Nhà song lập


Nhà song lập (Semi-detached house) hay còn gọi là Nhà chung vách hay Căn hộ tường chung là một loại hình nhà ở dành cho một gia đình thuộc phân mục nhà khối đôi (Duplex) sở hữu kết cấu chung một bức tường chung (party wall) duy nhất với căn hộ kế cận. Danh xưng này giúp phân định một cách khoa học phong cách kiến trúc này với phân khúc nhà đơn lập (detached houses) vốn hoàn toàn không chung vách, và phân khúc nhà liền kề (terraced houses) vốn bị chung vách tường ở cả hai bên mặt (trừ các căn đầu dãy, cuối dãy). Thông thường, hệ thống các ngôi nhà song lập được thi công xây dựng theo từng cặp đối xứng, trong đó cấu trúc bố cục mặt bằng của ngôi nhà này là hình ảnh phản chiếu qua gương của ngôi nhà còn lại. Nhà song lập là loại hình bất động sản phổ biến và chiếm thế thượng phong tuyệt đối tại khu vực Vương quốc Anh (UK). Phân khúc này đã chiếm giữ tỷ trọng lên tới 32% tổng số lượng giao dịch bất động sản toàn UK và cấu thành nên 32% tổng quỹ nhà ở của nước Anh vào cột mốc năm 2008.[1] Trong giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 1964, có tới 41% tổng số lượng bất động sản được đầu tư xây dựng là các ngôi nhà song lập. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn sau năm 1980, tỷ lệ xây dựng nhà song lập đã sụt giảm nghiêm trọng xuống chỉ còn mức 15%.[2]
Lịch sử
Tại Anh
Cấu trúc nhà ở phục vụ cho các hộ gia đình lao động nông nghiệp vào cột mốc năm 1815 thông thường chỉ sở hữu một phòng duy nhất ở tầng trệt kết hợp với phần không gian mở rộng dành cho Khu giặt rửa (Scullery) và kho đồ ăn (Pantry), cùng hai phòng ngủ được bố trí ở tầng trên. Công trình sẽ được xây dựng thi công bằng vật liệu gạch thô, bằng đá tự nhiên nếu sẵn có tại địa phương, hoặc bằng vật liệu đất nện trộn sợi thô đặt trên một khung xương bằng gỗ. Hệ thống nhà ở này hoàn toàn mất vệ sinh nghiêm trọng, nhưng bài toán nhức nhối nhất chính là việc số lượng của chúng quá khan hiếm và thiếu thốn trầm trọng.[3] Trong bối cảnh quy mô dân số đang tăng trưởng phi mã (xem bảng thống kê), và sau khi hệ thống các đạo luật rào đất (inclosure acts) chính thức được ban hành, người lao động hoàn toàn không thể tìm kiếm được các quỹ đất trống tự do để tự mình xây dựng mái ấm cư trú. Do đó, công tác xây dựng nhà ở dân dụng bắt buộc phải phụ thuộc hoàn toàn vào trách nhiệm của giới chủ đất địa chủ hoặc các nhà thầu xây dựng đầu cơ tư nhân.[4]
| Hạt hạt hành chính | Cột mốc 1801 | Cột mốc 1851 | Tỷ lệ biến động |
|---|---|---|---|
| Devonshire | 340 | 567 | +67% |
| Norfolk | 273 | 443 | +62% |
| Wiltshire | 184 | 254 | +38% |
Vào giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, các dự án làng trang điền công nghiệp (estate villages) thường xu hướng tuân thủ nghiêm ngặt theo các phong cách kiến trúc bản địa của từng địa phương. Bước sang đầu thế kỷ XIX, các địa chủ thường xuyên ưu tiên ứng dụng phong cách kiến trúc "tranh cảnh" (picturesque), và tiến hành xây dựng các ngôi nhà đôi (double cottages - tiền thân của nhà song lập) như một giải pháp kinh tế học đắc lực nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu tư vốn. Vào năm 1834, vị kiến trúc sư lừng danh của thủ đô Edinburgh là George Smith đã đưa ra các luận chứng chứng minh rằng: "Loại hình nhà đôi đặc thù này có thể được triển khai thi công với mức giá rẻ hơn rất nhiều so với việc xây dựng hai ngôi nhà đơn lập tách biệt, và nhìn chung, hệ thống các ngôi nhà đôi này được thực tiễn chứng minh là ấm áp hơn và sở hữu mức độ thoải mái hoàn toàn tương đương như các ngôi nhà đơn lẻ".[5][6] Đời sống sinh hoạt tại Vương quốc Anh xuyên suốt kỷ nguyên Cách mạng Công nghiệp đã trải qua những bước chuyển dịch biến động vô cùng tàn khốc. Đồng thời với làn sóng gia tăng dân số phi mã tại các hạt nông nghiệp nông thôn, xã hội đã chứng kiến một sự chuyển dịch nhân khẩu học thậm chí còn vĩ đại hơn thế khi dòng người nghèo khổ ồ ạt rời bỏ ruộng đồng để tiến vào các thị trấn lớn và các thành phố trung tâm nhằm tìm kiếm sinh kế (tiến trình đô thị hóa).
