Bước tới nội dung

Tác chiến hàng hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tác chiến hàng hải (hay chiến tranh hàng hải) là giao tranh ở và trên mặt biển, đại dương hoặc bất kỳ không gian tác chiến nào liên quan đến các vùng nước lớn như hồ rộng hoặc sông lớn.

Chủng loại lực lượng vũ trang được giao nhiệm vụ tác chiến hải quân là Hải quân. Các chiến dịch hải quân có thể được chia thành các ứng dụng sông ngòi/cận duyên (hải quân sông ngòi), ứng dụng đại dương rộng lớn (hải quân đại dương), và khu vực trung gian giữa sông ngòi/cận duyên với đại dương (hải quân cận duyên), mặc dù sự phân biệt này mang tính phạm vi chiến lược nhiều hơn là sự phân chia theo chiến thuật hay chiến dịch. Mục đích tấn công chiến lược của tác chiến hải quân là phô diễn lực lượng qua đường thủy, và mục đích phòng thủ chiến lược của nó là ngăn chặn đợt phô diễn lực lượng tương tự từ kẻ thù.

Lịch sử

Loài người đã tiến hành các trận chiến trên biển trong hơn 3.000 năm.[1] Ngay cả ở sâu trong các lục địa lớn, việc vận chuyển trước khi xuất hiện hệ thống đường sắt rộng khắp chủ yếu phụ thuộc vào sông, hồ, kênh đào và các tuyến đường thủy nội địa có thể qua lại được.

Các tuyến đường thủy nội địa có vai trò quyết định trong sự phát triển của thế giới hiện đại tại Vương quốc Anh, Mỹ, Vùng đất thấpmiền bắc nước Đức, vì chúng cho phép di chuyển hàng hóa và nguyên liệu thô khối lượng lớn, nâng đỡ cho cuộc Cách mạng Công nghiệp mới sơ khai. Trước năm 1750, nguyên vật liệu chủ yếu được di chuyển bằng sà lan sông hoặc tàu biển. Do đó, các đạo quân với nhu cầu khổng lồ về lương thực, đạn dược và cỏ khô cho ngựa đều bị gắn chặt với các thung lũng sông qua suốt các thời kỳ.

Lịch sử tiền sử (Các huyền thoại Homer, ví dụ như Troy) và các tác phẩm cổ điển như Odyssey đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của biển cả. Đế quốc Ba Tư, dù thống nhất và hùng mạnh, vẫn không thể khuất phục được sức mạnh của hạm đội Athens kết hợp với các thành quốc nhỏ hơn trong nhiều nỗ lực chinh phục các thành quốc Hy Lạp. Sức mạnh của PhoeniciaAi Cập, của Carthage và thậm chí là La Mã phụ thuộc phần lớn vào việc kiểm soát biển cả.

Cộng hòa Venezia cũng đã thống trị các thành quốc của Ý, cản bước Đế quốc Ottoman, và chi phối thương mại trên Con đường tơ lụa cùng Địa Trung Hải nói chung trong nhiều thế kỷ. Trong ba thế kỷ, người Viking đã cướp phá và chinh phạt sâu vào vùng trung tâm Nga và Ukraine, thậm chí đến tận Constantinople xa xôi (thông qua các nhánh sông đổ ra Biển Đen, Sicilia và qua Eo biển Gibraltar).

Việc giành quyền kiểm soát biển cả phụ thuộc phần lớn vào khả năng tiến hành các trận hải chiến của hạm đội. Trong hầu hết lịch sử hải quân, tác chiến hải quân xoay quanh hai mối quan tâm bao trùm, đó là đổ bộ lên tàu đối phương và chống đổ bộ. Chỉ đến cuối thế kỷ 16, khi công nghệ thuốc súng đã phát triển đến một mức độ đáng kể, trọng tâm chiến thuật trên biển mới chuyển sang các loại hỏa lực pháo hạng nặng.[2]

Nhiều trận hải chiến qua lịch sử cũng cung cấp nguồn xác tàu đắm đáng tin cậy cho khảo cổ học dưới nước. Một ví dụ điển hình là việc khám phá xác các loại tàu chiến khác nhau ở Thái Bình Dương.

Địa Trung Hải

Bản mẫu:More citations needed section

Tập tin:Seevölker.jpg
Khắc họa trên tường một ngôi đền Ai Cập cho thấy chiến thắng kết hợp cả trên bộ lẫn trên biển của Ramesses trong Trận Delta.

Trận hải chiến đầu tiên được ghi nhận là Trận Delta, nơi người Ai Cập cổ đại đã đánh bại Tộc người Biển trong một trận chiến trên biển vào k. 1175 TCN.[3] Theo ghi chép trên các bức tường đền thờ thuộc ngôi đền tưởng niệm của pharaoh Ramesses III tại Medinet Habu, đợt tấn công này đã đẩy lùi một cuộc xâm lược bằng đường biển quy mô lớn gần bờ biển phía đông đồng bằng sông Nile bằng cách phục kích trên biển và sử dụng các xạ thủ bắn cung từ cả trên tàu lẫn trên bờ.

Các phù điêu của người Assyria từ thế kỷ 8 TCN cho thấy các chiến thuyền của người Phoenicia với hai tầng mái chèo, binh sĩ chiến đấu trên một loại cầu hoặc sàn phía trên những người chèo thuyền, và một loại mũi thúc nhô ra từ mũi tàu. Không có tài liệu ghi chép nào về chiến lược hoặc chiến thuật thời kỳ này còn tồn tại.

Flavius Josephus (Antiquities IX 283–287) ghi lại một trận hải chiến giữa Tyre và vua Assyria, người được hỗ trợ bởi các thành phố khác ở Phoenicia. Trận chiến diễn ra ngoài khơi Tyre. Mặc dù hạm đội Tyre nhỏ hơn nhiều, người Tyria vẫn đánh bại kẻ thù của họ.

Một chiến thuyền trireme của Hy Lạp cổ đại

Người Hy Lạp thời Homer chỉ sử dụng tàu thuyền làm phương tiện vận chuyển cho quân đội trên bộ, nhưng vào năm 664 TCN đã có đề cập đến một trận chiến trên biển giữa Corinth và thành phố thuộc địa Corcyra của nó.

Các mô tả cổ đại về Chiến tranh Ba Tư là những tài liệu đầu tiên trình bày các chiến dịch hải quân quy mô lớn, không chỉ là các đụng độ hạm đội tinh vi với hàng chục chiến thuyền trireme ở mỗi bên, mà còn là các chiến dịch kết hợp bộ-hải. Ít có khả năng tất cả những điều này là sản phẩm của một cá nhân hay thậm chí là của một thế hệ; nhiều khả năng thời kỳ tiến hóa và thử nghiệm chỉ đơn giản là không được lịch sử ghi chép lại.

Sau một số trận đánh ban đầu trong quá trình khuất phục người Hy Lạp ở bờ biển Ionia, người Ba Tư quyết định xâm lược chính quốc Hy Lạp. Themistocles của Athens ước tính rằng người Hy Lạp sẽ bị người Ba Tư áp đảo về số lượng trên bộ, nhưng Athens có thể tự bảo vệ mình bằng cách xây dựng một hạm đội (khái niệm "bức tường gỗ" nổi tiếng), sử dụng lợi nhuận từ các mỏ bạc tại Laurium để tài trợ.

Chiến dịch đầu tiên của Ba Tư vào năm 492 TCN đã bị hủy bỏ vì hạm đội bị đắm trong một trận bão, nhưng chiến dịch thứ hai vào năm 490 TCN đã chiếm được các hòn đảo ở biển Aegean trước khi đổ bộ lên đất liền gần vị trí diễn ra Trận Marathon. Các cuộc tấn công của quân đội Hy Lạp đã đẩy lùi đợt tiến quân này.

Tập tin:Battle of Salamis, 480 BC.png
Chiến lược quân sự được các lực lượng hải quân Hy Lạp và Ba Tư sử dụng trong Trận Salamis.

Chiến dịch thứ ba của Ba Tư vào năm 480 TCN dưới thời Xerxes I, nối tiếp mô hình của chiến dịch thứ hai khi cho lục quân hành quân qua Hellespont trong khi hạm đội di chuyển song song ngoài khơi. Gần vị trí diễn ra Trận Artemisium, trong eo biển hẹp giữa đất liền và Euboea, hạm đội Hy Lạp đã chống đỡ nhiều đợt tấn công của người Ba Tư; người Ba Tư đã chọc thủng tuyến đầu tiên nhưng sau đó bị tuyến tàu thứ hai đánh tạt sườn. Tuy nhiên, thất bại trên bộ tại Trận Thermopylae đã buộc người Hy Lạp phải rút lui, và Athens đã sơ tán dân cư sang Đảo Salamis lân cận.

Trận Salamis diễn ra sau đó là một trong những trận đánh quyết định của lịch sử. Themistocles đã dụ người Ba Tư vào một eo biển quá hẹp khiến họ không thể phát huy ưu thế về số lượng, rồi tấn công dữ dội, cuối cùng gây thiệt hại 200 tàu Ba Tư so với 40 tàu của Hy Lạp. Aeschylus đã viết một vở kịch về thất bại này mang tên Người Ba Tư, được công chiếu trong một cuộc thi kịch của Hy Lạp vài năm sau trận đánh. Đây là vở kịch lâu đời nhất còn tồn tại được biết đến. Cuối cùng, Xerxes vẫn còn một hạm đội mạnh hơn người Hy Lạp nhưng vẫn quyết định rút lui, và sau khi thua tại Trận Plataea vào năm sau, ông đã trở về Tiểu Á, trả lại do tự do cho người Hy Lạp. Mặc dù vậy, người Athens và Sparta vẫn tấn công và đốt cháy hạm đội Ba Tư đang neo đậu tại Trận Mycale, giải phóng nhiều thị trấn ở Ionia. Các trận đánh này sử dụng trireme hoặc bireme làm nền tảng chiến đấu tiêu chuẩn, và trọng tâm của trận chiến là dùng mũi tàu bọc thép thúc mạnh vào tàu đối phương. Đối phương sẽ tìm cách diễn tập để tránh va chạm, hoặc ngược lại, tập trung toàn bộ thủy binh sang bên hông sắp bị đâm để làm nghiêng tàu. Khi mũi thúc rút ra và thủy binh giải tán, lỗ hổng sẽ nằm trên mực nước biển và không gây tổn hại chết người cho tàu.

