Bước tới nội dung

Phan Nhân Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Phan Nhân Tường (1514-1576) là một vị quan thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Ông đậu Tiến sĩ vào khoa thi năm 1546, đời vua Lê Trang Tông. Ông làm quan trải qua 4 đời vua Lê (Lê Trang Tông 1533-1548, Lê Trung Tông 1549-1556, Lê Anh Tông 1557-1572, Lê Thế Tông 1573-1579), được thăng đến chức Giám sát ngự sử, Tri thẩm hình viện.[1]

Tiểu sử

Phan Nhân Tường sinh ngày 08/09/1514. Người thôn Bạch Xá, xã Hoàng Xá, tổng Võ Liệt, nay là xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An.

Cha Phan Nhân Tường là ông Phan Nhân Trung, mẹ là Nguyễn Thị The một người phụ nữ đức độ, đảm đang. Khi mới sinh Phan Nhân Tường khôi ngô tuấn tú, tướng mạo khác thường nên được người cha chọn đặt tên là Nhân Tường, có nghĩa là lòng thương người. Tường là hạt giống tốt truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau. Từ nhỏ ông là một cậu bé hiếu thảo chăm học nên đã nổi tiếng thông minh. Năm 1543 Phan Nhân Tường đậu Hương Cống. Trong khi vừa luyện thi để thi Hội thì ông đảm nhiệm chức xã trưởng xã Hoàng Xá, cùng nhân dân khai khẩn đất hoang, xây dựng nên một làng quê trù phù.[1]

Sự nghiệp

Năm 1543 ông đậu Giải Nguyên, kỳ thi Hương. Sử sách lục khoa chính thống không thấy ghi tên ông, nhưng bia đại khoa các triều đại tại đình Võ Liệt (nay là xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An) ghi ông đậu tiến sĩ trên 6 vị đại khoa khác của tổng võ liệt (Đình Võ Liệt có tới 6 bia đá khắc tên 374 sinh đồ, tú tài; 61 Hương cống, Cử nhân và 7 Đại khoa của tổng).[1]

Bia đá tại Đình Võ Liệt còn đến ngày nay, ghi tên Tiến sĩ Phan Nhân Tường

Năm 1543, Phan Nhân Tường đậu Hương Cống. Trong khi vừa luyện thi để thi Hội thì cậu đảm nhiệm chức xã trưởng xã Hoàng Xá, cùng nhân dân khai khẩn đất hoang, xây dựng nên một làng quê trù phú.[2]

Sách "Đông yên nhị huyện đăng khoa phổ" có ghi:

"Lê Trang Tông năm thứ 14, năm Bính Ngọ lập Hành Điện ở sách Vạn Lai (có tài liệu ghi là Vạn Lại, nay là xã Xuân Châu, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá), học trò hào kiệt về đây nhiều cho nên thi chọn lấy người tài giỏi. Hợp các trường thi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình và Quảng Trị (nay là tỉnh Quảng Trị), nói rõ trong thiên hạ ở sự bàn bạc lòng dân, lấy 25 người. Phan Nhân Tường đậu ở vị trí thứ nhất Đệ tam giáp. năm ông 32 tuổi."

Phan Nhân Tường ra làm quan giúp vua Lê, diệt Mạc, nhà Vua thấy Phan Nhân Tường là người thông thái, công minh, chính trực, nên giao cho chức Giám Sát Ngự Sử.[1]

Trích nội dung văn bia tại Đình Võ Liệt: "Lịch triều đại khoa bia chí"[3]

"Phan Nhân Tường: Lê Nguyên Hòa thập tứ niên chế khoa đồng Tiễn sĩ Tri thẩm hình viện lịch triều sắc phong Phúc Thần". Tạm dịch: "Phan Nhân Tường: Đậu đồng tiến sĩ chế khoa Lê Nguyên Hòa năm thứ 14 - làm Tri thẩm hình viện được phong làm Phúc Thần".[3]

Nhà thờ họ Phan Nhân Tường, nhánh Phan Quang Đạo (con trai thứ 2 của Phan Nhân Tường) tại xóm Minh Sơn, xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (nay là xóm 1, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An) hiện lưu giữ sắc phong cho ông là Tiến sĩ ở một khoa thi đặc biệt chưa được nhiều sử sách ghi nhận, là khoa thi năm Nguyên Hoà thứ 14 triều Lê Trang Tông (1546)[4]. Hiện sắc phong này được chuyển về lưu giữ tại Đền thẩm hình nơi người dân xã Bích Hào, xã Kim Bảng và các vùng lân cận thời phụng ông.