Cấu trúc xã hội bắt đầu trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc, với việc giai cấp công nhân lao động bị phân hóa một cách rõ rệt thành hai phân lớp: thợ thủ công lành nghề và lao động chân tay thô sơ. Tại các đô thị lớn, những người lao động chân tay phải chấp nhận cư trú bên trong các chung cư cũ (tenement blocks) quá tải mật độ, các khu ổ chuột hoang phế và những nhà trọ bình dân tồi tàn. Trước thực trạng nhức nhối đó, hàng loạt tổ chức từ thiện và hội đoàn bác ái đã chính thức được thành lập với mục tiêu tối cao là nâng tầm điều kiện sống cho người dân lao động. Tổ chức Hội bạn người lao động nông thôn đã nhanh chóng mở rộng quy mô diện tích vào năm 1844 và được tái cấu trúc thể chế chính thức dưới danh xưng Hiệp hội Nâng tầm Điều kiện sống cho Giai cấp Lao động.[7] Trong ấn phẩm nghiên cứu mang tính bước ngoặt xuất bản năm 1850 mang tựa đề The Dwellings of the Labouring Classes (Nhà ở của Giai cấp Lao động) viết bởi kiến trúc sư Henry Roberts, hiệp hội đã chủ động hoạch định vạch ra các đồ án mặt bằng tiêu chuẩn phục vụ cho việc xây dựng các ngôi nhà song lập mẫu mực dành cho tầng lớp công nhân tại các thị trấn và trung tâm nội đô. Tuy nhiên, các bất động sản đầu tiên được họ triển khai xây dựng trên thực địa thực tế vẫn là hệ thống các khu chung cư nén cũ và nhà trọ bình dân tập thể.
