy ngày sau, vào năm 1921[6], ông qua đời khi vừa mới 18 tuổi[15]. Ông Hai Cu vì quá đau lòng mà đã cho giải tán gánh Nam Đồng Ban.[6] Năm Phỉ sau khi thọ tang, tiếp tục đi hát cho gánh Văn Hí Ban của ông Huỳnh Kim Vui ở Chợ Lớn.[16] Năm 1924[b], bà cùng các nghệ sĩ của gánh Văn Hí Ban đã có dịp thu thanh cho hãng dĩa Victor, các vở Xử tội Bàng Quý phi, Phụng Kiều Lý Đáng,…[17]

Ngày 25 tháng 1 năm 1926, sau khi ông Nguyễn Ngọc Cương cùng ông Lê Công Phước thành lập gánh hát kim thời Phước Cương, đã mời nghệ sĩ Năm Phỉ làm đào nhất.[18] Gánh khai trương vào ngày 28 tháng 1 năm 1926, tại rạp Modern-Cinéma, diễn vở Tam tinh xuất thể, do bà vào vai Hồng Quang Điệp.[19] Ngoài ra, bà còn được khán giả biết đến qua vai diễn Bàng Quý phi trong vở Xử án Bàng Quý phi, được gánh Phước Cương trình diễn lần đầu tiên ở Cần Thơ, cùng với các nghệ sĩ Bảy Nhiêu (vai Tống Nhơn Tôn), Bảy Lựu (vai Địch Thiên Kim),…[20] Vào lúc này, bà cưới ông Nguyễn Ngọc Cương làm chồng.[21]

Năm 1931, gánh Phước Cương được mời sang Hội chợ Thuộc địa Paris trình diễn. Năm Phỉ được khán giả và báo chí Pháp đánh giá cao qua vai diễn Bàng Quý phi, được so sánh như Mistinguett ở Pháp[22], Sada Yacco và Kanako ở Nhật Bản[23],… Nhờ đó, khi về nước, gánh Phước Cương có thêm cơ hội đi lưu diễn ra ngoài Bắc. Ngoài ra, trong thời điểm này bà cũng thu thanh cho một số hãng dĩa như Pathé[24], Beka[25],…

Năm 1934, bà hợp tác cùng nghệ sĩ Phùng Há, lấy bảng hiệu gánh tên là gánh Phỉ Phụng.[26] Năm 1935, gánh Phước Cương quy tụ thêm các nghệ sĩ Thanh Tùng (từ gánh Huỳnh Kỳ), Bảy Nam (từ gánh Nam Hưng), Năm Châu (từ gánh Trần Đắc), Bảy Nhiêu (từ gánh Tiếng Chung), Từ Anh (từ gánh Nam Thinh),… và đổi tên thành Đại Phước Cương.[27] Ngoài trình diễn cải lương, gánh còn tăng thêm các suất diễn hát bội của người vợ lớn Năm Nhỏ.[28] Cũng vào lúc này, ông Cương cưới thêm nghệ sĩ Bảy Nam làm vợ và hạ sinh người con gái đầu lòng, đặt tên là Nguyễn Thị Kim Cương. Năm 1938, Năm Phỉ rời khỏi gánh Phước Cương, tự thành lập gánh hát của riêng mình, lấy tên là Nam Phi vào ngày 31 tháng 12 cùng năm[29]. Trong gánh có mời thêm nghệ sĩ Mười Truyền – một người em ruột khác của Năm Phỉ[30].

Trong thập niên 1940 – 1950, bà tái hôn với luật sư Huỳnh Văn Chín và chung sống cùng nhau cho đến khi bà qua đời.[3] Sau khi ông Nguyễn Ngọc Cương mất vào năm 1946, Bảy Nam, Năm Phỉ và Mười Truyền cùng hợp tác thành lập gánh Tam Phụng, khai trương lần đầu ở rạp Nguyễn Văn Hảo. Sau đó, Năm Phỉ có thành lập thêm Đoàn Ca vũ nhạc kịch Năm Phỉ, nhưng rồi cũng cho giải tán.[31] Năm 1948, khi thành lập Hội Nghệ sĩ Ái hữu Tương tế, bà được bầu làm Phó Hội trưởng trong danh sách Ban trị sự tạm thời, sau đó được bầu làm cố vấn cho hội. Bà cũng có công đào tạo các thế hệ sau như Kim Cương, Kim Hoàng, Ngọc Yến và Xuân Lan.[2] Bà lập đoàn hát cuối cùng là Đoàn Năm Phỉ.[32]