Qua các sắc phong, và các tư liệu lịch sử lớn có ghi chép về khoa thi này, giúp bổ sung thêm tư liệu lịch sử về khoa cử triều đại vua Lê Trang Tông.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư có viết: "Bính Ngọ, [Nguyên Hoà] năm thứ 14 [1546], (Mạc Quảng Hoà năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 25). Vua lập hành điện ở sách Vạn Lai (nay là xã Thuận Minh, tỉnh Thanh Hóa). Mỗi khi có đánh dẹp, đều giao cả cho Thái sư Lượng quốc công thống lĩnh, đánh đâu được đấy. Do vậy, hào kiệt các Châu Hoan (tức Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), Ô (vùng đất Bình Trị Thiên ngày nay), Quảng (Đà Nẵng ngày nay)  đua nhau tới cửa đình, ai nấy đều vui lòng gắng sức, cõi đất Ái Châu (tức Thanh Hoá ngày nay) yên dần".[5][4]

Trong thời gian 47 năm (1546 - 1593) hành điện được chuyển qua chuyển lại giữa Vạn Lại và Yên Trường nhiều lần (Đại Việt sử ký toàn thư). Chính tại nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện. Trong thời gian đó, ở Vạn Lại đã tổ chức 7 khoá thi, đã có nhiều hiền tài có công với đất nước vào những năm cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Đó là các tiến sĩ Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thưc, Lê Trạc Tú... [5]

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, phần Bản kỷ Tục biên: Năm Bính Ngọ [1546], (Mạc Quảng Hòa năm thứ 6). Nội dung đoạn văn (Hán Việt/Dịch): "Mùa đông, tháng 12, lập hành tại ở vạn Lại. Bấy giờ, vua ở sách Vạn Lại thuộc huyện Thụy Nguyên, phong Thái sư Hưng Quốc công Trịnh Kiểm làm Đô tướng, tiết chế các dinh quân thủy quân bộ, mở khoa thi chọn học trò đỗ đạt để dùng."[6]

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Chính biên): Ghi rõ việc Trịnh Kiểm vâng mệnh vua lập hành tại ở Vạn Lại và chăm lo việc khoa cử, tuyển dụng hào kiệt.[7]

Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú): Có nhắc lại sự kiện nhà Lê bắt đầu mở các khoa thi Hương, thi Hội ngay từ khi còn ở vùng Thanh Hóa (Vạn Lại - Yên Trường) để thu phục lòng dân và sĩ phu.[8]

Trong số 45 người đỗ tiến sĩ ở Vạn Lại có hơn 30 người trở thành thượng thư, nhiều người được nhà vua cử đi sứ. Một số người sau khi đỗ tiến sĩ và làm quan và gắn bó với mảnh đất Vạn Lại như Phùng Khắc Khoan. Tại Văn Miếu Hà Nội ngày nay có 82 bia tiến sĩ, trong đó có 7 bia ghi các tiến sĩ đỗ các khoa thi ở Vạn Lại [5]

Với những thông tin chính thống này, cho thấy hào kiệt về đây chắc chắn là đã có khoa thi năm Nguyên Hoà thứ 14 này. Điều này khớp với nội dung trên các sắc phong cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường.[5]

Khoa này có 10 người Nghệ An thi đậu và qua sắc phong xưa để lại, còn có ở họ Phan (Phan Tiến Thọ, xã Hưng Nguyên, Nghệ An)... Đây là tư liệu quí bổ sung cho lịch sử Việt Nam, đặc biệt là khoa cử qua các triều đại.[9]

Sau khi ông mất, các triều đại phong kiến sau đó cũng có các sắc phong ghi nhận công lao của ông, các mộc bản còn lưu giữ đến ngày nay của các triều đại sau này dành cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường.[10]

- Sắc Thiệu Trị 20-05-1844

Sắc Thiệu Trị: Sắc phong cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường, hiện tại đang lưu giữ tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An.
Nội dung sắc phong do vua Thiệu Trị ban hành: Sắc phong cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường, hiện tại đang lưu giữ tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An.

Sắc: Thần vốn linh thiêng, sáng suốt, có công giúp nước, phù hộ lê dân, cảm ứng rõ rệt, linh ứng hiển hách. Nay chuẩn theo mệnh trời, đặc chuẩn gia phong, ban thêm mỹ tự, để tỏ rõ ân điển và ghi nhận công đức của thần. Xét rằng thần nhiều lần hiển ứng, phù trợ quốc gia, bảo hộ nhân dân, công lao đáng được tôn vinh, đã được triều đình trước đây phong tặng. Nay gặp dịp đại lễ, đặc cách gia phong thêm tước hiệu, chuẩn cho tiếp tục phụng thờ như cũ, để thần mãi giữ việc hộ quốc an dân.Chuẩn cho nhân dân địa phương ấy: Phải kính cẩn thờ phụng, giữ lễ như xưa, không được sai trái, trái với sắc mệnh. Ngày 20 tháng 5 năm thứ 4 niên hiệu Thiệu Trị - Khâm thử![11]