Trong năm mươi năm tiếp theo, người Hy Lạp làm chủ vùng biển Aegean, nhưng không hòa thuận. Sau nhiều cuộc chiến nhỏ, căng thẳng bùng nổ thành Chiến tranh Peloponnese (431 TCN) giữa Liên minh Delian của Athens và lực lượng Peloponnese của Sparta. Chiến lược hải quân mang tính quyết định; Athens tự bao bọc mình khỏi phần còn lại của Hy Lạp, chỉ để lại cảng Piraeus mở cửa, và tin tưởng vào hải quân để duy trì nguồn tiếp tế trong khi quân đội Sparta bao vây họ. Chiến lược này đã phát huy hiệu quả, mặc dù không gian chật hẹp có thể đã góp phần gây ra trận dịch bệnh làm chết nhiều người Athens vào năm 429 TCN.

Đã có một số trận hải chiến giữa các loại thuyền chèo (galley); tại Rhium, Naupactus, Pylos, Syracuse, Cynossema, Cyzicus, Notium. Nhưng kết cục đã đến với Athens vào năm 405 TCN tại Trận AegospotamiHellespont, nơi người Athens kéo hạm đội của họ lên bãi biển và bị bất ngờ bởi hạm đội Sparta, những người đã đổ bộ và đốt cháy toàn bộ tàu thuyền. Athens đầu hàng Sparta vào năm sau.

Tập tin:D473-birème romaine-Liv2-ch10.png
Một thuyền chiến bireme của La Mã được thể hiện trong một bức phù điêu từ Đền thờ thần FortunaPraeneste (Palastrina),[4] được xây dựng c. 120 TCN;[5] trưng bày tại Bảo tàng Pius-Clementine thuộc Bảo tàng Vatican.

Hải quân đóng một vai trò lớn trong các cuộc chiến phức tạp của những người kế vị Alexander Đại đế.[6]

Cộng hòa La Mã chưa bao giờ là một quốc gia đi biển, nhưng họ đã phải học hỏi. Trong các cuộc Chiến tranh Punic với Carthage, người La Mã đã phát triển kỹ thuật móc và đổ bộ lên tàu đối phương. Hải quân La Mã lớn dần lên khi La Mã dính dấp sâu hơn vào chính trị Địa Trung Hải; đến thời kỳ Nội chiến La MãTrận Actium (31 TCN), hàng trăm con tàu đã tham gia, nhiều trong số đó là các thuyền quinquereme có gắn máy bắn đá và tháp chiến đấu. Sau khi Hoàng đế Augustus biến Cộng hòa thành Đế quốc La Mã, La Mã đã giành quyền kiểm soát hầu hết Địa Trung Hải. Không còn kẻ thù trên biển đáng kể nào, Hải quân La Mã thu hẹp phần lớn thành nhiệm vụ tuần tra chống cướp biển và vận tải. Chỉ ở vùng biên giới của Đế chế, tại các tỉnh mới chiếm được hoặc trong các sứ mệnh phòng thủ chống lại các cuộc xâm lược của người man rợ, hải quân mới thực sự tham gia vào chiến tranh thực sự.

Châu Âu, Tây Á và Bắc Phi

Mặc dù các cuộc xâm lược của người man di từ thế kỷ 4 về sau chủ yếu diễn ra trên bộ, vẫn có những ví dụ đáng chú ý về các cuộc xung đột hải quân được ghi nhận. Vào cuối thế kỷ 3, dưới thời Hoàng đế Gallienus, một lực lượng đột kích lớn gồm người Goth, Gepid và Heruli đã xuất phát từ Biển Đen, tàn phá bờ biển Anatolia và Thrace, rồi tiến vào Biển Aegean, cướp phá đất liền Hy Lạp (bao gồm cả Athens và Sparta) và đến tận Crete và Rhodes. Trong thời kỳ suy tàn của Đế quốc La Mã vào cuối thế kỷ 4, các ví dụ bao gồm nỗ lực của Hoàng đế Majorian, người với sự trợ giúp của Constantinople đã tập hợp một hạm đội lớn nhưng thất bại trong việc đánh đuổi những kẻ xâm lược Germanic khỏi các lãnh thổ châu Phi vừa bị chiếm đóng và thất bại của hạm đội người Ostrogoth tại Sena Gallica trên Biển Adriatic.

Trong cuộc chinh phục của người Hồi giáo vào thế kỷ 7, các hạm đội Hồi giáo lần đầu tiên xuất hiện, cướp phá Sicilia vào năm 652, và đánh bại Hải quân Byzantine vào năm 655. Constantinople đã được cứu khỏi cuộc bao vây kéo dài của người Ả Rập vào năm 678 nhờ việc phát minh ra Lửa Hy Lạp, một dạng sơ khai của súng phun lửa gây sức tàn phá khủng khiếp đối với các con tàu của hạm đội bao vây. Đây là cuộc đụng độ đầu tiên trong nhiều cuộc chạm trán sau đó trong Chiến tranh Byzantine–Ả Rập.

Thế giới Hồi giáo đã trở thành cường quốc hải quân thống trị ở Địa Trung Hải từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13, trong thời kỳ được gọi là Thời đại hoàng kim của Hồi giáo. Một trong những phát minh quan trọng nhất trong chiến tranh hải quân thời Trung cổ là ngư lôi, được nhà phát minh người Ả Rập Hasan al-Rammah sáng chế tại Syria vào năm 1275. Quả ngư lôi của ông chạy trên mặt nước nhờ một hệ thống tên lửa chứa đầy vật liệu thuốc nổ và có ba điểm khai hỏa. Đây là một vũ khí hiệu quả chống lại các con tàu.[7]

Vào thế kỷ 8, người Viking xuất hiện, mặc dù phong cách thông thường của họ là xuất hiện nhanh chóng, cướp phá và biến mất, ưu tiên tấn công những nơi không có phòng thủ. Người Viking đã tấn công các địa điểm dọc theo bờ biển Anh và Pháp, trong đó mối đe dọa lớn nhất là ở Anh. Họ cướp phá các tu viện vì sự giàu có và thiếu những lực lượng phòng thủ. Họ cũng tận dụng sông ngòi và các tuyến đường thủy phụ khác để tiến sâu vào nội địa trong cuộc xâm lược Anh sau đó. Họ gây ra tàn phá ở Northumbria, Mercia và phần còn lại của Anglia trước khi bị Wessex chặn đứng. Vua Alfred Đại đế của Anh đã có thể ngăn chặn các cuộc xâm lược của người Viking bằng một chiến thắng then chốt tại Trận Edington. Alfred đã đánh bại Guthrum, thiết lập ranh giới của vùng Danelaw trong một hiệp ước năm 884. Hiệu quả của 'hạm đội' Alfred vẫn còn gây tranh cãi; Kenneth Harl đã chỉ ra rằng chỉ có khoảng 11 con tàu được gửi đi để chiến đấu với người Viking, trong đó chỉ có 2 chiếc không bị đánh lùi hoặc bị bắt.

Trận hải chiến Sluys, 1340, từ cuốn Chronicles của Jean Froissart

Người Viking cũng tiến hành nhiều trận hải chiến với nhau. Điều này thường được thực hiện bằng cách buộc các con tàu ở mỗi bên lại với nhau, về bản chất là tiến hành một trận chiến trên bộ ngay trên mặt biển.[1] Tuy nhiên, việc bên thua không thể chạy trốn đồng nghĩa với việc các trận đánh có xu hướng diễn ra ác liệt và đẫm máu. Trận Svolder có lẽ là trận đánh nổi tiếng nhất trong số các trận chiến này.

Khi sức mạnh của người Hồi giáo ở Địa Trung Hải bắt đầu suy yếu, các thị trấn thương mại của Ý như Genoa, PisaVenice đã nhảy vào nắm bắt cơ hội, thiết lập các mạng lưới thương mại và xây dựng lực lượng hải quân để bảo vệ chúng. Ban đầu, các hạm đội chiến đấu với người Ả Rập (ngoài khơi Bari năm 1004, tại Messina năm 1005), nhưng sau đó họ thấy mình phải đối đầu với người Norman đang tiến vào Sicilia, và cuối cùng là với nhau. Người Genoa và người Venice đã trải qua bốn cuộc chiến tranh hải quân vào các năm 1253–1284, 1293–1299, 1350–1355 và 1378–1381. Cuộc chiến cuối cùng kết thúc với chiến thắng quyết định của người Venice, mang lại cho họ gần một thế kỷ thống trị thương mại Địa Trung Hải trước khi các quốc gia châu Âu khác bắt đầu mở rộng xuống phía nam và phía tây.

Ở phía bắc Châu Âu, cuộc xung đột gần như liên tục giữa Anh và Pháp đặc trưng bởi các cuộc đột kích vào các thị trấn ven biển và cảng dọc theo đường bờ biển cùng việc đảm bảo các tuyến đường biển để bảo vệ các tàu vận tải chở quân. Trận Dover năm 1217, giữa hạm đội Pháp gồm 80 tàu dưới sự chỉ huy của Eustace the Monk và hạm đội Anh gồm 40 tàu dưới sự chỉ huy của Hubert de Burgh, đáng chú ý là trận chiến đầu tiên được ghi nhận sử dụng các chiến thuật thuyền buồm. Trận Arnemuiden (23 tháng 9 năm 1338), vốn kết thúc với chiến thắng của Pháp, đã đánh dấu sự mở đầu của Chiến tranh Trăm Năm và là trận chiến đầu tiên có sự tham gia của pháo binh.[8] Tuy nhiên, Trận Sluys, diễn ra hai năm sau đó, đã chứng kiến sự hủy diệt của hạm đội Pháp trong một hành động quyết định cho phép người Anh kiểm soát hiệu quả các tuyến đường biển và nắm thế chủ động chiến lược trong phần lớn cuộc chiến.

Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á

Tập tin:Javanese junk and Nanking junk.jpg
Một thuyền nhông (junk) Java và một thuyền nhông Nam Kinh.
Tập tin:Radpaddelsch.jpg
Một con thuyền bánh guồng của Trung Quốc, trích từ một cuốn bách khoa toàn thư thời Nhà Thanh xuất bản năm 1726
Mô hình thế kỷ 17 của thuyền "Mông đồng" Việt Nam. Con thuyền có vẻ được đẩy bởi khoảng hai mươi mái chèo và được trang bị một khẩu súng thần công lớn (bombard) cùng một khẩu súng thần công nhỏ hơn (culverin). Phần mái được ghi nhận là được bảo vệ khỏi các vật phóng bằng da hoặc các tấm đồng.

