Bước tới nội dung

Naval Air Weapons Station China Lake

35°41′8″B 117°41′31″T / 35,68556°B 117,69194°T / 35.68556; -117.69194
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Naval Air Weapons Station China Lake
Armitage Field
Ridgecrest, California ở Hoa Kỳ
Một chiếc F/A-18F Super Hornet được của Phi đội bay thử nghiệm VX-9 trở về căn cứ tại Naval Air Weapons Station China Lake.
Tập tin:Naval Air Weapons Station China Lake logo.jpg
NAWS China Lake trên bản đồ Hoa Kỳ
NAWS China Lake
NAWS China Lake
NAWS China Lake trên bản đồ California
NAWS China Lake
NAWS China Lake
Vị trí trong nước Mỹ
Tọa độ35°41′8″B 117°41′31″T / 35,68556°B 117,69194°T / 35.68556; -117.69194
LoạiTrạm Không quân Hải quân
Diện tích1,1 triệu mẫu Anh (450.000 hécta) (bao gồm cả trường bắn)
Thông tin địa điểm
Sở hữuBộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Người điều khiểnHải quân Hoa Kỳ
Kiểm soát bởiNavy Region Southwest
Điều kiệnOperational
WebsiteWebsite chính thức
Lịch sử địa điểm
Xây dựng1935 (1935) (civilian use)
Sử dụng1942 – nay
Sự kiệnTrận động đất xảy ra năm 2019
Thông tin đơn vị đồn trú
Chỉ huy hiện tạiRDML Keith ‘Brownie’ Hash
Thông tin sân bay
Định danhICAO: KNID, FAA LID: NID, WMO: 746120
Độ cao696,1 mét (2.284 ft) AMSL
Các đường băng
Hướng Chiều dài và bề mặt
03/21 3.048,3 mét (10.001 ft) bê tông
14/32 2.747,1 mét (9.013 ft) Bê tông nhựa
08/26 2.167,4 mét (7.111 ft) Bê tông
Cơ sở sân
bay khác
1x VTOL pad
Source: Federal Aviation Administration[1]
Thung lũng Indian Wells, trong ảnh là thành phố Ridgecrest, California và khu vực China Lake.

Trạm Vũ khí Hàng không Hải quân (NAWS) China Lake- Naval Air Weapons Station (NAWS) China Lake[2]là một căn cứ quân sự lớn ở California phục vụ các chương trình nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá của Hải quân Hoa Kỳ. Đây là một phần của Vùng Hải quân Tây Nam (Navy Region Southwest)[3] trực thuộc Chỉ huy các Căn cứ Hải quân (Commander, Navy Installations Command), và ban đầu được biết đến với tên Trạm Thử nghiệm Vũ khí Hải quân (Naval Ordnance Test Station – NOTS).[4]

Căn cứ này nằm ở khu vực Sa mạc Mojave phía Tây, tiểu bang California, cách Los Angeles khoảng 150 dặm (240 km) về phía bắc. Cơ sở chiếm đất ở ba quận – Kern, San Bernardino và Inyo – và các khu dân cư gần nhất bao gồm thành phố Ridgecrest và các cộng đồng Inyokern, Trona và Darwin.

China Lake là khu đất lớn nhất thuộc sở hữu của Hải quân Hoa Kỳ, chiếm 85% đất của Hải quân dùng cho nghiên cứu, phát triển, mua sắm, thử nghiệm và đánh giá vũ khí, trang bị (RDAT&E) và 38% tổng diện tích đất của Hải quân trên toàn thế giới. Tổng cộng, hai khu thao trường và khu chính của căn cứ chiếm hơn 1.100.000 mẫu Anh (4.500 km²), diện tích lớn hơn cả tiểu bang Rhode Island. Tính đến năm 2010, ít nhất 95% diện tích đất này vẫn chưa được phát triển. Hạ tầng cơ sở trị giá khoảng 3 tỷ USD của căn cứ bao gồm 2.132 tòa nhà và công trình, 329 dặm (529 km) đường nhựa và 1.801 dặm (2.898 km) đường đất.