- Sắc Cảnh Thịnh 21-5-1795

Sắc (phát): "Tri thẩm hình viện anh đoán đại vương. Sơn xuyên anh dục Hà Hải Tú. Chung thị phất kiên chính phất văn, thinh hồ ký đức, cảm tất thông, cầu tất ứng hách nhị khuyết hình ký da, tỉ hộ chi diển, công tận phụng bao phong cho thịnh điền vi. Hoàng gia di thừa lịch lịch lễ hữu, đăng thất ứng gia phong mỹ tự, nhị tự khả gia phong Thẩm hình viện anh đoán thông minh chính trực bảo quốc đại vương có sắc. Cảnh Thịnh, tứ niên, ngũ nguyệt, nhị thập nhất nhật".[12]

Tạm dịch: "Đại vương là người tài năng xuất chúng, làm quan xét xử pháp luật ở triều đình. Con người tài năng đó là do đất nước sinh ra và hun đúc nên, không thể không được coi là sự vinh hiển để noi gương còn truyền cho mai sau. Đó là một ơn huệ, noi theo thì được hiển đạt, cầu xin thì được đến đáp. Cái hồn thiêng của ông rất lớn đã che chở cho dân, có thể sánh với mọi phép tắc của nhà nước, cần phải được suy tôn lên để khen tặng. Nhà vua truyền cho kẻ tôn vương trong nhà được bày tỏ kính ý đăng lên để hưởng bổng lộc và tặng cho tên đẹp, sau lại phong thêm là Thẩm hình viện anh đoán thông minh chính trực bảo quốc đại vương. Vì vậy cho nên vua ban sắc phong".[12]

- Sắc Thành Thái

Mộc bản sắc phong do vua Thành Thái ban hành năm 1890 ghi nhận công lao của Tiến sĩ Phan Nhân Tường được lưu giữ tại Nhà thờ họ Phan tại xóm Minh Sơn, xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (cũ), nay là xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An. Hiện bản sắc phong này được chuyển về lưu giữ tại Đền thẩm hình.

"Sắc Nghệ An tỉnh, Thanh Chương huyện, Quảng Bá xã, Bạch Xá thôn. Tòng tiện phụng sự Tri thẩm hình viện Phan Tướng Công thượng đẳng thần, hộ quốc tỷ dân nậm trứ, linh ứng lai vị, hiệu dực phong tử tiến, thị thừa cảnh mệnh diễn niệm trừ phong vi đoan Túc dực bảo trung hưng chi thần chuẩn y cựu phụng sự thần ký tướng hữu bảo dạ lệ dân khâm thai. Thành Thái nhị nguyên, nhị nguyệt, nhị thập nhật".

Dịch nghĩa: Sắc cho thôn Bạch Xá, xã Hoàng Xá (nay là xã Thanh Hà), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, (nơi) thờ phụng vị thần là quan Thẩm hình viện Phan Tướng Công (Phan Nhân Tường). Thần có công giúp đỡ đất nước, che chở cho nhân dân rất là linh thiêng. Thần đã từng được dự sắc phong, nay Trẫm nhận mệnh lớn của trời, nhớ tới công lao của thần (nên) phong là: Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Chi Thần. Cho phép dân được thờ phụng như cũ, ngõ hầu Thần phù hộ dân ta. Kính cẩn thay. Ngày 12 tháng 2 năm Thành Thái thứ 2 (tức năm 1890) - Người dịch: Hoàng Văn Kiểm.[13]

- Sắc Duy Tân 1904

"Sắc Nghệ An tỉnh, Thanh Chương huyện, Quảng Bá xã, Bạch Xá thôn. Tòng tiện phụng sự hiệu linh đốn tịnh hùng tuấn trác vị dực bảo trung hưng cao sơn, cao các thượng đẳng tôn thần, đoan túc dực bảo trung hưng, tri thẩm hình viện Phan Tướng Công chi thần linh phù bản cảnh thành hoàng sơn quang diệu thái tượng uy chi thần, tiết kinh lĩnh cấp sắc phong chuẩn kỳ phụng sự tân quang đại lễ. kinh lĩnh báu chiếu ân lễ long đăng thất kỳ chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi Tân tự điển khâm tai. Duy Tân tam niên, bát nguyệt, nhất thập nhất nhật".[14]