Các triều đại Tùy (581–618) và Đường (618–907) của Trung Quốc đã tham gia vào nhiều hoạt động hải quân đối với ba thực thể chính trị cai trị Triều Tiên thời Trung cổ (Tam Quốc Triều Tiên), cùng với việc tham gia các đợt bắn phá từ biển vào bán đảo từ Vương quốc Yamato (Thời kỳ Asuka) của Nhật Bản.

Nhà Đường đã viện trợ cho vương quốc Tân La của Triều Tiên (xem thêm Tân La Thống nhất) và trục xuất vương quốc Bách Tế vốn được các lực lượng hải quân Nhật Bản hỗ trợ khỏi bán đảo Triều Tiên (xem Trận Bạch Giang), giúp Tân La đánh bại các vương quốc Triều Tiên đối thủ là Bách Tế và Cao Câu Ly vào năm 668. Ngoài ra, nhà Đường còn có các mối quan hệ thương mại hàng hải, triều công và ngoại giao xa đến tận Sri Lanka ngày nay, Ấn Độ, Đế quốc Hồi giáo IranẢ Rập, cũng như SomaliaĐông Phi.

Từ Vương quốc AxumEthiopia ngày nay, nhà hành hương Ả Rập Sa'd ibn Abi-Waqqas đã giương buồm từ đó đến Trung Quốc thời Đường dưới thời Đường Cao Tông. Hai thập kỷ sau, ông trở về với một bản sao của cuốn Kinh Qur'an, thành lập thánh đường Hồi giáo đầu tiên tại Trung Quốc, Thánh đường Hoài Thánh ở Quảng Châu. Sự kình địch gia tăng sau đó giữa người Ả Rập và người Trung Quốc để kiểm soát thương mại ở Ấn Độ Dương. Trong cuốn sách Cultural Flow Between China and the Outside World, Thẩm Phúc Tối lưu ý rằng các thương nhân hàng hải Trung Quốc vào thế kỷ 9 thường xuyên cập bến Sofala ở Đông Phi để loại bỏ các thương nhân trung gian người Ả Rập.[9]

Triều Chola ở Ấn Độ thời Trung cổ là một cường quốc hải quân thống trị ở Ấn Độ Dương, một thực thể thương mại hàng hải và ngoại giao tích cực với nhà Tống (Trung Quốc). Rajaraja Chola I (trị vì 985–1014) và con trai ông là Rajendra Chola I (trị vì 1014–1042), đã cử một cuộc viễn chinh hải quân lớn chiếm đóng nhiều phần của Myanmar, Bán đảo Mã Lai, và Sumatra.

Tập tin:Samudra Raksa Borobudur Ship.jpg
Mô hình kích thước thực của con thuyền Borobudur từ thế kỷ 8 MCN. Con thuyền này đã thực hiện cuộc viễn chinh đến Ghana vào năm 2003–2004, tái hiện lại kỹ năng hàng hải và khám phá của Tam Phật Tề và Mataram.

Tại quần đảo Nusantara, những con tàu đi biển lớn dài hơn 50 m và có mạn tự do cao từ 5,2–7,8 mét đã được sử dụng ít nhất là từ thế kỷ 2 SCN, kết nối Ấn Độ với Trung Quốc.[10]:347[11]:41 Đế quốc Srivijaya từ thế kỷ 7 MCN đã kiểm soát vùng biển phía tây của quần đảo. Bia đá Kedukan Bukit là ghi chép lâu đời nhất về lịch sử quân sự Indonesia, ghi lại hành trình siddhayatra thiêng liêng ở thế kỷ 7 do Dapunta Hyang Sri Jayanasa dẫn đầu. Ông được cho là đã mang theo 20.000 quân, bao gồm 312 người trên thuyền và 1.312 bộ binh.[12]:4 Văn bản tiếng Ả Rập thế kỷ 10 Ajayeb al-Hind (Kỳ quan Ấn Độ) ghi lại một cuộc xâm lược ở Châu Phi của những người được gọi là Wakwak hoặc Waqwaq,[13]:110 có khả năng là người Mã Lai thuộc Srivijaya hoặc người Java thuộc Vương quốc Mataram,[14]:27[15]:39 vào năm 945–946 MCN. Họ đến bờ biển TanganyikaMozambique với 1.000 con thuyền và tìm cách chiếm pháo đài Qanbaloh, dù cuối cùng thất bại. Lý do của cuộc tấn công là vì nơi đó có các mặt hàng phù hợp cho đất nước của họ và Trung Quốc, chẳng hạn như ngà voi, đồi mồi, da báo và long diên hương, đồng thời họ cũng muốn bắt nô lệ da đen từ người Bantu (được người Ả Rập gọi là Zeng hoặc Zanj, người Java gọi là Jenggi)—những người khỏe mạnh và làm nô lệ tốt.[13]:110 Trước thế kỷ 12, Srivijaya chủ yếu là một thực thể chính trị trên bộ hơn là một cường quốc hải quân; các hạm đội có sẵn nhưng đóng vai trò hỗ trợ hậu cần để tạo điều kiện phô diễn sức mạnh trên bộ. Sau đó, chiến lược hải quân của họ thoái hóa thành các hạm đội đột kích. Chiến lược hải quân của họ là ép buộc các tàu thương mại phải cập cảng của mình, nếu bị phớt lờ, họ sẽ cử tàu đến tiêu diệt con tàu và giết chết những người trên tàu.[16][17]

Năm 1293, Nhà Nguyên của người Mông Cổ đã tiến hành một cuộc xâm lược vào Java. Nhà Nguyên đã gửi 500–1.000 con tàu và 20.000–30.000 binh sĩ, nhưng cuối cùng đã bị đánh bại trên bộ bởi một cuộc tấn công bất ngờ, buộc quân đội phải lùi về bãi biển. Trên vùng biển ven bờ, các thuyền mành của người Java đã tấn công các con tàu Mông Cổ. Sau khi toàn bộ quân đội đã lên tàu trên bờ biển, quân đội nhà Nguyên đã chiến đấu với hạm đội Java. Sau khi đẩy lùi được hạm đội này, họ giương buồm trở về Tuyền Châu. Chỉ huy hải quân Java Aria Adikara đã đánh chặn một cuộc xâm lược tiếp theo của người Mông Cổ.[18]:145[15]:107–110 Mặc dù chỉ có ít thông tin, các nhà lữ hành đi qua khu vực này như Ibn BattutaOdoric xứ Pordenone đã lưu ý rằng Java đã bị người Mông Cổ tấn công nhiều lần, và luôn kết thúc bằng thất bại.[19][20] Sau những cuộc xâm lược thất bại đó, Đế quốc Majapahit nhanh chóng phát triển và trở thành cường quốc hải quân thống trị trong thế kỷ 14–15. Việc sử dụng pháo trong cuộc Mông Cổ xâm lược Java,[21]:245 đã dẫn đến việc hạm đội Majapahit triển khai pháo Cetbang vào những năm 1300.[22] Tàu chiến chính của hải quân Majapahit là thuyền jong. Các thuyền jong là những con tàu vận tải lớn có thể chở 100–2.000 tấn hàng hóa và 50–1.000 người, với chiều dài 28,99–88,56 mét.[23]:60–62 Số lượng thuyền jong chính xác được Majapahit triển khai hiện chưa rõ, nhưng số lượng thuyền jong lớn nhất được triển khai trong một cuộc viễn chinh là khoảng 400 thuyền jong, khi Majapahit tấn công Pasai vào năm 1350.[24] Trong thời kỳ này, cho đến tận thế kỷ 17, các thủy binh Nusantara đã chiến đấu trên một bệ nâng trên tàu của họ gọi là balai và thực hiện các hành động áp sát giáp lá cà. Các viên đạn rải bắn ra từ pháo cetbang được sử dụng để chống lại kiểu chiến đấu này bằng cách nhắm trực tiếp vào thuỷ thủ.[21]:241[25]:162

Vào thế kỷ 12, lực lượng hải quân thường trực đầu tiên của Trung Quốc đã được thành lập dưới thời Nhà Nam Tống, với đại bản doanh của Đô đốc đặt tại Định Hải. Điều này diễn ra sau khi miền Bắc Trung Quốc bị người Nữ Chân chiếm đóng (xem Nhà Kim), trong khi triều đình nhà Tống tháo chạy về phía nam từ Khai Phong đến Hàng Châu. Được trang bị la bàn từ tính và kiến thức từ luận thuyết nổi tiếng của Thẩm Quát (về khái niệm cực bắc địa lí), người Trung Quốc đã trở thành những chuyên gia hàng hải thành thạo vào thời của họ. Họ đã nâng cao sức mạnh hải quân từ vỏn vẹn 11 hạm đội với 3.000 thủy binh lên 20 hạm đội với 52.000 thủy binh trong vòng một thế kỷ.

Sử dụng các con thuyền bánh guồngmáy bắn đá phóng bom nhồi thuốc súng từ trên boong tàu, nhà Nam Tống đã trở thành một đối thủ đáng gờm đối với nhà Kim trong các thế kỷ 12–13 trong suốt cuộc Chiến tranh Kim–Tống. Đã có nhiều cuộc đụng độ hải quân diễn ra tại Trận Thái ThạchTrận Đường Đảo.[26][27] Với một lực lượng hải quân hùng mạnh, Trung Quốc cũng thống trị thương mại hàng hải trên khắp Đông Nam Á. Cho đến năm 1279, nhà Tống vẫn có thể sử dụng sức mạnh hải quân của mình để phòng thủ chống lại nhà Kim ở phía bắc, cho đến khi người Mông Cổ cuối cùng chinh phục toàn bộ Trung Quốc. Sau nhà Tống, Nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo tại Trung Quốc là một lực lượng hàng hải hùng mạnh ở Ấn Độ Dương.

Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt đã hai lần nỗ lực xâm lược Nhật Bản với các hạm đội lớn (gồm cả người Mông Cổ và Trung Quốc), vào năm 1274 và một lần nữa vào năm 1281, nhưng cả hai nỗ lực đều thất bại (xem Mông Cổ xâm lược Nhật Bản). Dựa trên những thành tựu công nghệ của nhà Tống trước đó, người Mông Cổ cũng sử dụng các loại pháo sơ khai trên boong tàu của họ.[28]

Trong khi nhà Tống xây dựng sức mạnh hải quân, người Nhật Bản cũng sở hữu năng lực hải quân đáng kể. Sức mạnh của các lực lượng hải quân Nhật Bản có thể được thấy trong Chiến tranh Genpei, qua Trận Dan-no-ura quy mô lớn vào ngày 25 tháng 4 năm 1185. Lực lượng của Minamoto no Yoshitsune có sức mạnh lên tới 850 con tàu, trong khi Taira no Munemori có 500 con tàu.