Diện tích 19.600 dặm vuông Anh (51.000 km²) không phận hạn chế và kiểm soát tại China Lake chiếm 12% tổng diện tích không phận của California. Khu vực không phận này được NAWS China Lake, Căn cứ Không quân Edwards và Fort Irwin cùng kiểm soát và được gọi là R-2508 Special Use Airspace Complex (Khu vực Không phận Sử dụng Đặc biệt R-2508).

Một trận động đất mạnh 7,1 độ Richter xảy ra vào ngày 5 tháng 7 năm 2019, với tâm chấn nằm trong ranh giới của NAWS China Lake, đã khiến cơ sở này tạm thời được đánh giá là “không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ” do hư hỏng.[5]

Địa lý

Vị trí

Cơ sở này nằm ở khu vực Tây sa mạc Mojave, bang California, cách Los Angeles khoảng 150 dặm (240 km) về phía bắc. Cơ sở trải rộng trên đất của ba quận – Kern, San Bernardino và Inyo – với các khu dân cư gần nhất là thành phố Ridgecrest và các cộng đồng Inyokern, Trona và Darwin.

Sân bay Armitage

Tất cả các hoạt động bay tại NAWS China Lake đều được thực hiện tại Sân bay Armitage, nơi có ba đường băng và hơn 26.000 foot (7.900 m) đường lăn. Mỗi năm, lực lượng vũ trang Hoa Kỳ thực hiện hơn 20.000 chuyến bay quân sự có người lái và không người lái tại Armitage.

Nhân sự quân sự nước ngoài cũng sử dụng sân bay và khu vực thử nghiệm này để thực hiện hơn 1.000 hoạt động thử nghiệm và đánh giá mỗi năm.

Động thực vật hoang dã

Phần lớn diện tích đất của NAWS China Lake chưa được phát triển. Khu vực này cung cấp môi trường sống cho hơn 340 loài động vật hoang dã, bao gồm ngựa hoang, lừa hoang, cừu sừng lớn, và các loài nguy cấp như rùa sa mạc, sóc đất Mojave và cá tui chub Mojave. Cá tui chub Mojave được đưa vào Lark Seep của China Lake năm 1971, nơi được cung cấp nước từ nhà máy xử lý nước thải tại China Lake. Quần thể tui chub sau đó đã phát triển, đạt khoảng 6.000 cá thể vào năm 2003.[6] Sa mạc nơi cơ sở được xây dựng là nhà của 650 loài thực vật.

Tranh khắc đá (Petroglyphs)

Coso sheep
Nghệ thuật đá Coso với hình cừu sừng lớn

Khu vực này từng là nơi sinh sống của người bản địa Coso, dấu ấn còn lại là hàng ngàn địa điểm khảo cổ; người Coso từng trao đổi với các bộ lạc khác xa tới quận San Luis Obispo, California. Khu vực này cũng được các thợ mỏ và người định cư châu Âu sử dụng, với nhiều cabin và công trình khai thác vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Các hẻm núi dãy Coso là nơi tọa lạc của Khu vực Nghệ thuật đá Coso, rộng khoảng 99 dặm vuông Anh (260 km²) với hơn 50.000 petroglyph đã được ghi nhận,[7] là mật độ nghệ thuật đá cao nhất ở Bắc bán cầu.

Tuổi chính xác của các petroglyph chưa được xác định. Có thể suy đoán khoảng thời gian từ các di tích khảo cổ trong khu vực và một số hình dạng hiện vật được khắc trên đá. Các nhà khảo cổ chưa thống nhất về tuổi của chúng, nhưng người ta tin rằng phần lớn các petroglyph có niên đại từ 1.000 đến 3.000 năm.[8] Các hình vẽ bao gồm động vật, hình trừu tượng và hình người. Ý kiến về mục đích của các petroglyph rất đa dạng: chúng có thể được tạo ra cho mục đích nghi lễ, kể lại các truyền thuyết, hoặc là ghi chép về các cuộc săn bắn, biểu tượng bộ lạc, hoặc bản đồ.