- Sắc Khải Định 1924

"Sắc Nghệ An tỉnh, Thanh Chương huyện, Quảng Bá xã, Bạch Xá thôn. Tòng tiện phụng sự nguyên tặng hiệu linh, đốn tinh hùng đại trác vị dực bảo trung hưng, Tri thẩm hình viện Phan Tướng Công thượng đẳng thần, hộ quốc tỷ dân nậm trứ linh ứng tiết mông linh cấp, sắc phong chuẩn hứa, phụng sự tứ kim chính trực, trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kinh lĩnh báu chiếu đơn ân lệ, long đăng thất trì chuẩn y phụng sự dụng chí Quốc khánh nhi thần tự điển khâm thai. Khải Định cửu niên, thất nguyện nhị thập ngũ nhật (25-7-1924)".[15]

Theo sách Đông Yên nhị huyện khoa phổ chép ông đậu Tiến sĩ khoa Bính Ngọ, Nguyên Hòa thứ 14 (1546), đời vua Lê Trang Tông. Ông làm quan trải qua 4 đời vua Lê (Trang Tông 1533-1548, Trung Tông 1549-1556, Anh Tông 1557-1572, Thế Tông 1573-1579), được thăng đến chức Giám sát ngự sử, Tri thẩm hình viện.[16]

Trong đó Giám sát ngự sử thuộc cơ quan thời Lê là Ngự sử đài. Sử Đài là cơ quan có đặc quyền được hặc tấu tất cả mọi việc, có ý nghĩa can gián những việc được xem là không đúng hoặc chưa tốt của vua và quan lại. Thẩm hình viện, là một vị trí quan trọng trong Ngũ Hình Viện. Ngũ Hình viện: gồm Thẩm hình, Tả hình, Hữu hình, Tường hình, Tư hình.[17]

Từ năm 1996 đến năm 2000, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Nghệ An đã tiến hành nghiên cứu, thu thập các tư liệu về ông, toàn bộ tư liệu bao gồm "Lý lịch di tích và đền thờ và bia mộ"; "Tập ảnh di tích "; "Tờ trình và biên bản " đền thờ và bia mộ Tiến sĩ Phan Nhân Tường đang được lưu giữ tại Bảo tàng tổng hợp thuộc Ban quản lý di tích văn hóa Nghệ An.[18]

Thông qua 28 đạo sắc của các triều đại mà ông làm quan, cũng như các triều đại sau mà con cháu hậu duệ của ông tại xóm Minh Sơn (nay là xóm 1 kể từ năm 2020), xã Thanh Tùng còn lưu giữ được. Đồng thời qua các tư liệu khác như Gia phả dòng họ, bia đá tại Đình Võ Liệt, các công trình nghiên cứu đã xuất bản, các tài liệu hàn lâm,... còn lưu giữ ở thư viện Quốc gia, thư viện tỉnh Nghệ An. Và di tích đền thờ, mộ tiến sỹ Phan Nhân Tường tại xã Thanh Hà và xã Thanh Giang (Thanh Chương). Vào ngày 30/04/2000 ông đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa.[18]

Năm 1576 (Bính Tý) đất nước xảy ra nhiều cuộc binh đao giữa 2 thế lực Nam Triều và Bắc Triều (Lê - Mạc), từng là vị quan suốt 30 năm, lúc này Phan Nhân Tường đã trở thành 1 dũng tướng. Cũng trong thời gian này nhà Mạc (Ngụy) sau khi đánh chiếm xứ Thanh Hóa, chúng vượt biển đánh tiếp xứ Nghệ An. Phan Nhân Tường được vua Lê giao nhiệm vụ cầm quân thủy chiến với địch. Trong lúc giao chiến ông đã anh dũng hy sinh như một vị anh hùng, hưởng thọ 62 tuổi. Ghi công ông, vua Lê phong quốc sắc truy tặng: "Dự bảo Trung hưng, thông minh anh đoán, đoan túc tôn thần, bảo quốc đại vương - Phan Tướng Công".[18]

Hậu duệ

Nhà thờ họ Phan, hậu duệ Tiến sĩ Phan Nhân Tường tại xóm 1, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm Minh Sơn, xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)

Ông sinh được 4 người con trai, ai cũng thông minh đậu đạt.[18]

Phan Đạt đậu hương cống (Cử nhân) khoa Kỷ Tỵ (1576); Phan Đệ đậu hương cống (Cử nhân) khoa Kỷ Mão (1579); Phan Quang Đạo đậu hương cống (Cử nhân) khoa Ất Dậu (1585), nhà thờ hiện tại thuộc xóm 1, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An; Phan Bình trúng thí tiểu khoa.[18]

Hiện nay tại tỉnh Nghệ An, con cháu Tiến sĩ Phan Nhân Tường có ông Phan Đức Đồng, hiện là Bí thư Đảng ủy phường Thành Vinh, Ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy Nghệ An nhiệm kỳ 2025-2030.[19]

Gia phả họ Phan được ghi chép nhánh con trai của ông là Phan Quang Đạo (được thờ tại xóm 1, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An). Phan Nhân Tường được thờ tại làng Đa Phúc (nay là xã Phúc Lộc, tỉnh Nghệ An, trước đây là xã Nghi Công Nam) và tại xã Quan Thành, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm Bắc Sơn, xã Bắc Thành).