Vào năm 1866, Hiệp hội Thành thị Nâng tầm Nhà ở cho Giai cấp Lao động Chăm chỉ đã tiến hành đầu tư xây dựng dự án Alexander Cottages tại khu vực Beckenham thuộc hạt Kent, ngay trên phần diện tích quỹ đất sạch được cung ứng từ vị Công tước xứ Westminster. Dự án phát triển quy hoạch sơ khởi bao hàm 16 cặp nhà song lập xây sẵn theo mẫu. Bước sang cột mốc năm 1868, họ đã hoàn thiện xây dựng thành công tổng cộng 164 ngôi nhà song lập đồng bộ tại khu vực này.[7] Tại các trung tâm công nghiệp như Birmingham, Wolverhampton và Vùng đô thị Potteries, ngay từ thập niên 1790 đã hình thành nên một nét truyền thống nhân văn tốt đẹp khi đội ngũ thợ thủ công chủ động tích lũy tiền tài thông qua các quỹ tương hỗ và hệ thống các hội ái hữu.[8] Bước sang thập niên 1840, mô hình quỹ tiết kiệm nhà ở bền vững (permanent building society model) đã chính thức được xã hội tiếp thu và phê duyệt áp dụng rộng rãi. Định chế tài chính Woolwich Equitable được đặt nền móng thành lập vào năm 1847, tiếp theo là sự ra đời của Leeds Permanent vào năm 1848 và Bradford Equitable vào năm 1851. Nhờ công cụ này, những người thợ thủ công lành nghề hoàn toàn có khả năng góp vốn đầu tư và sau đó thực hiện quyền vay một khoản tài chính lớn để chi trả cho nghĩa vụ thế chấp mua đứt một bất động sản nhà ở của riêng mình.[9]
Canada
Mô hình nhà song lập từng được giới hoạch định đánh giá là một giải pháp kinh tế học hoàn hảo, tương thích hoàn toàn với hệ thống các thửa đất nhỏ gọn, hẹp ngang của khu vực trung tâm Thành phố Toronto trong suốt giai đoạn lịch sử sơ khởi của thành phố này. Vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX, các cặp nhà song lập đã được đầu tư xây dựng ồ ạt tại các phân khu như The Annex và Cabbagetown dưới nhiều phong cách kiến trúc đa dạng phong phú, tiêu biểu như trường phái Phục hưng Gothic (Gothic Revival), phong cách Nữ hoàng Anne (Queen Anne), trường phái Đệ Nhị Đế chế (Second Empire), và phong cách vịnh và đầu hồi (bay-and-gable).[10] Theo các số liệu thống kê từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2006, thành phố Toronto vinh dự sở hữu một khối lượng nhà song lập đồ sộ vượt ngưỡng 139.000 căn, dẫn đầu và bỏ xa toàn bộ các thành phố còn lại trên lãnh thổ Canada với một khoảng cách tỷ lệ áp đảo.[11] Hình ảnh những cặp nhà song lập xây bằng chất liệu gạch đỏ thô từ lâu đã trở thành một nét cảnh quan kiến trúc quen thuộc hiện diện trên khắp các tuyến phố nội đô và các khu ngoại ô cổ kính của thành phố.
Hình ảnh
Chú thích
- ^ Anon. "Special Feature 2: Semi-Detached Properties" (PDF). Nationwide: House prices. Nationwide. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2010.
- ^ The Guardian Wednesday 20 January 2010, Patrick Collinson, "50 years on: homes are more expensive but loos are indoors" London p.17
- ^ Burnett 1986, tr. 34.
- ^ a b Burnett 1986, tr. 35.
- ^ Smith 1834, tr. 27.
- ^ Lofthouse 2012, Housing the Rural Working Classes.
- ^ a b Lofthouse 2012, Housing the Urban Working Classes.
- ^ Burnett 1986, tr. 94.
- ^ Burnett 1986, tr. 95.
- ^ Kyles, Shannon. "Styles Page". ontarioarchitecture.com.
- ^ Mirsky, Jesse (ngày 3 tháng 3 năm 2012). "Don't get too attached: A primer on the semi". National Post.
Tham khảo
- Burnett, John (1986). A social history of housing : 1815-1985 (ấn bản thứ 2). New York: Methuen. ISBN 978-0416367805.
- Lofthouse, Pamela (2012). "The Development of English Semi-detached Dwellings During the Nineteenth Century". Papers from the Institute of Archaeology. 22: 83–98. doi:10.5334/pia.404.
- Park, Julia. "One hundred years of space standards" (PDF). Housing Space Standards. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2017.
- Smith, George (1834). Essay on the Construction of Cottages Suites for the Dwellings of the Labouring Classes. Glasgow: Blackie & Son.
- Sir John Summerson, Georgian London, (1945), 1988 revised edition, Barrie & Jenkins, ISBN 0712620958. (Also see revised edition, edited by Howard Colvin, 2003)
- Turner, Clive (2015). The making of modern housing - NHBC (PDF). Milton Keynes: NHBC Foundation. ISBN 978-0-9930691-3-0. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.
- "History of Council Housing". University of the West of England. 2008. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.