Bước tới nội dung

Paul Langerhans

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Paul Langerhans năm 1878

Paul Langerhans (25 tháng 7 năm 1847 – 20 tháng 7 năm 1888) là một nhà bệnh lý học, sinh lý họcsinh học người Đức. Ông nổi tiếng với công trình khám phá ra các tế bào ở tuyến tụy có chức năng tiết insulin, mà sau này được đặt tên là đảo Langerhans để vinh danh ông.

Thuật ngữ mang tên ông

  • Đảo Langerhans – Các tế bào trong tuyến tụy bao gồm các tế bào sản xuất insulin. Langerhans đã phát hiện ra các tế bào này trong quá trình làm luận án tiến sĩ tại Viện Bệnh học Berlin vào năm 1869.[1]
  • Tế bào Langerhans – Tế bào da tham gia vào phản ứng miễn dịch, đôi khi chứa các hạt Langerhans. Năm 1868, Langerhans sử dụng kỹ thuật nhuộm bằng clorua vàng do Julius Friedrich Cohnheim hướng dẫn để nhuộm mẫu da người và xác định các tế bào mang tên ông. Do hình dạng bên ngoài, ông ban đầu nghĩ chúng là tế bào thần kinh, nhưng thực tế chúng là tế bào đuôi gai.
  • Lớp Langerhans – Trong cùng bài báo mô tả tế bào Langerhans (tế bào đuôi gai), ông cũng mô tả các tế bào dạng hạt nằm ở phần ngoài của lớp Malpighi trong biểu bì, lớp hạt (stratum granulosum) còn được gọi là lớp Langerhans.
  • Langerin – CD207 (langerin) là một loại protein ở người được mã hóa bởi gen CD207. Nó hiện diện trong các hạt Birbeck của tế bào Langerhans.

Cuộc đời ban đầu

Langerhans khi còn là sinh viên

Langerhans sinh ra tại Berlin vào ngày 25 tháng 7 năm 1847, là con trai của một bác sĩ. Ông theo học tại trường danh tiếng Grauen Kloster. Nhờ thành tích học tập xuất sắc, ông được miễn kỳ thi vấn đáp cuối cùng. Ông bắt đầu học y khoa tại Đại học Jena và hoàn thành chương trình tại Berlin.[2]

Đóng góp khoa học

Vào tháng 2 năm 1869, Langerhans trình bày luận án với tựa đề "Những đóng góp về giải phẫu vi thể của tuyến tụy", trong đó ông đề cập đến các đảo tế bào trong tuyến, có màu nhuộm khác biệt so với mô xung quanh. Ông nhận thấy các vùng này có phân bố thần kinh phong phú nhưng không rõ chức năng của chúng, ngoại trừ giả thuyết rằng chúng có thể là hạch bạch huyết.[2]

Một năm trước đó, khi còn là sinh viên đại học, ông đã phân tích tế bào biểu bì da trong một cuộc thi tại Đại học Berlin. Các tế bào da phân nhánh giống tế bào thần kinh được mô tả trong bài báo "Về các dây thần kinh của da người" vẫn là một bí ẩn trong hơn một thế kỷ, cho đến khi chức năng miễn dịch và tầm quan trọng của chúng được công nhận.[3]

Sự nghiệp ban đầu và bệnh tật

Sau khi tốt nghiệp, Langerhans tháp tùng nhà địa lý học Richard Kiepert đến Syria, Palestine và miền tây Jordan, nhưng trở về châu Âu khi Chiến tranh Pháp-Phổ bùng nổ và sau đó phục vụ trong một đơn vị cứu thương ở Pháp. Năm 1871, Rudolf Virchow sắp xếp cho ông một vị trí làm giám khảo giải phẫu bệnh tại Đại học Freiburg, và trong vòng hai năm, ông trở thành giáo sư chính thức. Chính trong thời gian này, vào năm 1874, ông mắc bệnh lao – rất có thể do công việc trong phòng mổ xẻ. Để tìm cách chữa trị, ông đến Naples, Palermo, đảo Capri, và trải qua các đợt điều trị tại DavosSilvaplanaThụy Sĩ, nhưng tất cả đều vô ích; ông buộc phải từ chức khỏi trường đại học.

Madeira và hôn nhân

Vào tháng 10 năm 1875, Langerhans đến Funchal trên đảo Madeira, nơi ông hồi phục sức khỏe một phần và bắt đầu một sự nghiệp mới không mệt mỏi. Ông bắt đầu nghiên cứu về giun biển, thường xuyên xuống bến cảng để thu thập lưới của ngư dân. Các ấn phẩm mô tả và phân loại động vật không xương sống biển của ông xứng đáng được coi là đóng góp khoa học lớn thứ ba của ông. Năm 1887, ông đã thuyết trình về những chủ đề này trước Học viện Hoàng gia ở Berlin.

Ông làm bác sĩ tại Funchal, điều trị chủ yếu cho những người mắc bệnh lao, và xuất bản các bài báo khoa học về tình hình bệnh tật trong kho lưu trữ của Virchow. Chưa hài lòng, ông tiếp tục viết một cuốn sổ tay dành cho khách du lịch đến đảo và theo đuổi nghiên cứu về khí tượng học.

Năm 1885, ông kết hôn với Margarethe Ebart, một góa phụ cũng là bệnh nhân của ông. Lễ cưới được tổ chức tại Berlin, nơi ông gặp cha, chị gái và hai anh trai lần cuối. Đôi vợ chồng mới cưới đã thuê Quinta Lambert – được mệnh danh là biệt thự đẹp nhất ở Funchal và hiện nay là dinh thự chính thức của Chủ tịch Chính quyền địa phương. Theo lời người vợ, "đó là ba năm hạnh phúc không thể diễn tả được".[2]

Qua đời

Vào mùa thu năm 1887, bệnh suy thận tiến triển khiến công việc của Langerhans bị gián đoạn. Ông bị phù chân, đau đầu dữ dội và mất trí nhớ ngắn hạn. Đôi khi trong lúc nói chuyện, ông bị dừng lại giữa câu và không thể tiếp tục. Ông qua đời vì tăng urê huyết (uraemia) vào ngày 20 tháng 7 năm 1888, chỉ năm ngày trước sinh nhật lần thứ 41 của mình. Ông được chôn cất tại Nghĩa trang Funchal của Anh trên đảo Madeira, nơi ông đã chọn vì cho rằng đó là "một nghĩa trang thực sự, biệt lập và yên tĩnh, một nơi tốt để yên nghỉ."

Tham khảo

  1. ^ Sakula, A (tháng 7 năm 1988). "Paul Langerhans (1847–1888): a centenary tribute". Journal of the Royal Society of Medicine. Quyển 81 số 7. tr. 414–5. doi:10.1177/014107688808100718. PMC 1291675. PMID 3045317.
  2. ^ a b c Langerhans, Paul. deutsche-biographie.de
  3. ^ Langerhans, P. (1868). "Ueber die Nerven der menschlichen Haut". Archiv für pathologische Anatomie und Physiologie und für klinische Medicin. Quyển 44 số 2–3. tr. 325–337. doi:10.1007/BF01959006.

Liên kết ngoài

Đọc thêm