Vào một buổi đêm, Năm Phỉ cùng người bạn vào xem phim tại rạp chiếu bóng Nam Quang. Xem nửa chừng, bà ngất xỉu và được đưa đi qua Bệnh viện Grall (còn gọi là Nhà thương Đồn Đất), rồi qua đời vào ngày 2 tháng 6 năm 1954 vì bị đứt mạch máu não, hưởng dương 48 tuổi.[33] Đám tang của bà được tổ chức long trọng, với sự hiện diện của rất nhiều bạn cùng nghề như: Năm Châu, Phùng Há, Duy Lân, Chín Trích,…[34]

Đánh giá

Nghệ sĩ Năm Phỉ thuộc thế hệ tiên phong của nghệ thuật cải lương, cùng thời với các nghệ sĩ Bảy Nhiêu (1902–1976), Năm Châu (1906–1978), Phùng Há (1911–2009),… Về mặt giọng ca, bà được nhận xét là có chất giọng khàn như giọng đồng.[35] Trong suốt sự nghiệp của mình, bà để lại dấu ấn đặc sắc cho loại hình cải lương, tiêu biểu qua các vai đào thương. Có thể kể đến vai diễn Bàng Quý phi trong vở Xử án Bàng Quý phi, đã được báo chí Pháp công nhận.[36] Bà còn được biết đến qua các vai Điêu Thuyền trong vở Phụng Nghi đình, Ngọc Hương trong vở Tơ vương đến thác (soạn giả Ngô Vĩnh Khang[37]), Tứ đổ tường, Đoá hoa rừng, Tuý hoa vương nữ, Sắc giết người, Vì đâu nên nổi?, Lan trong vở Lan và Điệp,[35] Mộng Hoa trong vở Mộng Hoa vương (soạn giả Trần Hữu Trang)[38],…

Trong sự nghiệp, bà cùng nghệ sĩ Phùng Há đều được vua Bảo Đại ban tặng Huy chương Kim Tiền.[26] Sau này, để vinh danh cho cống hiến của bà cho nghệ thuật, tên bà được chọn làm tên đường tại trung tâm Mỹ Tho – đường Lê Thị Phỉ.[3][39]

Chú giải

  1. ^ Về độ tuổi bà bắt đầu đi hát không cố định. Các tài liệu thông thường cho rằng bà khởi sự vào năm 10 tuổi, vài số liệu cho rằng là lúc 13 tuổi, có nơi lại ghi bà sớm thành danh năm 15 tuổi.
  2. ^ Thu thanh khoảng tháng 11 năm 1924, do kĩ sư thu thanh George F. Elsasser thực hiện.

