Nippon Series 2005
| Tập tin:Logo Nippon Series 2005.gif | |
| Đội vô địch | Chiba Lotte Marines (4) |
|---|---|
| Huấn luyện viên | Bobby Valentine |
| Đội á quân | Hanshin Tigers |
| Huấn luyện viên | Okada Akinobu |
| Ngày diễn ra | 22–26 tháng 10 |
| Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) | Imae Toshiaki (Chiba Lotte) |
| Giải Tình thần Chiến đấu (FSA) | Yano Akihiro (Hanshin) |
| Truyền hình | |
Nippon Series 2005 là loạt đấu tranh ngôi vô địch lần thứ 56, của Hệ thống bóng chày chuyên nghiệp Nhật Bản (NPB), mùa giải 2005. Đây là loạt đấu theo thể thức bảy ván thắng bốn trận giữa nhà vô địch Central League Hanshin Tigers và nhà vô địch Pacific League Chiba Lotte Marines. Đây được xem kì Nippon Series diễn ra một chiều nhất trong lịch sử, khi Marines áp đảo Tigers với tổng điểm ghi được ở các ván là 33-4 trong suốt loạt đấu. Mặt khác, Tigers đã xác lập một số kỉ lục đáng buồn trong lịch sử Nippon Series, với chỉ 4 điểm ghi được trong bốn ván, mất điểm trung bình 8,63 và không có cú home run nào. Hàng công của họ cũng chỉ ghi được 2 cú hit thêm chốt; hai hit đúp của Andy Sheets và Toritani Takashi.
Bối cảnh
Chiba Lotte Marines
Marines, dưới sự dẫn dắt bởi huấn luyện viên cá tính người Mỹ Bobby Valentine, đã có một mùa giải đáng kinh ngạc khi về thứ 2 tại Pacific League, và đủ điều kiện tham dự vòng đấu Climax Series (CS) mới được áp dụng. Họ đã đánh bại nhà vô địch Nippon Series Seibu Lions tại vòng một, và gặp Fukuoka SoftBank Hawks, CLB được đồn đoán sẽ cùng sáp nhập với Marines vào năm ngoái, tại vòng cuối CS. Marines thắng sít sao với tỷ số ván 3-2 và giành quyền tham dự Nippon Series, trong đó đã có lúc họ suýt chút nữa có thể thắng sạch ván trước một Hawks được đánh giá cao hơn.
Shimizu Naoyuki và Watanabe Shunsuke dẫn đầu đội hình ném bóng để mất điểm ít nhất tại NPB của Marines. Kobayashi Masahide giữ vai trò ném kết liễu của đội, mặc dù cũng đã ném hỏng nhiều lần bảo toàn đáng kể trong suốt mùa giải. Watanabe, Ono Shingo và Dan Serafini đều đạt ERA dưới 3, mức thấp nhất trong số các tay ném bóng của Marines kể từ khi Nate Minchey đạt ERA 2.85 vào năm 2002.
Hàng công của Marines ghi được nhiều điểm nhất giải đấu với đội hình tấn công mạnh mẽ gồm Benny Agbayani, Nishioka Tsuyoshi, Imae Toshiaki, và ngôi sao người Hàn Quốc Lee Seung-Yeop, người dẫn đầu đội về số home run. Những cầu thủ hỗ trợ khác cân bằng hàng công bao gồm Satozaki Tomoya, Hori Koichi, Matt Franco, và Omura Saburo.
Hanshin Tigers
Tigers vừa trải qua hai năm kể từ lần cuối cùng tham dự Nippon Series, khi họ bị Fukuoka Daiei Hawks đánh bại trong 7 ván vào năm 2003. Bộ khung năm đó phần lớn vẫn được giữ nguyên, nhưng cũng có một số gương mặt mới. Một trong số đó là sự thay đổi ở ban huấn luyện, khi huấn luyện viên Hoshino Senichi từ chức vì vấn đề sức khỏe, cựu cầu thủ Tigers và nhà vô địch Nippon Series năm 1985 Okada Akinobu đã được bổ nhiệm thay thế ông.
Đội hình ném bóng của Tigers được dẫn dắt bởi bộ ba JFK, gồm các tay ném tiếp sức Jeff Williams, Fujikawa Kyuji, và Kubota Tomoyuki. Cầu thủ ném mở màn số 1 của đội là Andō Yuya, người đã có một mùa giải xuất sắc vào năm 2005, và Shimoyanagi Tsuyoshi cũng có phong độ tương tự. Những gương mặt khác trong đội bao gồm Igawa Kei, Fukuhara Shinobu, và Sugiyama Naohisa.