Các đóng góp

Là một xã trưởng được học hành, nên ông đã thấu hiểu hoàn cảnh của quê hương đất nước. Ông đã bàn bạc với quan chức địa phương tập hợp dân chúng khai hoang phát triển sản xuất. Với vùng thung lũng ven sông, có nhiều phù sa màu mỡ, nên ông đã huy động dân đắp bờ ngăn lạch, trồng lúa, ngô, chăn nuôi gà vịt. Một thời gian, Phan Nhân Tường đã lãnh đạo nhân dân  khai khẩn được hàng trăm mẫu ruộng như Đồng Nậy, Đồng Giáng, Đồng Lùng, Đồng Trăn, Kẻ Chẻo (cụ thể trước là từ đội 1-10 xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An cũ), Đông Vực cày cấy được hai vụ mùa xanh tốt. Đồng thời ông cho lập làng mới như làng Kẻ Bạch, Bên ao (xã Thanh Tùng cũ), Kẻ Xá, Bạch Xá nay là xã Bích Hào và Kim Bảng thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay.[1]

Với bản tính cẩn trọng, khôn khéo, ông điều tra, xét hỏi các vụ việc liên quan đến bộ máy nhà nước phong kiến. Với ông “có tề gia, mới trị quốc”. Bọn nịnh thần quan lại tham nhũng, ức hiếp dân lành phải đem ra xử trảm làm gương, trả lại cuộc sống thanh bình cho trăm họ. Là một người chính trực, cùng các tướng sĩ đánh giặc ở nhiều nơi, Phan Nhân Tường được quân sĩ kính trọng, vua quan tin cậy. Trải qua các đời vua từ Lê Trang Tông đến Lê Thế Tông, ông đều tận tụy hết lòng, những mong đem thái bình cho đất nước, chấm dứt cảnh nồi da nấu thịt để nhân dân yên bề làm ăn.[1]

Với việc nước, ông khuyên chúa Trịnh Tông thế yếu thì hòa hoãn để lo quốc sách. Với nhà Mạc cùng ngôi nổi loạn, trái với lẽ trời, gây nạn binh đao, ông tham gia bày mưu hiến kế, cùng các tướng sĩ đánh diệt giặc Mạc ở xứ Hải Dương, Thanh Hóa. Phan Nhân Tường rất coi trọng nhân tài, biết động viên khuyến khích mọi người, mọi giới đồng lòng dốc sức đánh giặc. Là một người chính trực, cùng các tướng sĩ đánh giặc ở nhiều nơi, Phan Nhân Tường được quân sĩ kính trọng, vua quan tin cậy. Trải qua các đời vua từ Lê Trang Tông đến Lê Thế Tông, ông đều tận tụy hết lòng, những mong đem thái bình cho đất nước, chấm dứt cảnh nồi da nấu thịt để nhân dân yên bề làm ăn.[18]

Năm Bính Tý 1576 ở xứ Nghệ đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh lớn giữa Nam triều và Bắc triều, Mạc Kính Điển đã đánh cướp xứ Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay: "Tiết chế Trịnh Tùng sai Phan Nhân Tường, cùng các tướng đánh bên tả, bên hữu, tất cả đều có kỷ luật. Tướng sĩ hăng hái gươm giáo sáng trời, gắng sức đồng thanh đều thề phá giặc".[20]

Là tướng sĩ thấy cảnh binh đao, dân tình khổ ải, Phan Nhân Tường luôn sát cánh cùng Tấn Quận Công, Nguyễn Cảnh Hoan và những người bạn đồng hương Thanh Chương (cũ) như Nguyễn Duy Hiền (Hoa Ổ) lập được nhiều chiến công "Phan Nhân Tường đã cùng Nguyễn Cảnh Kiên (con trai Nguyễn Cảnh Hoan) tiến công bắt được Nguyễn Quyện ở Cầu Dền Hà".[21]