Vào giữa thế kỷ 14, thủ lĩnh nghĩa quân Chu Nguyên Chương (1328–1398) đã nắm quyền ở phía nam trong số nhiều nhóm nghĩa quân khác. Thành công ban đầu của ông là nhờ vào các quan lại tài năng như Lưu Bát ÔnTiêu Diêu, cùng các vũ khí thuốc súng của họ (xem Hỏa Long Kinh). Tuy nhiên, trận chiến quyết định củng cố thành công của ông và sự thành lập Nhà Minh (1368–1644) là Trận hồ Bà Dương, được coi là một trong những trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử.[28]:228–231

Vào thế kỷ 15, Đô đốc Trung Quốc Trịnh Hòa được giao nhiệm vụ tập hợp một hạm đội khổng lồ cho nhiều sứ mệnh ngoại giao nước ngoài, giương buồm khắp các vùng biển thuộc Thái Bình Dương phía Đông Nam và Ấn Độ Dương. Trong các sứ mệnh của mình, hạm đội của Trịnh Hòa đã nhiều lần xung đột với hải tặc. Hạm đội của Trịnh Hòa cũng tham gia vào một cuộc xung đột ở Sri Lanka, nơi Nhà vua Ceylon sau đó phải đến Minh Quốc để đưa ra lời xin lỗi chính thức tới Hoàng đế Vĩnh Lạc.

Tập tin:MokoShuraiE-Kotoba IV.jpg
Samurai Nhật Bản tấn công một con tàu của Mông Cổ, thế kỷ 13

Hải quân hoàng gia nhà Minh đã đánh bại hải quân Bồ Đào Nha do Martim Afonso de Sousa chỉ huy vào năm 1522. Người Trung Quốc đã tiêu diệt một con tàu bằng cách nhắm vào kho thuốc súng của nó, và bắt giữ một con tàu Bồ Đào Nha khác.[29][30] Lục quân và hải quân nhà Minh do Trịnh Thành Công chỉ huy đã đánh bại một cường quốc phương Tây là Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Cuộc bao vây Pháo đài Zeelandia, đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc đánh bại một cường quốc phương Tây.[31] Người Trung Quốc đã sử dụng súng thần công và tàu chiến để bắn phá ép người Hà Lan phải đầu hàng.[32][33]

Trong Thời kỳ Chiến Quốc ở Nhật Bản, Oda Nobunaga đã thống nhất đất nước bằng sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, ông đã bị đánh bại bởi hải quân của gia tộc Mōri. Nobunaga đã sáng chế ra Tekkosen (những chiếc Atakebune lớn được trang bị các tấm sắt) và đánh bại 600 con tàu của hải quân Mōri với sáu chiến hạm bọc thép (Trận Kizugawaguchi). Hải quân của Nobunaga và người kế vị ông là Toyotomi Hideyoshi đã áp dụng các chiến thuật tầm gần thông minh trên bộ với súng hỏa mai, nhưng cũng dựa vào việc bắn súng kíp cự ly gần theo phong cách áp sát giáp lá cà trong các cuộc đụng độ hải quân. Khi Nobunaga qua đời trong Sự kiện chùa Honnō, Hideyoshi lên kế vị và hoàn thành việc thống nhất toàn bộ đất nước. Năm 1592, Hideyoshi ra lệnh cho các daimyō phái quân tới Triều Tiên nhằm chinh phục nhà Minh (Trung Quốc). Quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Pusan ngày 12 tháng 4 năm 1592 đã chiếm được Seoul trong vòng một tháng.[34] Vua Triều Tiên bỏ chạy sang khu vực phía bắc bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản hoàn thành việc chiếm đóng Bình Nhưỡng vào tháng 6. Hải quân Triều Tiên khi đó do Đô đốc Lý Thuấn Thần chỉ huy đã đánh bại hải quân Nhật Bản trong các trận hải chiến liên tiếp, cụ thể là Ngọc Phố, Tứ Chân, Đường Phố và Đường Hạng Phố.[35] Trận đảo Hansan ngày 14 tháng 8 năm 1592 đã dẫn đến chiến thắng quyết định cho Triều Tiên trước hải quân Nhật Bản.[36] Trong trận chiến này, 47 chiến hạm Nhật Bản đã bị đánh chìm và 12 con tàu khác bị bắt giữ trong khi không một chiến hạm Triều Tiên nào bị mất.[37] Những thất bại trên biển đã ngăn cản hải quân Nhật Bản cung cấp nguồn tiếp tế cho quân đội của họ.[38]

Lý Thuấn Thần sau đó bị thay thế bởi Đô đốc Nguyên Quân, người có các hạm đội đã phải hứng chịu thất bại.[39] Quân đội Nhật Bản đóng gần Busan đã áp đảo hải quân Triều Tiên trong Trận Chilcheollyang ngày 28 tháng 8 năm 1597 và bắt đầu tiến về phía Trung Quốc. Nỗ lực này bị chặn đứng khi Đô đốc Lý Thuấn Thần được tái bổ nhiệm và giành chiến thắng trong Trận Myeongnyang.[40]

Mô hình thuyền rùa của Triều Tiên

Hoàng đế Vĩnh Lạc của nhà Minh đã phái lực lượng quân sự tới bán đảo Triều Tiên. Lý Thuấn Thần và Trần Lân tiếp tục giao chiến thành công với hải quân Nhật Bản với 500 chiến hạm Trung Quốc cùng hạm đội Triều Tiên được tăng cường.[41][42][43] Năm 1598, kế hoạch chinh phục Trung Quốc bị hủy bỏ do cái chết của Toyotomi Hideyoshi, và quân đội Nhật Bản rút khỏi bán đảo Triều Tiên. Trên đường trở về Nhật Bản, Lý Thuấn Thần và Trần Lân đã tấn công hải quân Nhật Bản tại Trận Noryang, gây tổn thất nặng nề, nhưng tướng cấp cao Trung Quốc Đặng Tử Long và chỉ huy Triều Tiên Lý Thuấn Thần đã tử trận trong một đợt phản công của quân Nhật. Phần còn lại của quân đội Nhật Bản trở về Nhật Bản vào cuối tháng 12.[44] Năm 1609, Mạc phủ Tokugawa ra lệnh phế bỏ các chiến hạm trao cho các lãnh chúa phong kiến. Hải quân Nhật Bản trì trệ cho đến tận thời kỳ Minh Trị.

Tại Triều Tiên, tầm bắn xa hơn của súng thần công Triều Tiên, cùng với các chiến lược hải quân xuất sắc của Đô đốc Triều Tiên Lý Thuấn Thần, là những yếu tố chính dẫn đến thất bại cuối cùng của Nhật Bản. Lý Thuấn Thần được ghi nhận vì đã cải tiến Geobukseon (thuyền rùa), vốn được sử dụng chủ yếu để dẫn đầu các cuộc tấn công. Chúng được sử dụng tốt nhất trong các khu vực hẹp và xung quanh các hòn đảo hơn là trên biển mở. Lý Thuấn Thần đã cắt đứt hiệu quả tuyến tiếp tế có thể có của Nhật Bản đi qua Hoàng Hải tới Trung Quốc, và làm suy yếu nghiêm trọng sức mạnh và tinh thần chiến đấu của Nhật Bản trong nhiều cuộc đụng độ nảy lửa (nhiều người coi thất bại trọng yếu của Nhật Bản là Trận đảo Hansan). Người Nhật đối mặt với hy vọng tiếp tế ngày càng giảm do liên tục thất bại trong các trận hải chiến dưới tay Lý Thuấn Thần. Khi quân đội Nhật Bản chuẩn bị trở về Nhật Bản, Lý Thuấn Thần đã đánh bại quyết định một hạm đội hải quân Nhật Bản tại Trận Noryang.

Trung Quốc cổ đại và Trung cổ

Tập tin:Eastern Han pottery boat.JPG
Mô hình thuyền bằng gốm thời Đông Hán (25–220 MCN) của Trung Quốc thích hợp cho việc di chuyển trên sông và biển, với một con neo ở mũi tàu, một bánh lái điều hướng ở đuôi tàu, các khoang có mái che với cửa sổ và cửa ra vào, cùng các hình người thủy thủ thu nhỏ.
Tập tin:Songrivership3.jpg
Một chiến thuyền sông của hải quân Nhà Tống với một máy bắn đá kéo tay Xuanfeng trên boong trên cùng, trích từ một hình minh họa trong cuốn Võ kinh tổng yếu (1044)

Thời Trung Quốc cổ đại, các trận hải chiến đầu tiên được ghi nhận diễn ra vào -Thời Chiến Quốc (481–221 TCN) khi các chư hầu đánh lẫn nhau. Chiến tranh hải quân Trung Quốc trong thời kỳ này có các chiến thuật dùng móc móc và kéo, cũng như đâm va với các con tàu được gọi là "đâm bụng" và "va đập".[45] Trong thời Nhà Hán, người ta đã ghi chép rằng người thời Chiến Quốc đã sử dụng các con tàu thuyền qua (chuan ge - tàu trang bị qua/kích), được cho là mô tả đơn giản về những con tàu do thủy binh mang theo binh khí cá nhân là qua (gần giống kích) vận hành.

Nhà văn thế kỷ thứ 3 Trương Yến (Zhang Yan) khẳng định rằng người thời Chiến Quốc đặt tên cho các con thuyền theo cách này vì lưỡi kích thực sự được gắn cố định vào thân tàu nhằm đâm thủng thân tàu khác khi va đập, để đâm kẻ thù dưới nước bị rơi xuống biển và đang bơi, hoặc đơn giản là để dọn sạch mọi động vật biển nguy hiểm có thể xuất hiện trên đường đi của tàu (vì người Trung Quốc cổ đại tin vào quái vật biển; xem Từ Phúc để biết thêm thông tin).

Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Nhà Tần (221–207 TCN), đạt được nhiều thành công trong việc thống nhất miền Nam Trung Quốc nhờ vào sức mạnh hải quân, mặc dù một lực lượng hải quân chính thức vẫn chưa được thành lập (xem phần Châu Á thời Trung cổ bên dưới). Người thời Nhà Chu được biết đến là đã sử dụng các cầu phao tạm thời cho các phương tiện vận tải chung, nhưng chính trong thời nhà Tần và nhà Hán, các cầu phao lớn vĩnh cửu mới được lắp ráp và sử dụng trong chiến tranh (ghi chép đầu tiên về cầu phao ở phương Tây là sự giám sát của người Hy Lạp Mandrocles ở Samos nhằm hỗ trợ chiến dịch quân sự của hoàng đế Ba Tư Darius I qua Bosporus).