Được tuyên bố là Di tích Lịch sử Quốc gia (National Historic Landmark) vào năm 1964, các tác phẩm nghệ thuật đá tại Hẻm núi Little Petroglyph cung cấp những hiểu biết về di sản văn hóa và tri thức của sa mạc trong quá khứ. Mọi thứ trong khu vực hẻm núi đều được bảo vệ, bao gồm mảnh đá núi lửa (obsidian), các hiện vật hay công cụ, cũng như petroglyph, thực vật bản địa và động vật hoang dã.

Hẻm núi Little Petroglyph có khoảng 20.000 hình ảnh đã được ghi nhận. Khu vực này được mở cửa cho công chúng tham quan.[2]

Tàu một ray (Monorail)

Phần còn lại của Tàu một ray Epsom Salts được gắn biển chỉ dẫn và vẫn có thể quan sát trong khu vực. Thanh ray trung tâm, trên đó các xe kéo khai thác kéo khoáng vật từ mỏ đến nhánh đường sắt gần nhất, được nâng đỡ bằng các khung chữ A bằng gỗ của cầu gỗ thấp.

Khu địa nhiệt Coso

Khu địa nhiệt Coso nằm trong ranh giới của China Lake. Các nhà máy điện địa nhiệt tại đây bắt đầu phát điện từ năm 1987[9] và là bước đi đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ trong việc sản xuất năng lượng sạch từ nhiệt năng trái đất. Công suất định mức của nhà máy là 270 megawatt, với tổng sản lượng điện hàng năm từ khu vực này đạt 1.175 gigawatt-giờ.[10]

Đơn vị thử nghiệm

Biểu tượng Phi đội Biệt danh/ Tên gọi Các loại máy bay trong biên chế
Tập tin:VX-9 Emblem.svg Phi đội Thử nghiệm và Đánh giá Hàng không 9 VX-9 Vampires F/A-18E Super Hornet, F/A-18F Super Hornet, E/A-18G Growler, F-35C Lightning II
Tập tin:VX-31 Emblem.svg Phi đội Thử nghiệm và Đánh giá Hàng không 31 VX-31 Dust Devils F/A-18C Hornet, F/A-18D Hornet, F/A-18E Super Hornet, F/A-18F Super Hornet, E/A-18G Growler, MH-60S Seahawk,

Nhân sự

Toàn bộ lực lượng tại China Lake bao gồm 620 quân nhân đang phục vụ, 4.166 nhân viên dân sự và 1.734 nhà thầu, được phân bổ trong nhiều đơn vị thuê, bao gồm:[11]

  • Trung tâm Vũ khí Hàng không Hải quân (Naval Air Warfare Center Weapons Division)
  • Phi đội Thử nghiệm và Đánh giá Hàng không 9 (Air Test and Evaluation Squadron 9 – VX-9)
  • Phi đội Thử nghiệm và Đánh giá Hàng không 31 (Air Test and Evaluation Squadron 31 – VX-31)
  • Đơn vị Hàng không Thủy quân Lục chiến (Marine Aviation Detachment)
  • Đơn vị Xử lý Vũ khí Nổ Cơ động số 3 (Explosive Ordnance Disposal Mobile Unit 3 Detachment)
  • Đơn vị Thử nghiệm và Đánh giá Xử lý Vũ khí Nổ 1 (Explosive Ordnance Disposal Testing and Evaluation Unit 1)
  • Đơn vị Đoàn Phân công Kỹ thuật Cơ sở Hải quân Tây Nam (Naval Facilities Engineering Command Southwest Detachment)
  • Trung tâm Đào tạo Xây dựng Hải quân Port Hueneme (Seabees – Lính Công binh Hải quân)

Lịch sử

China Lake là một hồ khô. Tên gọi của nó xuất phát từ các thợ mỏ người Trung Quốc khai thác borax từ lòng hồ, cách khoảng 1,5 dặm (2,4 km) về phía nam Paxton Ranch. Hoạt động này được địa phương biết đến với tên gọi “Nhà máy Borax Nhỏ của Người Trung Quốc”.[12]

Trạm Thử Vũ khí Hải quân (Naval Ordnance Test Station – NOTS)

Trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai, Viện Công nghệ California (Caltech) cần các cơ sở để thử nghiệm và đánh giá tên lửa. Đồng thời, Hải quân Mỹ cũng cần một khu thử nghiệm mới cho vũ khí hàng không. Charles C. Lauritsen của Caltech và sau đó là Chuẩn đô đốc Sherman E. Burroughs của Hải quân Mỹ đã hợp tác để tìm một địa điểm đáp ứng cả hai nhu cầu này.