Trong trận quyết chiến này, Phan Nhân Tường đã anh dũng hy sinh ngày 02/9/1576, để lại lòng thương tiếc cho tướng sĩ và nhân dân. Cuộc đời và sự nghiệp của ông được lưu truyền trong nhân dân, tiếng thơm còn vang mãi. Từ một con người thông minh, học giỏi, ông đã cùng dân làng khai hoang tạo dựng quê hương rồi đỗ đạt trong cảnh loạn ly. Ông làm quan 30 năm dưới 4 triều vua, một lòng vì nước vì dân. Lúc sống là một chân tướng có tài, thác trở thành phúc thần cho dân cho nước. Con người và sự nghiệp của ông đã được nhân dân tôn vinh lên thành huyền thoại và tôn thờ đến ngày nay[18]

Di tích

Ông được thờ cúng tại nhà thờ họ Phan tại nhiều nơi như xóm 1, xã Thanh Hà[22], huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Xóm Minh Sơn, xã Thanh Tùng (nay là xóm 1 xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An); Làng Đa Phúc, xã Bắc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (nay là xã Quan Thành, tỉnh Nghệ An); xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nam Đàn) và nhiều nơi khác. Ngoài ra nhân dân còn lập đền thờ ông, đền thờ ông có nhiều tên gọi khác nhau như Miếu Nhân Thành , Đền Nhân Thành, Đền Đức Thánh Thẩm Hình, tại làng Tiên Cầu, (nay là xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An), đền thờ ông và đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Tiến Tài, di tích lịch sử văn hóa quốc gia chung một lối đi.[23]

Đền Thẩm hình tại xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An là ngôi đền linh thiêng bậc nhất Xứ Nghệ

Đền Đức Thánh Thẩm Hình  có 3 toà là Hạ - Trung - Thượng điện, toạ lạc trên một khu đất đẹp, nhìn ra dòng sông nhỏ. Thượng điện là ngôi nhà 2 gian còn nguyên nét cổ, trên bức đại tự ghi 4 chữ Hán: Danh Sắc Thiên Cổ (tiếng thơm muôn đời). Trước mặt đền là một hồ sen thoáng rộng, ngát hương. Trải qua hàng trăm năm với nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đền đã có diện mạo như ngày hôm nay. Tại đền hiện còn lưu giữ được nhiều đồ tế khí cổ kính, 13 sắc phong của các triều đại phong kiến ban cấp cho đền và các di tích trong làng, 7 bản khắc gỗ cổ…[23]

Di tích lịch sử văn hóa Tiến sĩ Phan Nhân Tường tại xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An (trước đây là xóm 1, xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)

Đền Thẩm Hình, từ bao đời nay đã là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của người dân Tiên Cầu và vùng lân cận. Trước đền, dưới hồ sen là khu đất nhô cao giống hình nghiên mực, đối diện bên kia hói Nậy là dải đất kéo dài như hình chiếc bút. Người dân địa phương quan niệm, "núi bút, non nghiên" là những hình ảnh tượng trưng cho truyền thống hiếu học của làng. Cạnh "non nghiên" còn có bến Bút, là bến nước cổ xưa. Để lưu giữ nét đẹp cổ xưa đã đi vào huyền tích, năm 2012 dân làng đã xây dựng lại bến Bút, tạo lan can, bậc lên xuống sạch đẹp, khang trang.[23]

Sách Thanh Chương huyện chí  của Bùi Dương Lịch, mục Cổ kim vựng sự chí chép về thần tích đền Nhân Thành: "Thần là Phan Nhân Tường làm Tri thẩm hình viện. Tạ thế lúc đang tại chức, hồn nhập vào pho tượng trôi trên sông".[24]

Một hôm tượng áp sát bên một chiếc thuyền buôn, quanh quẩn mãi không đi. Người chủ nhà buôn khấn "Mộ vị mộ thần, xin phù hộ buôn bán được lời lãi nhanh chóng gấp bội. Được như nguyện, xin lập bàn thờ đầu thuyền phụng sự. Quả nhiên, thương nhân đạt được những điều cầu khẩn. Như đã hứa trước, thuyền theo hướng gió về tới cửa biển Nghệ An. Nhà buôn lại khấn "Thần ở xã nào, huyện nào, xin cho gió chỉ? Thương thuyền bèn theo gió ngược dòng tới bến Nhân Thành dừng lại.[24]

Dân xã rước tượng lên, lập đền thờ làm bằng lán lợp cỏ. Trẻ chăn trâu không biết, buộc trâu vào cánh tay tượng đá. Trâu chết dịch nhiều. Xã dân cầu đảo thì được yên, bèn sửa sang lại miếu. Hiện nay pho tượng này vẫn còn được lưu giữ tại đền Nhân Thành (làng Tiên Cầu, xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, cách thành phố Vinh 40 km về phía Tây).[24]

Gian trong thượng điện Đền thẩm hình đang thờ 1 tảng "đá thiêng" mang hình thù lạ. Theo ban quản lý đền, tảng đá này có từ lúc lập đền. Ngoài phần nổi cao khoảng 0,8m, còn có phần âm sâu khoảng 0,7m. Tương truyền dưới tảng đá là phần mộ Tiễn sĩ Phan Nhân Tường.