Trong thời Nhà Hán (202 TCN–220 MCN), người Trung Quốc bắt đầu sử dụng bánh lái điều hướng gắn ở đuôi tàu, và họ cũng thiết kế một loại tàu mới, loại thuyền thuyền nhông (junk). Từ cuối thời nhà Hán đến thời Tam Quốc (220–280 MCN), các trận hải chiến lớn như Trận Xích Bích đã đánh dấu sự tiến bộ của chiến tranh hải quân ở Phương Đông. Trong trận đụng độ sau, liên quân của Tôn QuyềnLưu Bị đã tiêu diệt một hạm đội lớn do Tào Tháo chỉ huy trong một cuộc tấn công hải quân bằng hỏa công.

Về các chuyến đi biển ra nước ngoài, có thể nói một trong những người Trung Quốc đầu tiên giương buồm vào Ấn Độ Dương và đến Sri Lanka cùng Ấn Độ bằng đường biển là nhà sư Phật giáo Pháp Hiển vào đầu thế kỷ 5, mặc dù các mối quan hệ ngoại giao và thương mại đường bộ với Ba Tư và Ấn Độ đã được thiết lập từ thời nhà Hán trước đó. Tuy nhiên, ảnh hưởng hải quân của Trung Quốc chỉ thực sự thâm nhập vào Ấn Độ Dương cho đến thời kỳ Trung cổ.

Thời kỳ đầu hiện đại

Tập tin:Vasa from port1.jpg
Mẫu chiến hạm galleon Vasa từ đầu thế kỷ 17 được trưng bày tại Bảo tàng Vasa ở Stockholm. Vasa, với phần đài chỉ huy đuôi tàu cao và hai tầng boong pháo, là một thiết kế chuyển tiếp giữa sự ưu tiên cho các chiến thuật áp sát giáp lá cà và chiến thuật dàn hàng.

Thời kỳ cuối Trung cổ chứng kiến sự phát triển của các dòng tàu cog, caravelcarrack có khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của đại dương mở, với đầy đủ các hệ thống dự phòng và kỹ năng thủy thủ đoàn để biến các chuyến hải trình dài thành công việc thường nhật.[1] Ngoài ra, tải trọng của chúng đã tăng từ 100 tấn lên 300 tấn, đủ để mang theo pháo làm vũ khí trang bị mà vẫn còn không gian chứa hàng hóa. Một trong những con tàu lớn nhất thời bấy giờ, chiếc Great Harry, có lượng giãn nước hơn 1.500 tấn.

Các chuyến hành trình phát kiến địa lý về bản chất mang tính thương mại hơn là quân sự, mặc dù ranh giới đôi khi khá mờ nhạt do quốc vương của một nước không ngần ngại tài trợ cho việc thám hiểm vì lợi nhuận cá nhân, và việc sử dụng sức mạnh quân sự để gia tăng lợi nhuận đó cũng không phải là vấn đề. Sau này, các ranh giới dần tách biệt rõ ràng, theo đó động lực của nhà cầm quyền trong việc sử dụng hải quân là để bảo vệ các doanh nghiệp tư nhân để họ có thể nộp nhiều thuế hơn.

Giống như người Shia-Fatimid và Mamluk ở Ai Cập, Đế quốc Sunni-Hồi giáo Ottoman có trung tâm tại Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đã thống trị vùng biển Đông Địa Trung Hải. Người Ottoman đã xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh, cạnh tranh với thành quốc Venice của Ý trong suốt cuộc Chiến tranh Ottoman–Venice (1499–1503).

Mặc dù chịu thất bại nặng nề trong Trận Lepanto (1571) trước Liên minh Thần Thánh, người Ottoman đã nhanh chóng khôi phục lại sức mạnh hải quân của mình, và sau đó bảo vệ thành công đảo Cyprus. Tuy nhiên, cùng với Kỷ nguyên Khám phá diễn ra đồng thời, Châu Âu đã vượt xa Đế quốc Ottoman, và vượt qua sự phụ thuộc vào thương mại đường bộ một cách thành công bằng cách phát hiện ra các tuyến đường biển vòng quanh Châu Phi và hướng về Châu Mỹ.

Hành động hải quân đầu tiên nhằm bảo vệ các thuộc địa mới diễn ra chỉ mười năm sau đợt cập bến lịch sử của Vasco da Gama tại Ấn Độ. Vào tháng 3 năm 1508, một lực lượng liên quân Gujarati/Ai Cập đã gây bất ngờ cho một hải đội Bồ Đào Nha tại Chaul, và chỉ có hai con tàu Bồ Đào Nha thoát cản. Tháng 2 năm sau, phó vương Bồ Đào Nha đã tiêu diệt hạm đội liên quân tại Trận Diu, củng cố sự thống trị của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương.

Năm 1582, Trận Ponta Delgada ở quần đảo Azores, trong đó một hạm đội Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha đã đánh bại lực lượng liên quân Pháp và Bồ Đào Nha (với một số sự hỗ trợ trực tiếp từ Anh), qua đó chấm dứt cuộc khủng hoảng kế vị Bồ Đào Nha, là trận chiến đầu tiên diễn ra ở giữa Đại Tây Dương.

Năm 1588, Vua Tây Ban Nha Philip II đã cử Hạm đội Armada của mình đến để khuất phục hạm đội Anh của Nữ vương Elizabeth, nhưng Đô đốc Sir Charles Howard đã đánh bại Hạm đội Armada, đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của Hải quân Hoàng gia Anh. Tuy nhiên, họ đã không thể bồi thêm đòn quyết định chống lại hải quân Tây Ban Nha, vốn vẫn duy trì vị thế quan trọng nhất trong nửa thế kỷ nữa. Sau khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1604, hạm đội Anh đã trải qua một thời kỳ tương đối bị bỏ ngỏ và suy ngoái.

Tập tin:Combat naval 12 avril 1782-Dumoulin-IMG 5481.JPG
Trận Saintes diễn ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1782 gần Guadeloupe

Vào thế kỷ 16, các quốc gia Barbary ở Bắc Phi đã vươn lên nắm quyền, trở thành một cường quốc hải quân thống trị ở Địa Trung Hải nhờ vào các cướp biển Barbary. Các làng mạc và thị trấn ven biển của Ý, Tây Ban Nha và các đảo ở Địa Trung Hải thường xuyên bị tấn công, và những dải bờ biển dài của Ý và Tây Ban Nha gần như bị cư dân bỏ hoang hoàn toàn; sau năm 1600, cướp biển Barbary thỉnh thoảng tiến vào Đại Tây Dương và tấn công xa về phía bắc đến tận Iceland.

Theo Robert Davis, có tới 1,25 triệu người Châu Âu đã bị cướp biển Barbary bắt giữ và bán làm nô lệBắc PhiĐế quốc Ottoman giữa thế kỷ 16 và 19. Những nô lệ này chủ yếu bị bắt từ các làng ven biển ở Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và từ những nơi xa hơn như Pháp, Anh, Hà Lan, Ireland và thậm chí cả Iceland và Bắc Mỹ. Cướp biển Barbary cũng có thể đánh bại và bắt giữ thành công nhiều con tàu Châu Âu, phần lớn là nhờ vào những tiến bộ trong công nghệ hàng hải của các quốc gia Barbary. Các loại tàu đánh cá vũ trang, xebec và tàu đón gió thời kỳ đầu đã được cướp biển Barbary sử dụng từ thế kỷ 16.[46]

Tập tin:Den hollandske Flaades ankomst på Kjøbenhavns Red i oktober 1658.jpg
Hạm đội Hà Lan giải cứu Copenhagen sau khi đánh bại người Thụy Điển trong Trận Oresund

Từ giữa thế kỷ 17, sự cạnh tranh giữa các hạm đội thương mại đang mở rộng của Anh và Hà Lan đã lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Anh–Hà Lan, những cuộc chiến tranh đầu tiên được tiến hành hoàn toàn trên biển. Rất ít con tàu bị đánh chìm trong giao chiến hải quân thời kỳ trong thời kì này, vì rất khó bắn trúng tàu ở vị trí dưới mực nước; mặt nước phản xạ đạn pháo, và một số ít lỗ hổng tạo ra có thể được trám lại nhanh chóng. Các đợt pháo kích hải quân làm thương vong nhân lực và hư hỏng cánh buồm nhiều hơn là làm chìm tàu. Ba cuộc chiến đã diễn ra giữa Anh và Cộng hòa Hà Lan trong thế kỷ 17, mặc dù cuộc Cách mạng Vinh quang đã chấm dứt các xung đột Anh-Hà Lan tiếp theo trong gần một thế kỷ.[47][48]

Thời kỳ hậu hiện đại

Thế kỷ 18

Tập tin:Trafalgar mg 9431.jpg
Trận Trafalgar năm 1805

Thế kỷ 18 đã phát triển thành một thời kỳ diễn ra các cuộc chiến tranh quốc tế tưởng như liên tục, cuộc chiến sau lại lớn hơn cuộc chiến trước. Trên biển, Anh và Pháp là những đối thủ truyền kiếp; người Pháp đã hỗ trợ Hoa Kỳ non trẻ trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, nhưng mục đích chiến lược của họ là chiếm giữ lãnh thổ ở Ấn Độ và Tây Ấn, điều mà họ đã không đạt được. Ở Biển Baltic, nỗ lực cuối cùng nhằm hồi phục Đế quốc Thụy Điển đã dẫn đến cuộc Chiến tranh Nga-Thụy Điển (1788–1790), với màn kết hoành tráng tại Trận Svensksund lần thứ hai. Trận chiến này, có quy mô vô tiền khoáng hậu cho đến tận thế kỷ 20, là một chiến thắng chiến thuật quyết định của Thụy Điển, nhưng nó mang lại ít kết quả chiến lược do sự thể hiện yếu kém của lục quân và sự thiếu chủ động trước đó từ phía Thụy Điển, và cuộc chiến kết thúc mà không có sự thay đổi nào về lãnh thổ.