Chú thích

  1. ^ Nguyễn Lê Tuyên (ngày 28 tháng 10 năm 2018). "Kỷ niệm một trăm năm cải lương: Góc nhìn từ Paris 1931". Tạp chí điện tử Người đô thị.
  2. ^ a b Hồ Trường An (ngày 9 tháng 4 năm 2013). "HẬU VẬN CỦA NHỮNG DANH TÀI CẢI LƯƠNG..." Cải lương Việt Nam.
  3. ^ a b c d Vân Trường (ngày 10 tháng 3 năm 2014). "Năm Phỉ và những vai diễn huyền thoại". Báo Tuổi trẻ.
  4. ^ "Đem chuông đi đánh xứ người – Cô Năm Phỉ được tiếng khen ỡ Paris". Phụ nữ tân văn. ngày 16 tháng 7 năm 1931.
  5. ^ a b Lê Minh Quốc (2009). Các vị nữ danh nhân Việt Nam (PDF). Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. tr. 163.
  6. ^ a b c d T. Tùng (ngày 17 tháng 7 năm 2015). "Chuyện về cô đào Năm Phỉ- Kỳ 1: Điềm báo về cái chết đột ngột". Báo điện tử Công lý.
  7. ^ Huỳnh Lâm Nguyệt Thảo (ngày 19 tháng 2 năm 2019). "Cận cảnh không gian sống hơn 50 năm tuổi đầy tiện nghi của 'kỳ nữ' Kim Cương". Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. ^ TT (ngày 26 tháng 12 năm 2024). "Mỹ Tho 345 năm và những khát vọng – Bài 3: Cái nôi cải lương Nam Kỳ". Báo Đồng Tháp Online.
  9. ^ a b Lê Tám (ngày 22 tháng 10 năm 2018). "Thú vị chuyện về tên 11 người con trong gia đình một 'đại gia'". Báo Pháp luật.
  10. ^ a b Editions du Gouvernement général de l'Indochine (impr. I.D.E.O.) (Hanoï), biên tập (1943). Souverains et notabilités d'Indochine. tr. 67.
  11. ^ Nguyễn Phương (2004). Ngũ đại gia của sân khấu cải lương (PDF). Montréal. tr. 123.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  12. ^ a b c Lê Minh Quốc (2009). Các vị nữ danh nhân Việt Nam (PDF). Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. tr. 165.
  13. ^ Nguyễn Thị Kim Cương (2016). Hồi ký Kim Cương: Sống cho người, sống cho mình.
  14. ^ Lê Minh Quốc (2009). Các vị nữ danh nhân Việt Nam (PDF). Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. tr. 166.
  15. ^ Vương Hồng Sển (1968). Hồi ký 50 năm mê hát. Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải. tr. 104.
  16. ^ Vương Hồng Sển (1968). Hồi ký 50 năm mê hát. Sài Gòn: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải. tr. 103.
  17. ^ "Hiệu Nguyễn-Văn-Trận". Công luận báo. ngày 5 tháng 11 năm 1926. tr. 2.
  18. ^ Phước Cương (ngày 24 tháng 1 năm 1929). "LỄ KỶ NIỆM GÁNH HÁT PHƯỚC-CƯƠNG – Ngày 25 Janvier (3me anniversaire de la troupe P. C.)". Công luận báo. tr. 2.
  19. ^ Cao-Đai-Đế (ngày 30 tháng 1 năm 1926). "Một đêm xem hát cải-lương". Công luận báo. tr. 1.
  20. ^ Lê-Thới-Xuân (ngày 12 tháng 3 năm 1926). "Cantho – Một đêm xem hát gánh Phước-Cương Saigon". Công luận báo. tr. 2.
  21. ^ Trần Viết Ngạc. "TUYẾT SỈ CHO CỰU HOÀNG THÀNH THÁI và NGHỆ SĨ LƯU THỊ NGOẠN". Chim Việt cành Nam.
  22. ^ "Ảnh ai đây?". Công luận báo. ngày 30 tháng 10 năm 1937. tr. 6.
  23. ^ C.L. "Nghề hát của ta ở Paris". Công luận báo. tr. 2.
  24. ^ "DĨA HÁT PHƯỚC-CƯƠNG". Công luận báo. ngày 5 tháng 10 năm 1928. tr. 4.
  25. ^ "DĨA BEKA TÀI TỬ – Vọng cổ nhịp 16". Dân mới (Sài Gòn). tr. 2.
  26. ^ a b "Phùng-Há Năm-Phỉ! Năm-Phỉ Phùng-Há!". Công luận báo. ngày 28 tháng 8 năm 1934. tr. 8.
  27. ^ "Đại Phước-Cương Đại Phước-Cương". Công luận báo. ngày 27 tháng 12 năm 1935. tr. 8.
  28. ^ "Đại-Phước-Cương". Công luận báo. ngày 28 tháng 10 năm 1937. tr. 6.
  29. ^ "Tin vắn". Công luận báo. ngày 28 tháng 12 năm 1938. tr. 8.
  30. ^ "Gánh cãi lương NAM-PHI hát tạp rạp chớp bóng SAN-TAI-LUK Cholon". Công luận báo. ngày 27 tháng 6 năm 1939. tr. 8.
  31. ^ Hoàng Kim (ngày 12 tháng 7 năm 2014). "Gia đình nghệ thuật kỳ nữ Kim Cương - Kỳ 3: Cành hoa mong manh". Báo Thanh Niên.
  32. ^ Lê Quang Thanh Tâm (ngày 30 tháng 8 năm 2010). "Những "danh hiệu" một thời vang bóng: Bài 3: "Kỳ nữ" Kim Cương". Tạp chí Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
  33. ^ Lê Minh Quốc (2009). Các vị nữ danh nhân Việt Nam (PDF). Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ. tr. 174.
  34. ^ T.Tùng (ngày 18 tháng 7 năm 2015). "Chuyện về cô đào Năm Phỉ- Kỳ 2: 8 điếu văn khóc thương cho nữ tài danh đất Sài thành". Báo điện tử Công lý.
  35. ^ a b Vương Hồng Sển (1968). Hồi ký 50 năm mê hát. Sài Gòn: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khải. tr. 105.
  36. ^ Hà Đình Nguyên (ngày 15 tháng 2 năm 2021). "90 năm trước "xử án Bàng Quý Phi" tại Pháp". Báo Thanh Niên.
  37. ^ Ngô Vĩnh Khang (1933). Tơ vương đến thác. Sài Gòn: Phạm Văn Thình.
  38. ^ T. Tùng (ngày 19 tháng 7 năm 2015). "Chuyện về cô đào Năm Phỉ-Kỳ cuối: Người đời ai khóc Năm Phỉ chăng?". Báo điện tử Công lý.
  39. ^ Linh Đoan (ngày 24 tháng 6 năm 2023). "Đề xuất đặt tên đường nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nam, Út Trà Ôn..." Báo Tuổi trẻ.