Ngoài ra, tại một số nơi thờ cúng Tiến sĩ Phan Nhân Tường còn lưu giữ một số câu đối cổ như:[25]

Lê Nguyên Hòa thập tứ niên tiến sĩ; Hoàng xá xã thiên vạn đại phúc thần. Dịch nghĩa: Tiến sĩ Lê Nguyên Hòa năm thứ 14; Phúc thần xã Hoàng Xá được thờ muôn đời.

Có biển gỗ khắc ghi công trạng của Phan Nhân Tường năm 1758 với nội dung như sau: "Bài thơ trên bia đá xanh, một triều đại còn ghi rõ: ở Nhân Thành đã có miếu thờ quan Tri Thẩm hình làm trách nhiệm quốc gia giao phó ở nơi xa. Phan Tướng Công được thăng làm phúc thần, giết giặc Mạc phò trợ cho vua Lê, nổi tiếng một trung hưng danh tiếng" (nội dung này từ bản dịch của của ông Phạm Gia Hào, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An).[26]

Vinh danh

Đường Phan Nhân Tường bắt đầu từ số nhà 25, đường Nguyễn Trường Tộ

Để ghi nhận công lao và đóng góp của ông, nhà thờ và mộ Tiến sĩ Phan Nhân Tường đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh vào ngày 30 tháng 4 năm 2000.[18]

Theo Quyết định số 017/QĐ.UBND.VX ngày 1 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phân cấp quản lý các di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh, toàn tỉnh có 1.395 di tích và danh thắng. Trong đó, cấp tỉnh trực tiếp quản lý 17 di tích; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã quản lý 239 di tích, danh thắng; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn quản lý 1.139 di tích, danh thắng. Tại huyện Thanh Chương (cũ), tổng số di tích, danh thắng là 201, trong đó có 21 di tích đã được xếp hạng (gồm 11 di tích cấp quốc gia và 10 di tích cấp tỉnh). Không có di tích do cấp tỉnh trực tiếp quản lý; cấp huyện quản lý 22 di tích, danh thắng và cấp xã quản lý 179 di tích, danh thắng. Trong số này, nhà thờ và mộ Phan Nhân Tường tại xóm 1, xã Thanh Hà (nay là xã Kim Bảng) được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh và giao cho Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương (cũ) trực tiếp quản lý.[27]

Điểm cuối đường Phan Nhân Tường, tại phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An, giao nhau ngõ 25 đường Trần Nhật Duật.

Ông được đặt tên đường tại phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An theo Nghị Quyết số 13/2024/NQ-HĐND ngày 11/07/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An. Đường Phan Nhân Tường nối 2 phường Đội Cung và Đông Vĩnh cũ (nay hai phường này sát nhập lại gọi là phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An), bắt đầu từ số nhà 25, đường Nguyễn Trường Tộ đến Ngõ số 25, đường Trần Nhật Duật (dọc theo đường tàu hỏa), có chiều dài 600 m, chiều rộng 7 m.[28]

Điểm bắt đầu đường Phan Nhân Tường tại xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An (thị trấn Dùng, huyện Thanh Chương cũ).

Ngoài ra, tên của ông được đặt cho một tuyến đường tại xã Đại Đồng theo Nghị quyết số 27/2020/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành ngày 13 tháng 12 năm 2020. Đường Phan Nhân Tường tại xã Đại Đồng có điểm đầu tại điểm cuối đường Nguyễn Sỹ Sách - Tôn Gia Tĩnh (khối 2A, thị trấn Dùng cũ), kéo dài khoảng 550 m, mặt đường bê tông rộng 6,5 m, và kết thúc tại điểm nối với tuyến đường đi xã Thanh Đồng (cũ), thuộc khối 2A, khu vực thị trấn Dùng (cũ), nay là xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An.[29].