Vào đầu thập niên 1930, một sân bay hạ cánh khẩn cấp đã được Cơ quan Công trình Công cộng (Works Progress Administration) xây dựng ở sa mạc Mojave, gần thị trấn nhỏ Inyokern, California. Sân bay này được mở cửa năm 1935 và được Không quân Quân đội Hoa Kỳ (USAAF) tiếp quản năm 1942. Tháng 11 năm 1943, sân bay được chuyển cho Hải quân, và China Lake được thành lập với tên gọi Trạm Thử Vũ khí Hải quân (NOTS).

Nhiệm vụ của NOTS được Bộ trưởng Hải quân định nghĩa trong một bức thư:

"…một trạm có chức năng chính là nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm vũ khí, đồng thời có chức năng bổ sung là cung cấp đào tạo cơ bản về việc sử dụng các loại vũ khí đó."

Các hoạt động thử nghiệm bắt đầu chỉ một tháng sau khi trạm được thành lập chính thức. Sa mạc rộng lớn, dân cư thưa thớt, thời tiết gần như hoàn hảo cho bay và tầm nhìn gần như không giới hạn đã chứng minh đây là một địa điểm lý tưởng cho các hoạt động thử nghiệm và phát triển.

Trong năm 1944, NOTS đã phát triển và thử nghiệm các loại tên lửa cỡ 3,5 inch, 5 inch, HVAR11,75 inch (Tiny Tim).[13]

Quỹ dự án Manhattan đã được sử dụng để xây dựng một sân bay mới tại NOTS gồm ba đường băng dài 10.000 foot (3.000 m), 7.700 foot (2.300 m) và 9.000 foot (2.700 m), mỗi đường băng rộng 200 foot (61 m), đủ để tiếp nhận máy bay ném bom Boeing B-29 Superfortress. Kho nhiên liệu được trang bị với sức chứa 200.000 galông Mỹ (760.000 L) xăng và 20.000 galông Mỹ (76.000 L) dầu. Sân bay được mở vào ngày 1 tháng 6 năm 1945 và được đặt tên là Armitage Field, nhằm vinh danh Trung úy Hải quân John Armitage, người đã tử nạn khi thử nghiệm tên lửa Tiny Tim tại NOTS vào tháng 8 năm 1944.[13][14][15] Công việc Caltech thực hiện tại NOTS cho Dự án Manhattan – đặc biệt là thử nghiệm hình dạng bom thả từ B-29 – được bao gồm trong dự án bí mật có tên Project Camel.

Năm 1950, các nhà khoa học và kỹ sư của NOTS đã phát triển tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder, trở thành loại tên lửa được sử dụng và sao chép nhiều nhất trên thế giới. Các tên lửa và rocket khác được phát triển hoặc thử nghiệm tại China Lake bao gồm Mighty Mouse, Zuni, AGM-45 Shrike, HARM, AGM-154 JSOWBom tấn công trực diện phối hợp (JDAM).

Hai tòa nhà thử nghiệm (Tòa nhà 70021 và 70022) tọa lạc tại 35°32′13″B 117°14′59″T có vai trò quan trọng trong việc thử nghiệm ngòi nổ proximity hoặc thời gian biến đổi (VT) – một yếu tố thiết yếu trong chương trình vũ khí của Hải quân Mỹ. Các tòa tháp này đóng vai trò then chốt trong chương trình thử nghiệm ngòi nổ thời Chiến tranh Lạnh, dẫn đến việc Hải quân áp dụng ngòi nổ này cho các tên lửa dẫn đường. Chúng cũng có giá trị về mặt kỹ thuật, với thiết kế tháp gỗ hình chóp cao 360 foot. Mục tiêu thử nghiệm được treo giữa hai tháp.[16]

Tháng 6 năm 1963, Tổng thống John F. Kennedy đã đến thăm NAWS China Lake để dự buổi trình diễn hàng không và thăm Michelson Lab.