Ngay cả sự thay đổi chính phủ do Cách mạng Pháp gây ra dường như cũng làm gia tăng thay vì giảm bớt sự kình địch, và các cuộc chiến tranh của Napoleon bao gồm một loạt các trận hải chiến huyền thoại, đỉnh điểm là Trận Trafalgar vào năm 1805, Đô đốc Horatio Nelson đã đánh bại sức mạnh của hạm đội Pháp và Tây Ban Nha, nhưng ông cũng đã hy sinh trong trận đánh.

Thế kỷ 19

Tập tin:The Monitor and Merrimac.jpg
Trận chiến đầu tiên giữa các tàu bọc thép: CSS Virginia/Merrimac (trái) đấu với USS Monitor, năm 1862 tại Trận Hampton Roads
Tập tin:Escadre franco-anglaise devant Bomarsund.jpg
Trận Bomarsund trong cuộc Chiến tranh Åland (1854–1856), một phần của Chiến tranh Krym

Trận Trafalgar đã mở ra thời kỳ Pax Britannica của thế kỷ 19, được đánh dấu bằng nền hòa bình chung trên các đại dương thế giới, dưới lá cờ của Hải quân Hoàng gia Anh. Nhưng thời kỳ này cũng là thời kỳ thử nghiệm mạnh mẽ các công nghệ mới; sức mạnh hơi nước cho tàu thuyền xuất hiện vào những năm 1810, kỹ thuật luyện kim và gia công cải tiến đã tạo ra những khẩu pháo lớn hơn và nguy hiểm hơn, và sự phát triển của đạn pháo nổ có khả năng phá hủy một con tàu gỗ chỉ bằng một cú đánh đòi hỏi phải bổ sung lớp giáp sắt dày hơn.

Mặc dù sức mạnh hải quân dưới các triều đại nhà Tống, nhà Nguyên và nhà Minh đã đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc hải quân lớn trên thế giới ở Phương Đông, Nhà Thanh lại thiếu một lực lượng hải quân thường trực chính thức. Họ quan tâm hơn đến việc dồn ngân sách vào các cuộc phiêu lưu quân sự gần nhà hơn (Trung Quốc bản thổ), chẳng hạn như Mông Cổ, Tây Tạng và Trung Á (Tân Cương ngày nay). Tuy nhiên, đã có một số cuộc xung đột hải quân đáng kể liên quan đến hải quân nhà Thanh trước cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ nhất (chẳng hạn như Trận Bành Hồ, và việc chiếm Formosa từ những người trung thành với nhà Minh).

Hải quân nhà Thanh đã tỏ ra hoàn toàn yếu thế trong các cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhấtlần thứ hai, khiến Trung Quốc rộng mở cho sự thống trị de facto của nước ngoài; các dải bờ biển của Trung Quốc được đặt dưới phạm vi ảnh hưởng của phương TâyNhật Bản. Chính phủ nhà Thanh đã phản ứng trước thất bại trong các cuộc chiến tranh Nha phiến bằng cách cố gắng hiện đại hóa hải quân Trung Quốc; ký kết một số hợp đồng tại các xưởng đóng tàu Châu Âu để mua các chiến hạm hiện đại. Kết quả của những phát triển này là Hạm đội Bắc Dương, vốn đã chịu một đòn giáng nặng nề từ Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Thanh – Nhật.

Trận chiến giữa CSS VirginiaUSS Monitor trong cuộc Nội chiến Mỹ là một cuộc đấu giữa các tàu bọc thép tượng trưng cho sự thay đổi của thời đại. Trận chiến đầu tiên giữa các hạm đội tàu bọc thép diễn ra vào năm 1866 tại Trận Lissa giữa hải quân Áo và Ý. Bởi vì thời khắc quyết định của trận chiến diễn ra khi tàu chỉ huy của Áo SMS Erzherzog Ferdinand Max đánh chìm thành công tàu chỉ huy của Ý Re d'Italia bằng cách đâm vào đối phương, trong thập kỷ sau đó, mọi hải quân trên thế giới đều tập trung phần lớn vào đâm va như một chiến thuật chính. Lần sử dụng chiến thuật này cuối cùng được biết đến trong một trận hải chiến là vào năm 1915, khi HMS Dreadnought đâm vào tàu ngầm Đức (đang nổi) U-29. Con tàu mặt nước cuối cùng bị đánh chìm bằng cách đâm diễn ra vào năm 1879 khi con tàu Peru Huáscar đâm vào con tàu Chile Esmeralda. Chiến hạm cuối cùng được biết đến có trang bị mũi thúc được hạ thủy vào năm 1908, chiếc tuần dương hạm nhẹ của Đức SMS Emden.

Với sự xuất hiện của tàu thủy chạy bằng hơi nước, người ta có thể tạo ra các sàn pháo khổng lồ và bọc giáp nặng cho chúng, dẫn đến sự ra đời của các thiết giáp hạm hiện đại đầu tiên. Các trận chiến Santiago de CubaTsushima đã chứng minh sức mạnh của những con tàu này.

Thế kỷ 20

Tàu trên biển với khói bốc ra từ hai ống khói
HMS Dreadnought, thiết giáp hạm dreadnought đầu tiên
Tập tin:Japanese high-level bombing attack on HMS Prince of Wales and HMS Repulse 1941-12-10.jpg
HMS Prince of WalesHMS Repulse trong đợt không kích

Đầu thế kỷ 20, loại thiết giáp hạm hiện đại đã xuất hiện: một con tàu bọc thép, hoàn toàn phụ thuộc vào động cơ hơi nước, với dàn pháo chính có cỡ nòng đồng nhất được gắn trong các tháp pháo trên boong chính. Dòng tàu này được tiên phong vào năm 1906 với chiếc HMS Dreadnought, vốn sở hữu dàn pháo chính gồm 10 khẩu pháo 12 inch (300 mm) thay vì dàn pháo hỗn hợp cỡ nòng của các thiết kế trước đó. Cùng với dàn pháo chính, Dreadnought và các thế hệ sau của nó vẫn giữ lại dàn pháo phụ để sử dụng chống lại các con tàu nhỏ hơn như tàu khu trụctàu phóng lôi, và sau này là máy bay.

Các thiết giáp hạm kiểu dreadnought đã thống trị các hạm đội vào đầu thế kỷ 20. Chúng đóng vai trò quan trọng trong cả Chiến tranh Nga-NhậtThế chiến thứ nhất. Chiến tranh Nga-Nhật chứng kiến sự trỗi dậy của Hải quân Đế quốc Nhật Bản sau chiến thắng bất ngờ trước Hải quân Đế quốc Nga đang suy yếu tại Hải chiến Tsushima; trong khi Thế chiến I đã đặt Hải quân Hoàng gia Anh lâu đời vào thế đối đầu với lực lượng Hải quân Đế quốc Đức mới nổi, đỉnh điểm là Trận Jutland năm 1916. Tương lai đã được báo trước khi tàu chở thủy phi cơ HMS Engadine cùng các thủy phi cơ Short 184 của nó tham gia trận chiến. Ở Biển Đen, các thủy phi cơ Nga cất cánh từ một hạm đội tàu chở cải tiến đã chặn đứng các tuyến tiếp tế trên biển của Thổ Nhĩ Kỳ, các đợt tuần tra trên không của phe Đồng Minh bắt đầu chống lại hoạt động của U-boat tại vùng biển ven bờ nước Anh, và một chiếc Short 184 của Anh đã thực hiện cuộc tấn công bằng ngư lôi thành công đầu tiên vào một con tàu.

Năm 1918, Hải quân Hoàng gia Anh đã cải biến một tàu chở khách của Ý để tạo ra chiếc tàu sân bay đầu tiên, HMS Argus, và ngay sau cuộc chiến, chiếc tàu sân bay chuyên dụng đầu tiên, HMS Hermes, đã được hạ thủy. Nhiều quốc gia đã đồng ý với Hiệp ước Hải quân Washington và phế bỏ nhiều thiết giáp hạm cũng như tuần dương hạm của họ ngay khi còn ở trong xưởng đóng tàu, nhưng căng thẳng gia tăng trong những năm 1930 đã khởi động lại các chương trình đóng tàu với những con tàu lớn hơn nữa. Các thiết giáp hạm lớp Yamato, lớn nhất từng được chế tạo, có lượng giãn nước 72.000 tấn và mang pháo cỡ nòng 18,1 inch (460 mm).

Chiến thắng của Hải quân Hoàng gia Anh tại Trận Taranto là một bước ngoặt khi đây là màn trình diễn thực sự đầu tiên về sức mạnh không quân hải quân. Tầm quan trọng của sức mạnh không quân hải quân càng được củng cố bởi Trận Trân Châu Cảng, sự kiện đã buộc Hoa Kỳ phải tham gia Thế chiến thứ hai. Mặc dù vậy, ở cả Taranto và Trân Châu Cảng, máy bay chủ yếu tấn công các thiết giáp hạm đang neo đậu cố định. Việc đánh chìm các thiết giáp hạm Anh HMS Prince of WalesHMS Repulse, những con tàu đang trong trạng thái chiến đấu vào thời điểm bị tấn công cuối cùng đã đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm.[49] Máy bay và phương tiện vận chuyển chúng, tức tàu sân bay, đã vươn lên vị trí hàng đầu.

Trong Chiến tranh Thái Bình Dương thuộc Thế chiến thứ hai, các thiết giáp hạm và tuần dương hạm dành phần lớn thời gian để hộ tống các tàu sân bay và bắn phá các vị trí trên bờ, trong khi các tàu sân bay cùng máy bay của chúng là những nhân vật chính trong Trận Biển San Hô,[50] Trận Midway,[50] Trận Đông Solomon,[51] Trận quần đảo Santa Cruz[51]Trận biển Philippine. Các cuộc đụng độ giữa các thiết giáp hạm và tuần dương hạm, chẳng hạn như Trận đảo SavoHải chiến Guadalcanal, bị giới hạn trong đêm nhằm tránh bị tấn công từ trên không.[52] Mặc dù vậy, các thiết giáp hạm lại đóng vai trò then chốt một lần nữa trong Trận vịnh Leyte, mặc dù nó diễn ra sau các trận chiến tàu sân bay lớn, chủ yếu vì hạm đội tàu sân bay Nhật Bản khi đó đã về cơ bản bị kiệt quệ. Đó là trận hải chiến cuối cùng giữa các thiết giáp hạm trong lịch sử.[53] Sức mạnh không quân vẫn là chìa khóa đối với hải quân trong suốt thế kỷ 20, chuyển sang các máy bay phản lực cất cánh từ các tàu sân bay ngày càng lớn hơn, và được bổ sung bởi các tuần dương hạm trang bị tên lửa có điều khiểntên lửa hành trình.