Lễ hội

Hàng năm vào ngày mùng 6 tháng giêng âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức lễ khai Xuân tại đền Đức Thánh Thẩm Hình. Đây là ngày lễ trọng đại, nhân dân khắp nơi về dự lễ để cầu mong một năm mới quốc thái dân an, mọi người được bình an, khỏe mạnh, no ấm, hạnh phúc và thành đạt.[23]

Ngoài ra vào ngày 20 tháng giêng hàng năm, (nay là xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An) còn phối hợp với các dòng họ tiêu biểu và nhân dân lần đầu tổ chức lễ hội Di tích lịch sử quốc gia Đình Bích Thị". Đây là hoạt động tâm linh nhằm tri ân nhị vị quận công Trần Hưng Học và Trần Hưng Nhượng; 15 văn quan, võ tướng, quận công qua các thời kì như Phan Nhân Tường, Nguyễn Đình Cổn, Nguyễn Tiến Tài, Phạm Kinh Vỹ, Nguyễn Lâm Thái,… và 159 anh hùng liệt sỹ của địa phương.[30]

Chú thích

  1. ^ a b c d e f Chương, Thanh (ngày 5 tháng 10 năm 2021). "Các vị đại khoa Thanh Chương.- Tiến sỹ Phân Nhân Tường". thanhchuong.nghean.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026.
  2. ^ Sách "Đông yên nhị huyện đăng khoa phổ"
  3. ^ a b Nội dung khắc trên bia đá tại Đình Võ Liệt, xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An
  4. ^ a b "Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường (Thanh Hóa): Giờ chỉ còn là phế tích!". VOV.VN. ngày 29 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  5. ^ a b c d Lịch sử xã Xuân Châu, NXB Thanh Hoá, 2004, tr.32-33
  6. ^ Sách: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, phần Bản kỷ Tục biên,  Quyển XVI (16), chương về vua Lê Trang Tông.
  7. ^ Sách: Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Chính biên): Quyển 27
  8. ^ Sách: Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú): Phần Khoa mục chí
  9. ^ "Về những sắc phong sưu tầm được ở Nghệ An".
  10. ^ "Khám phá ngôi đền thiêng lưu giữ hơn 20 bản sắc phong cổ".
  11. ^ Bản dịch nghĩa sắc phong Vua Thiệu Trị ghi nhận công lao của Tiến sĩ Phan Nhân Tường, sắc ban hành Ngày 20 tháng 5 năm thứ 4 niên hiệu Thiệu Trị. Bản cứng sắc phong vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn tại Đền Thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An.
  12. ^ a b Sắc Cảnh Thịnh: Bản dịch sắc cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường, bản cứng đang được lưu giữ bản gốc tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An
  13. ^ "Sắc Thành Thái, sắc phong cho Phan Nhân Tường, sắc phong được lưu giữ tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An".
  14. ^ Bản dịch sắc Duy Tân cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường, bản cứng đang được lưu giữ tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An
  15. ^ Bản dịch sắc Khải Định cho Tiến sĩ Phan Nhân Tường, bản cứng đang được lưu giữ tại Đền thẩm hình, xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An
  16. ^ Sách: Đông yên nhị huyện đăng khoa phổ.
  17. ^ "Quan chế nhà Lê sơ", Wikipedia tiếng Việt, ngày 23 tháng 11 năm 2025, truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026
  18. ^ a b c d e f g h Trích trong tài liệu lưu trữ tại Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An
  19. ^ An, Đảng bộ tỉnh Nghệ (ngày 3 tháng 10 năm 2025). "Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XX, nhiệm kỳ 2025-2030". nghean.dcs.vn. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  20. ^ Đại Việt sử ký toàn thư. NXB KHXH, Hà Nội 1973, tr.184
  21. ^ Hoan Châu Ký (Nguyễn Cảnh Thị). NXB KHXH Hà Nội năm 1998, trang 76.
  22. ^ QUYẾT ĐỊNH: Phân cấp quản lý các di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Ban hành kèm theo Quyết định số 1017/QĐ-UBND.VX ngày 01/4/2011 của UBND tỉnh Nghệ An)
  23. ^ a b c d "Đền Thẩm Hình", Wikipedia tiếng Việt, ngày 28 tháng 12 năm 2025, truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026
  24. ^ a b c Bùi Dương Lịch, Thanh Chương huyện chí, biên dịch Bùi Văn Chất, Nhà xuất bản Nghệ An, 2008
  25. ^ Lưu giữ tại xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An
  26. ^ Biển gỗ lưu giữ tại Đền thẩm hình
  27. ^ Quyết định Số: 017/QĐ.UBND.VX ngày 1 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An.
  28. ^ "Nghị quyết Về việc đặt tên đường và điều chỉnh chiều dài các tuyến đường trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đợt VII, Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An, Khóa XVIII, kỳ họp thứ 21".
  29. ^ "Nghị quyết số 27/2020/NQ-HĐND ngày 13 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An: về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An" (PDF).
  30. ^ "Thanh Chương lần đầu tổ chức lễ hội tại Di tích lịch sử đình Bích Thị". dev.ipc.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026.