Trung tâm Vũ khí Hải quân

Tập tin:Vought DF-8F 144429 China Lake DM 22.04.71 edited-2.jpg
Bộ điều khiển máy bay không người lái Vought DF-8F Crusader ban đầu được đặt tại China Lake

Vào tháng 7 năm 1967, NOTS China Lake và Phòng thí nghiệm Vũ khí Hải quân (Naval Ordnance Laboratory) tại Corona, California, được hợp nhất thành Trung tâm Vũ khí Hải quân (Naval Weapons Center). Các cơ sở tại Corona sau đó bị đóng cửa, và các chức năng của chúng được chuyển về China Lake vào năm 1971. Vào tháng 7 năm 1979, nhiệm vụ và các chức năng của Khu thử nghiệm Dù Quốc gia (National Parachute Test Range) tại Căn cứ Không quân Hải quân El Centro (Naval Air Facility El Centro) cũng được chuyển về China Lake.

Trạm Vũ khí Hàng không Hải quân (Naval Air Weapons Station – NAWS)

Vào tháng 1 năm 1992, Trung tâm Vũ khí Hải quân và Trung tâm Thử nghiệm Tên lửa Thái Bình Dương (Pacific Missile Test Center) tại Point Mugu bị giải thể và được hợp nhất với các đơn vị hải quân tại Căn cứ Không quân Kirtland (Kirtland AFB) ở Albuquerque và tại Khu thử nghiệm Tên lửa White Sands (White Sands Missile Range) ở White Sands, New Mexico, thành một chỉ huy duy nhất – Phân viện Vũ khí Hàng không Hải quân (Naval Air Warfare Center Weapons Division – NAWCWD) trực thuộc Chỉ huy Hệ thống Hàng không Hải quân (Naval Air Systems Command – NAVAIR). Cùng lúc đó, cơ sở vật chất tại China Lake được chính thức đặt tên là Trạm Vũ khí Hàng không Hải quân (Naval Air Weapons Station) và trở thành trạm chủ nhà của NAWCWD, thực hiện các chức năng quản lý cơ sở.

Năm 1982, khu vực cộng đồng tại China Lake, bao gồm phần lớn nhà ở của căn cứ, được sáp nhập vào thành phố Ridgecrest. Năm 2013, Quốc hội Mỹ đã giữ lại diện tích đất của China Lake thêm 25 năm để sử dụng cho mục đích quân sự.

Năm 2014, Hạ nghị sĩ Kevin McCarthy (California) đã đề xuất một dự luật nhằm chỉ định vĩnh viễn đất đai của NAWS China Lake cho mục đích quân sự, lập luận rằng điều này sẽ tiết kiệm ngân sách cho người đóng thuế và tăng cường nhiệm vụ của căn cứ.[17] Dự luật sẽ bổ sung thêm 25.000 mẫu Anh (10.000 ha), bao gồm khoảng 7.500 mẫu Anh (3.000 ha) là một phần của khu vực tập bắn tại Quận San Bernardino, cũng như 19.000 mẫu Anh (7.700 ha) dọc theo ranh giới phía tây nam của trạm. Cục Quản lý Đất đai (Bureau of Land Management) cho rằng nhu cầu của Bộ Quốc phòng có thể thay đổi trong các thập niên tới, và khu vực này là một điểm giải trí phổ biến với các hoạt động cưỡi ngựa, cắm trại, săn bắn, đồng thời là hành lang quan trọng cho động vật hoang dã, đặc biệt là rùa sa mạc có nguy cơ bị đe dọa.[17]

Từ ngày 7 đến 9 tháng 11 năm 2018, NAWS được sử dụng làm bối cảnh quay cho máy bay hư cấu Darkstar, có khả năng đạt Mach 10, xuất hiện trong cảnh mở đầu của phim Top Gun: Maverick của Paramount, sau đó được phát hành năm 2022.