Gần như song song với sự phát triển của không quân hải quân là sự phát triển của tàu ngầm để tấn công dưới mặt nước. Ban đầu, các con tàu chỉ có khả năng lặn ngắn, nhưng cuối cùng họ đã phát triển khả năng dành nhiều tuần hoặc nhiều tháng dưới nước nhờ động cơ hạt nhân. Trong cả hai cuộc thế chiến, các tàu ngầm (U-boat ở Đức) chủ yếu thể hiện sức mạnh của mình bằng cách sử dụng ngư lôi để đánh chìm các tàu thương mại và tàu chiến khác. Vào những năm 1950, Chiến tranh Lạnh đã truyền cảm hứng cho sự phát triển của tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, mỗi chiếc mang theo hàng chục tên lửa đạn đạo SLBM trang bị đầu đạn nhiệt hạch cùng mệnh lệnh phóng chúng từ biển nếu quốc gia khác tấn công.

Bối cảnh của những phát triển đó đã chứng kiến Thế chiến II đưa Hoa Kỳ trở thành cường quốc hải quân thống trị thế giới. Trong suốt phần còn lại của thế kỷ 20, Hải quân Hoa Kỳ duy trì tổng lượng giãn nước lớn hơn tổng lượng giãn nước của 17 hải quân lớn nhất tiếp theo cộng lại.[54]

Hậu quả của Thế chiến II chứng kiến pháo hải quân bị thay thế bởi tên lửa đối hải với tư cách là vũ khí chính của các tàu chiến mặt nước. Hai trận hải chiến lớn đã diễn ra kể từ Thế chiến II.

Chiến tranh hải quân Ấn Độ - Pakistan 1971 là cuộc chiến tranh hải quân lớn đầu tiên sau Thế chiến II. Cuộc chiến chứng kiến việc phái một cụm tàu sân bay Ấn Độ, việc sử dụng rộng rãi tàu tên lửa trong các chiến dịch hải quân, sự phong tỏa hải quân hoàn toàn đối với Pakistan bởi Hải quân Ấn Độ và sự tiêu diệt gần một nửa lực lượng Hải quân Pakistan.[55] Đến cuối cuộc chiến, thiệt hại do Hải quân và Không quân Ấn Độ gây ra cho Hải quân Pakistan dừng lại ở hai tàu khu trục, một tàu ngầm, một tàu quét mìn, ba tàu tuần tra, bảy tàu pháo, 18 tàu chở hàng, tiếp tế và liên lạc, cũng như thiệt hại quy mô lớn đối với căn cứ hải quân và các xưởng đóng tàu nằm ở thành phố cảng lớn Karachi.[56] Ba tàu hải quân thương mại, Anwar Baksh, Pasni, và Madhumathi,[57] cùng 10 phương tiện nhỏ hơn đã bị bắt giữ.[58] Khoảng 1.900 nhân sự bị tổn thất, trong khi 1.413 quân nhân (chủ yếu là sĩ quan) bị các lực lượng Ấn Độ bắt giữ tại Dhaka.[59] Hải quân Ấn Độ mất 18 sĩ quan và 194 thủy thủ cùng một tàu frigate, trong khi một tàu frigate khác bị hư hỏng nặng và một máy bay hải quân Breguet Alizé bị Không quân Pakistan bắn hạ.[60]

Trong cuộc Chiến tranh Falkland năm 1982 giữa Argentina và Vương quốc Anh, một lực lượng đặc nhiệm của Hải quân Hoàng gia Anh gồm khoảng 100 con tàu đã được phái đi vượt qua khoảng cách 7.000 dặm (11.000 km) từ chính quốc Anh đến Nam Đại Tây Dương. Người Anh bị áp đảo về lực lượng không quân tại chiến trường với chỉ 36 chiếc Sea Harrier từ hai tàu sân bay của họ cùng một vài máy bay trực thăng, so với ít nhất 200 máy bay của Không quân Argentina, mặc dù Luân Đôn đã phái các máy bay ném bom Vulcan trong một màn phô diễn năng lực chiến lược đường dài. Hầu hết các máy bay đóng trên đất liền của Không quân Hoàng gia Anh đều không thể sử dụng do khoảng cách xa từ các căn cứ không quân. Sự phụ thuộc này vào máy bay trên biển đã cho thấy tầm quan trọng của tàu sân bay. Chiến tranh Falkland cho thấy sự dễ bị tổn thương của các con tàu hiện đại trước các loại tên lửa bay áp sát mặt biển như Exocet. Một cú đánh trúng từ tên lửa Exocet đã đánh chìm HMS Sheffield, một tàu khu trục phòng không hiện đại. Hơn một nửa số người Argentina thiệt mạng trong cuộc chiến diễn ra khi tàu ngầm hạt nhân Conqueror phóng ngư lôi đánh chìm tuần dương hạm nhẹ ARA General Belgrano, cướp đi 323 sinh mạng. Những bài học quan trọng về thiết kế tàu, kiểm soát hư hỏng và vật liệu đóng tàu đã được rút ra từ cuộc xung đột này.

Đọc thêm

  • Howarth, David Armine. British Sea Power: How Britain Became Sovereign of the Seas (2003), 32pp; from 1066 to present
  • Potter, E.B. Sea Power: A Naval History (1982), world history
  • Starr, Chester. The Influence of Sea Power on Ancient History (1989)
  • Willmott, H. P. The Last Century of Sea Power, Volume 1: From Port Arthur to Chanak, 1894—1922(2009), 568p
  • Willmott, H. P. The Last Century of Sea Power, vol. 2: From Washington to Tokyo, 1922–1945. (Đại học Indiana Press, 2010). xxii, 679 pp. ISBN 978-0-253-35359-7