Hàng công của Tigers dẫn đầu bởi MVP Central League Kanemoto Tomoaki, người đã đánh bốn cú homerun tại Nippon Series 2003. Cầu thủ bắt bóng Yano Akihiro cũng là một trụ cột trong sức mạnh tấn công của đội. Tigers cũng sở hữu tốc độ bùng nổ với chặn ngắn Toritani Takashi và chân ngoài ngữa Akahoshi Norihiro. Imaoka Makoto cũng có một năm xuất sắc, với 147 điểm ghi được, kỉ lục trong một mùa giải trong lịch sử Tigers. Sau khi mất George Arias trong nỗ lực chiêu mộ ngoại binh ngôi sao của Yokohama BayStars là Tyrone Woods (nhưng Woods cuối cùng ký hợp đồng với Chunichi Dragons), Tigers đã lấp đầy khoảng trống Arias để lại với việc chiêu mộ chặn ngắn Andy Sheets của Hiroshima Toyo Carp. Không giống như hàng công cân bằng mà Marines triển khai, hàng công của Tigers có khả năng gây lớn hơn, nhưng lại dễ bị khắc chế.
Các lượt trận
Ván 1
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | R | H | E | |||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hanshin | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 1 | 5 | 0 | |||||||||||||||||||||||
| Lotte | 1 | 0 | 0 | 0 | 3 | 1 | 5x | 10 | 15 | 0 | |||||||||||||||||||||||
| Starting pitcher: HAN: Igawa Kei (0–0) LOT: Shimizu Naoyuki (0–0) WP: Shimizu Naoyuki (1–0) LP: Kei Igawa (0–1) Số home run: HAN: không có LOT: Imae Toshiaki (1), Lee Seung-Yeop (1), Satozaki Tomoya (1), Benny Agbayani (1) Số khán giả: 28,333 Ghi chú: Marines được xử thắng sau khi trận đấu bị phán kết thúc ở hiệp 7 một out do thời tiết xấu. | |||||||||||||||||||||||||||||||||
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hanshin | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Lotte | 1 | 1 | 0 | 0 | 0 | 5 | 0 | 3 | X | 10 | 12 | 0 | |||||||||||||||||||||
| Starting pitcher: HAN: Andō Yuya (0–0) LOT: Watanabe Shunsuke (0–0) WP: Watanabe Shunsuke (1–0) LP: Andō Yuya (0–1) Số home run: HAN: không có LOT: Ohmura Saburo (1), Matt Franco (1), Lee Seung-Yeop (2) Số khán giả: 28,354 | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Ván 3
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lotte | 0 | 1 | 0 | 2 | 0 | 0 | 7 | 0 | 0 | 10 | 10 | 0 | |||||||||||||||||||||
| Hanshin | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 6 | 1 | |||||||||||||||||||||
| Starting pitcher: LOT: Kobayashi Hiroyuki (0–0) HAN: Shimoyanagi Tsuyoshi (0–0) WP: Kobayashi Hiroyuki (1–0) LP: Shimoyanagi Tsuyoshi (0–1) Số home run: LOT: Fukuura Kazuya (1) HAN: không có Số khán giả: 47,753 | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Ván 4
| Đội | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | R | H | E | |||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lotte | 0 | 2 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 7 | 0 | |||||||||||||||||||||
| Hanshin | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 2 | 7 | 0 | |||||||||||||||||||||
| Starting pitcher: LOT: Dan Serafini (0–0) HAN: Sugiyama Naohisa (0–0) WP: Dan Serafini (1–0) LP: Sugiyama Naohisa (0–1) Sv: Kobayashi Masahide (1) Số home run: LOT: Lee Seung-Yeop (3) HAN: không có Số khán giả: 47,810 | |||||||||||||||||||||||||||||||||
Diễn biến sau đó
Tổng tỷ số điểm cuối cùng của loạt đấu là 33–4, biến đây trở thành kì Nippon Series có tỷ số chênh lệch nhất trong lịch sử. Với chiến thắng này, Marines đã giành chức vô địch Nippon Series đầu tiên kể từ năm 1974, khi họ còn được biết đến với cái tên Lotte Orions.[1] Ngoài ra, Bobby Valentine trở thành huấn luyện viên người nước ngoài đầu tiên giành chức vô địch Nippon Series. [2]
Giải Cầu thủ xuất sắc nhất được trao cho Imae Toshiaki, người đã có tám hit liên tiếp trong hai lượt trận đầu tiên và kết thúc loạt đấu với tỷ lệ đánh bóng .625, đẩy về chín điểm cùng một home run.
Thất bại lịch sử này của Hanshin Tigers đã càng khoét sâu những đồn đoán tâm linh về Lời nguyền Đại tá, một truyền thuyết đô thị xoay quanh bức phù điêu linh vật KFC Đại tá Sanders bị ném xuống sông Dōtonbori mà đã không được tìm thấy cho tới năm 2009.[3] Hanshin Tigers đã vào tới Nippon Series thêm một lần nào cho tới năm 2023 khi họ giành chiến thắng, cũng với sự dẫn dắt của HLV Okada Akinobu.[4]
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Ellsesser, Stephen (ngày 27 tháng 10 năm 2005). "Marines sweep Tigers to win Japan Series". The Japan Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Lotte Marines win Japan Series with American manager". Taipei Times. Associated Press. ngày 28 tháng 10 năm 2005. tr. 22. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2024.
- ^ "Colonel Sanders pulled from river after 24 years". NBC News (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.
- ^ Baggarly, Andrew (ngày 9 tháng 11 năm 2023). "Long-suffering Hanshin Tigers win Japan Series, end 'Curse of the KFC Colonel'". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2025.