Vào tháng 7 năm 2019, hai trận động đất lớn đã tấn công Nam California; cả hai đều có tâm chấn nằm trong ranh giới NAWS. Trận đầu tiên, ngày 4 tháng 7, có cường độ 6,4 độ Richter, không gây thương tích tại NAWS và báo cáo ban đầu cho thấy tất cả các tòa nhà vẫn nguyên vẹn.[18] Trận thứ hai, ngày 5 tháng 7, có cường độ 7,1 độ Richter, khiến cơ sở được đánh giá là “không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ”.[5] Báo cáo cho thấy các quan chức đã kiểm tra tất cả tòa nhà, tiện ích và cơ sở vật chất – tổng cộng 3.598 công trình – trong 13 ngày sau các trận động đất và phát hiện thiệt hại tổng cộng 5,2 tỷ USD. Riêng việc thay thế các tòa nhà đã tốn 2,2 tỷ USD, ngoài ra còn phải thay thế hoặc sửa chữa thiết bị chuyên dụng, đồ đạc, máy công cụ, hệ thống viễn thông và các cơ sở khác.[19]

Các loại vũ khí từng được phát triển tại căn cứ

F9F-8 with Sidewinder missiles 1956
Một chiếc F9F-8 Cougar của Hải quân Mỹ được trang bị tên lửa AIM-9B Sidewinder. Ảnh được chụp vào tháng 11 năm 1956.

Các dự án nổi tiếng khác

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ FAA Airport Master Record for NID
  2. ^ a b "Welcome to Naval Air Weapons Station China Lake". Naval Air Weapons Station China Lake. United States Navy Commander, Navy Installations Command. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2017.
  3. ^ Commander, Navy Region Southwest
  4. ^ "Record broken by land sled". Spokesman-Review. Spokane, Washington. Associated Press. ngày 27 tháng 9 năm 1955. tr. 1.
  5. ^ a b Salahieh, Nouran (ngày 6 tháng 7 năm 2019). "Naval Air Weapons Station China Lake in Ridgecrest Evacuated, Deemed Not 'Mission Capable' After Quake". KTLA (bằng tiếng Anh). Truy cập tháng 7 7, 2019.
  6. ^ "Currents" (PDF). China Lake and the Tui Chub. 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2012.
  7. ^ NPS Archeology Program: Coso Rock Art www.cr.nps.gov
  8. ^ Shipstead, Maggie (ngày 29 tháng 10 năm 2015). "The Secret City". The California Sunday Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập tháng 7 7, 2019.
  9. ^ Monastero, Francis C. (September–October 2002). "Model for Success: An Overview of Industry-Military Cooperation in the Development of Power Operations at the Coso Geothermal Field in Southern California" (PDF). Geothermal Resources Council (GRC) Bulletin. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  10. ^ "Electricity Data Browser - List of plants for geothermal, California, all sectors, Coso". www.eia.gov. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2020.
  11. ^ "Naval Air Weapons Station China Lake: Tenant Commands". United States Navy. 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  12. ^ Panlaqui, Carol. What's in a Name? (Báo cáo). Ridgecrest, California: Maturango Museum.
  13. ^ a b "Naval Air Weapons Station, China Lake". The California State Military Museum. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013.
  14. ^ Gerrard-Gough, J. D.; Christman, Albert B. (1978). The Grand Experiment at Inyokern. Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office. tr. 175–176. OCLC 251693280.
  15. ^ "China lake Forecasters' Handbook – Section 1 Basic Description". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013.
  16. ^ "Naval Ordnance Test Station Inyokern, Randsburg Wash Facility Target Test Towers, Tower Road, China Lake, Kern County, CA". Library of Congress.Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  17. ^ a b Freking, Kevin (ngày 29 tháng 4 năm 2014). "Obama administration opposes China Lake expansion". The Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.
  18. ^ Antczak, John; Rodriguez, Olga (ngày 4 tháng 7 năm 2019). "Aftershocks following Southern California earthquake". WCYB. Truy cập tháng 7 7, 2019.
  19. ^ Alejandra Reyes-Velarde (ngày 14 tháng 8 năm 2019). "Earthquakes caused up to $5 billion in damage to China Lake naval base". /www.stripes.com.
Official sites
Museum
Other