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă â Warming, Rolf (tháng 1 năm 2019). "An Introduction to Hand-to-Hand Combat at Sea: General Characteristics and Shipborne Technologies from c. 1210 BCE to 1600 CE". On War on Board: Archaeological and Historical Perspectives on Early Modern Maritime Violence and Warfare (Ed. Johan Rönnby) (bằng tiếng Anh).
  2. ^ Warming, Rolf (2019). "An Introduction to Hand-to-Hand Combat at Sea: General Characteristics and Shipborne Technologies from c. 1210 BCE to 1600 CE". Archaeological and Historical Perspectives on Early Modern Maritime Violence and Warfare (Ed. Johan Rönnby). Södertörn Högskola: 99–12. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
  3. ^ Beckman, Gary (2000). "Hittite Chronology". Akkadica. 119–120: 19–32 [p. 23]. ISSN 1378-5087.
  4. ^ Saddington, D. B. (2011) [2007]. "The Evolution of the Roman Imperial Fleets". Trong Erdkamp, Paul (biên tập). A Companion to the Roman Army. Malden, Oxford, Chichester: Wiley-Blackwell. tr. 201–217. ISBN 978-1-4051-2153-8. Plate 12.2 on p. 204
  5. ^ Coarelli, Filippo (1987). I Santuari del Lazio in età repubblicana. Rome: NIS. tr. 35–84.
  6. ^ Murray, William Michael (2012). The age of titans: the rise and fall of the great Hellenistic navies. Onassis series in Hellenic culture. New York (N.Y.): Oxford university press. ISBN 978-0-19-538864-0.
  7. ^ "Ancient Discoveries, Episode 12: Machines of the East". History Channel. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. {{Chú thích tập san học thuật}}: Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  8. ^ Castex, Jean-Claude (2004). Dictionnaire des batailles navales franco-anglaises. Presses de l'Université Laval. tr. 21. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2026.
  9. ^ Shen, 155
  10. ^ Christie, Anthony (1957). "An Obscure Passage from the "Periplus: ΚΟLWNDIΟϕWNTA TA ΜΕΓΙΣΤΑ"". Bulletin of the School of Oriental and African Studies, University of London. 19: 345–353. doi:10.1017/S0041977X00133105. S2CID 162840685.
  11. ^ Dick-Read, Robert (2005). The Phantom Voyagers: Evidence of Indonesian Settlement in Africa in Ancient Times. Thurlton.
  12. ^ Nik Hassan Shuhaimi Nik Abd Rahman. "Port and polity of the Malay Peninsula and Sumatra (5th – 14th Centuries A.D.)" (PDF). International Seminar Harbour Cities Along the Silk Roads.
  13. ^ a ă Kumar, Ann (2012). "Dominion Over Palm and Pine: Early Indonesia's Maritime Reach". Trong Wade, Geoff (biên tập). Anthony Reid and the Study of the Southeast Asian Past. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. tr. 101–122.
  14. ^ Lombard, Denys (2005). Nusa Jawa: Silang Budaya, Bagian 2: Jaringan Asia. Jakarta: Gramedia Pustaka Utama.
  15. ^ a ă Nugroho, Irawan Djoko (2011). Majapahit Peradaban Maritim. Suluh Nuswantara Bakti. ISBN 9786029346008.
  16. ^ Heng, Derek (tháng 10 năm 2013). "State formation and the evolution of naval strategies in the Melaka Straits, c. 500–1500 CE". Journal of Southeast Asian Studies. 44 (3): 380–399. doi:10.1017/S0022463413000362. S2CID 161550066.
  17. ^ Munoz, Paul Michel (2006). Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula. Singapore: Editions Didier Millet. tr. 171. ISBN 981-4155-67-5.
  18. ^ Nugroho, Irawan Djoko (2009). Meluruskan Sejarah Majapahit. Ragam Media. ISBN 978-9793840161.
  19. ^ da Pordenone, Odoric (2002). The Travels of Friar Odoric. W. B. Eerdmans Publishing Company. ISBN 9780802849632.:106-107
  20. ^ "Ibn Battuta's Trip: Chapter 9 Through the Straits of Malacca to China 1345–1346". The Travels of Ibn Battuta A Virtual Tour with the 14th Century Traveler. Berkeley.edu. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 3 2013. Truy cập 14 tháng 6 2013.
  21. ^ a ă Manguin, Pierre-Yves (1976). "L'Artillerie legere nousantarienne: A propos de six canons conserves dans des collections portugaises" (PDF). Arts Asiatiques. 32: 233–268. doi:10.3406/arasi.1976.1103. S2CID 191565174.
  22. ^ Averoes, Muhammad (2020). "Antara Cerita dan Sejarah: Meriam Cetbang Majapahit". Jurnal Sejarah. 3 (2): 89–100.
  23. ^ Averoes, Muhammad (2022). "Re-Estimating the Size of Javanese Jong Ship". Historia: Jurnal Pendidik Dan Peneliti Sejarah. 5 (1): 57–64. doi:10.17509/historia.v5i1.39181. S2CID 247335671.
  24. ^ Hill, A. H. (tháng 6 năm 1960). "Hikayat Raja-Raja Pasai". Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society. 33 (2): 98, 157.
  25. ^ Wade, Geoff (2012). Anthony Reid and the Study of the Southeast Asian Past. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 978-981-4311-96-0.
  26. ^ Needham, Joseph (1971). Science and Civilisation in China: Civil Engineering and Nautics, Volume 4 Part 3. Cambridge University Press. tr. 166. ISBN 978-0-521-07060-7.
  27. ^ Franke, Herbert (1994). Denis C. Twitchett; Herbert Franke; John King Fairbank (biên tập). The Cambridge History of China: Volume 6, Alien Regimes and Border States, 710–1368. Cambridge University Press. tr. 241–242. ISBN 978-0-521-24331-5.
  28. ^ a ă Lo, Jung-pang (2012). China as Sea Power 1127–1368. Singapore: NUS Press.
  29. ^ Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland. China Branch (1895). Journal of the China Branch of the Royal Asiatic Society for the year ..., Volumes 27–28. Shanghai: The Branch. tr. 44. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  30. ^ Royal Asiatic Society of Great Britain and Ireland. North-China Branch (1894). Journal of the North-China Branch of the Royal Asiatic Society, Volumes 26–27. Shanghai: The Branch. tr. 44. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  31. ^ Donald F. Lach, Edwin J. Van Kley (1998). Asia in the Making of Europe: A Century of Advance: East Asia. University of Chicago Press. tr. 752. ISBN 0-226-46769-4. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  32. ^ Andrade, Tonio. "11: The Fall of Dutch Taiwan". How Taiwan Became Chinese Dutch, Spanish, and Han Colonization in the Seventeenth Century. Columbia University Press. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  33. ^ Lynn A. Struve (1998). Voices from the Ming-Qing cataclysm: China in tigers' jaws. Yale University Press. tr. 312. ISBN 0-300-07553-7. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  34. ^ Perez, Louis (2013). Japan at war: an encyclopedia. Santa Barbara, Calif.: ABC-CLIO. tr. 140. ISBN 978-1-59884-742-0. OCLC 827944888.
  35. ^ Swope, Kenneth (2013). A dragon's head and a serpent's tail: Ming China and the first great East Asian war, 1592–1598. Norman: University of Oklahoma Press. tr. 115–119. ISBN 978-0-8061-8502-6. OCLC 843883049.
  36. ^ Turnbull, Stephen (2012). The Samurai Invasion of Korea 1592–98. Dennis, Peter. Oxford: Bloomsbury Publishing. tr. 36–43. ISBN 978-1-84603-758-0. OCLC 437089282.
  37. ^ Strauss, Barry (Summer 2005). "Korea's Legendary Admiral". The Quarterly Journal of Military History. 17 (4): 52–61.
  38. ^ Swope, Kenneth (2013). A dragon's head and a serpent's tail: Ming China and the first great East Asian war, 1592–1598. Norman: University of Oklahoma Press. tr. 121. ISBN 978-0-8061-8502-6. OCLC 843883049.
  39. ^ Yi, Min'ung; Lewis, James Bryant (2014). The East Asian War, 1592–1598: international relations, violence and memory. London: Routledge. tr. 130–132. ISBN 978-1-317-66274-7. OCLC 897810515.
  40. ^ Yi, Min'ung; Lewis, James Bryant (2014). The East Asian War, 1592–1598: international relations, violence and memory. London: Routledge. tr. 132–134. ISBN 978-1-317-66274-7. OCLC 897810515.
  41. ^ Minh sử (bằng tiếng Chinese). Quyển 247.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  42. ^ Frédéric, Louis. Japan Encyclopedia. tr. 92. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2026.
  43. ^ Swope, Kenneth (2013). A dragon's head and a serpent's tail: Ming China and the first great East Asian war, 1592–1598. Norman: University of Oklahoma Press. tr. 271–276. ISBN 978-0-8061-8502-6. OCLC 843883049.
  44. ^ Perez, Louis G (2013). Japan at war: an encyclopedia. Santa Barbara, Calif.: ABC-CLIO. tr. 109–110. ISBN 978-1-59884-742-0. OCLC 827944888.
  45. ^ Needham, Volume 4, Part 3, p. 678
  46. ^ Simon de Bruxelles (ngày 28 tháng 2 năm 2007). "Pirates who got away with it by sailing closer to the wind". The Times. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2008.
  47. ^ Boxer, Charles Ralph (1974). The Anglo-Dutch Wars of the 17th Century. London: Her Majesty's Stationery Office.
  48. ^ Rodger, N. A. M. (2004). The Command of the Ocean: A Naval History of Britain 1649–1815. New York. ISBN 0-393-32847-3.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  49. ^ Tagaya (2001) "Mitsubishi Type 1 Rikko 'Betty' Units of World War 2"
  50. ^ a ă Lundstrom (2005a) "The First Team: Pacific Naval Air Combat from Pearl Harbor to Midway"
  51. ^ a ă Lundstrom (2005b) "First Team and the Guadalcanal Campaign: Naval Fighter Combat from August to November 1942"
  52. ^ Morison (1958) "The Struggle for Guadalcanal, August 1942 – February 1943"
  53. ^ Morison (1956) "Leyte, June 1944 – January 1945"
  54. ^ Work, Robert O. "Archived copy" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2007.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) Winning the Race: A Naval Fleet Platform Architecture for Enduring Maritime Supremacy Center for Strategic and Budgetary Assessments Online. Retrieved 8 April 2006
  55. ^ Tariq Ali (1983). Can Pakistan Survive? The Death of a State. United Kingdom: Penguin Books. tr. 95. ISBN 978-0-14-02-2401-6. In a two-week war, Pakistan lost half its navy.
  56. ^ Tiwana, M.A. Hussain (tháng 11 năm 1998). "The Angry Sea". www.defencejournal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2016.
  57. ^ "Chapter-39". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  58. ^ "Damage Assessment – 1971 Indo-Pak Naval War" (PDF). B. Harry. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2005.
  59. ^ "Military Losses in the 1971 Indo-Pakistani War". Venik. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2005.
  60. ^ Tiwana, M.A. Hussain (tháng 11 năm 1998). "The Angry Sea". www.defencejournal.com. M.A. Hussain Tiwana Defence Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2016.

Đọc thêm

Bản mẫu:Library resources box

Tổng quan lịch sử

  • Holmes, Richard; Singleton, Oxford University Press, biên tập (2001). The Oxford Companion to Military History. Oxford University Press.
  • Howarth, David (2003). British Sea Power: How Britain Became Sovereign of the Seas. tr. 320.
  • Padfield, Peter (2009). Maritime Dominion and the Triumph of the Free World: Naval Campaigns That Shaped the Modern World 1852–2001.
  • Potter, E. B. (1982). Sea Power: A Naval History.
  • Rodger, Nicholas A. M. (2005). The Command of the Ocean: A Naval History of Britain, 1649–1815. Quyển 2. W. W. Norton & Company.
  • Rönnby, J. (2019). "On War On Board: Archaeological and Historical Perspectives on Early Modern Maritime Violence and Warfare". Södertörn Archaeological Studies. 15. Södertörn Högskola.
  • Sondhaus, Lawrence (2001). Naval Warfare, 1815–1914.
  • Starr, Chester (1989). The Influence of Sea Power on Ancient History.
  • Tucker, Spencer, biên tập (2002). Naval Warfare: An International Encyclopedia. Quyển 3. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 1231.
  • Tucker, Spencer (2000). Handbook of 19th Century Naval Warfare. Naval Institute Press.
  • Willmott, H. P. (2009). The Last Century of Sea Power, Volume 1: From Port Arthur to Chanak, 1894–1922. tr. 568.
  • Willmott, H. P. (2010). The Last Century of Sea Power, vol. 2: From Washington to Tokyo, 1922–1945. Indiana University Press. tr. xxii, 679. ISBN 978-0-253-35359-7.

Tàu chiến

  • George, James L. (1998). History of Warships: From Ancient Times to the Twenty-First Century. Naval Institute Press.
  • Ireland, Bernard; Grove, Eric (1997). Jane's War at Sea 1897–1997: 100 Years of Jane's Fighting Ships.
  • Peebles, Hugh B. (1987). Warshipbuilding on the Clyde: Naval Orders and the Prosperity of the Clyde Shipbuilding Industry, 1889–1939. John Donald.
  • Van der Vat, Dan (1995). Stealth at Sea: The History of the Submarine. Houghton Mifflin Company.

Thủy thủ và sĩ quan

Thế chiến thứ nhất

  • Bennett, Geoffrey (2014). Naval Battles of the First World War. Pen and Sword.
  • Halpern, Paul (2012). A Naval History of World War I. Naval Institute Press.
  • Hough, Richard (1987). The Great War at Sea, 1914–1918. Oxford University Press.
  • Marder, Arthur Jacob (1961). From the Dreadnought to Scapa Flow. Quyển 4.
  • O'Hara, Vincent P.; Dickson, W. David; Worth, Richard, biên tập (2013). To Crown the Waves: The Great Navies of the First World War.
  • Sondhaus, Lawrence (2014). The Great War at Sea: A Naval History of the First World War.

Thế chiến thứ hai

  • Barnett, Correlli (1991). Engage the Enemy More Closely: The Royal Navy in the Second World War.
  • Campbell, John (1985). Naval Weapons of World War Two. Naval Institute Press.
  • Morison, Samuel Eliot (1963). The Two-Ocean War: A Short History of the United States Navy in the Second World War.
  • O'Hara, Vincent (2013). The German Fleet at War, 1939–1945. Naval Institute Press.
  • Roskill, S. K. (1960). White Ensign: The British Navy at War, 1939–1945. United States Naval Institute.
  • Van der Vat, Dan (2001). The Pacific Campaign: The Second World War, the US-Japanese Naval War (1941–1945).

Các sử gia

  • Harding, Richard, biên tập (2015). Modern Naval History: Debates and Prospects. London: Bloomsbury.
  • Higham, John (2015). A Guide to the Sources of British Military History. tr. 654.
  • Messenger, Charles (2013). Reader's Guide to Military History. Routledge.
  • Zurndorfer, Harriet (2016). "Oceans of history, seas of change: recent revisionist writing in western languages about China and East Asian maritime history during the period 1500–1630". International Journal of Asian Studies. 13 (1): 61–94.