Bước tới nội dung

Thiện Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thiện Kỳ
善耆
Túc Thân vương nhà Thanh
Tại vị1898 - 1922
Thông tin chung
Sinh5 tháng 10, 1866
Bắc Kinh
Mất29 tháng 3, 1922
Lữ Thuận
Phối ngẫuxem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Thụy hiệu
Hòa Thạc Túc Trung Thân vương
(和碩肅忠親王)
Hoàng tộcnhà Thanh
Thân phụTúc Lương Thân vương Long Cần
Thân mẫuTrắc Phúc tấn Lý Giai thị

Thiện Kỳ (chữ Hán: 善耆, 5 tháng 10 năm 1866 - 29 tháng 3 năm 1922), tự Ngải Đường (艾堂) là một hoàng thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, người thừa kế 1 trong 12 tước vị Thiết mạo tử vương. Ngoài ra, ông còn là đại thần hoàng tộc trọng yếu giai đoạn cuối triều Thanh, thành viên của Nội các Khánh Thân vương, và là thành viên của Chính Học hội.

Cuộc đời

Thiện Kỳ sinh vào ngày 27 tháng 8 (âm lịch) năm Đồng Trị thứ 5 (1866) tại Bắc Kinh, trong gia tộc Ái Tân Giác La. Ông là con trai trưởng của Túc Lương Thân vương Long Cần, mẹ là Trắc Phúc tấn Lý Giai thị (李佳氏), con gái Phi giáp Thường Lâm (常林), vốn là Thứ Phúc tấn, nhờ sinh được con trai mà thăng vị Trắc Phúc tấn không lâu sau đó[1].

Năm Quang Tự thứ 19 (1893), ông vượt qua kỳ thi khảo hạch của hoàng gia và được ban hàm Trấn quốc tướng quân, sau đó kiêm nhiệm Càn Thanh môn Thị vệ, Phó Đô thống Hán quân Chính Bạch kỳ, đảm nhiệm Tả dực Đốc sát trong kỳ thi Hương tại Thuận Thiên. Năm Quang Tự thứ 24 (1898), phụ thân ông qua đời, ông được thế tập tước vị Túc Thân vương đời thứ 10, tiếp tục nhậm chức Thuế giám Sùng Văn môn, Bộ quân Thống lĩnh, Thượng thư bộ Dân chính, là một trong những người đặt nền móng cho chế độ cảnh sát hiện đại của Trung Quốc. Cuối triều Thanh, ông tán thành phong trào Lập hiến. Tuy triều đại sắp sụp đổ nhưng ông không có hành động quyết liệt, nội tâm có phần đồng tình với cách mạng. Những năm đầu triều Tuyên Thống, ông đích thân thẩm vấn Uông Tinh Vệ sau vụ mưu sát Giám quốc Nhiếp chính vương và đã miễn tội chết cho nhân vật này (trong thời gian đó còn ngầm cho phép Trần Bích Quân vào thăm ngục), việc này khiến ông bị Nhiếp chính vương hạch tội.

Sau Cách mạng Tân Hợi, ông trở thành cốt cán của đảng Tông Sách. Năm 1912, ông cựu tuyệt ký tên vào Chiếu thư thoái vị của Tuyên Thống Đế theo yêu cầu của Viên Thế Khải, sau đó trốn sang Lữ Thuận (nay là thành phố Đại Liên), vùng đất khi ấy thuộc đạo quân Quan Đông của Nhật Bản. Vào thời điểm Trương Huân phục bích năm 1917, ông hai lần phát động Phong trào Mãn Mông độc lập nhưng đều kết thúc thất bại.

Năm 1922, ông bạo bệnh qua đời tại Lữ Thuận, linh cữu được vận chuyển về an táng tại nghĩa trang Túc Thân vương ở Bắc Kinh (di chỉ nằm cạnh mộ tổ tiên Hiển Cẩn Thân vương Diễn Hoàng, nay thuộc phía đông tòa nhà số 3 khu Phan Gia Viên Đông Lý). Hoàng đế Phổ Nghi truy thụy hiệu cho ông là Trung (忠), gọi là Túc Trung Thân vương (肃忠亲王). Ông có sở thích xem Kinh kịch.

Gia quyến

Thê thiếp

Đích Phúc tấn

  • Hách Xá Lý thị (赫舍里氏), xuất thân Mãn Châu Chính Lam kỳ, cháu gái Ninh Hạ Tướng quân Phú Nhĩ Tùng A (富尔嵩阿), con gái Trực Lệ binh đạo Anh Lương (英良).

Trắc Phúc tấn

  • Trình Giai thị (程佳氏), con gái của Khánh Vinh (庆荣). Vốn là thứ thiếp, được thăng làm Trắc Phúc tấn vào năm Quang Tự thứ 24 (1898)[2].
  • Đồng Giai thị (佟佳氏), con gái của Văn Ngọc (文玉). Vốn là thứ thiếp, được thăng làm Trắc Phúc tấn vào năm Quang Tự thứ 28 (1902)[3].
  • Khương Giai thị (姜佳氏), con gái của Thừa Ân (承恩). Vốn là thứ thiếp, được thăng làm Trắc Phúc tấn vào năm Quang Tự thứ 28 (1902)[3].
  • Trương Giai thị (张佳氏), con gái của Phúc Vĩnh (福荣).

Thứ thiếp

  • Lý Giai thị (李佳氏), con gái của Lý Đại (李大).
  • Trương Giai thị (张佳氏), con gái của Trương Bách Thọ (张百寿).
  • Không rõ họ, vốn là thị nữ hầu cận của Đích Phúc tấn.

Con cái

Con trai

  1. Hiến Chương (憲章, 1885 - 1947), mẹ là Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị. Năm 1922 kế thừa tước vị Túc Thân vương, là vị Túc Thân vương cuối cùng của nhà Thanh. Đích thê là con gái Trát Tất Khắc Thân vương Na Ngạn Đồ, có hai con gái.
  2. Hiến Đức (宪德), mẹ là Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị. Đích thê là Phí Mặc thị (費莫氏), con gái Tri phủ Thụy Linh (正蓝).
  3. Hiến Bình (宪平), mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  4. Hiến Thường (宪常), chết yểu, mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  5. Hiến Nghi (宪宜), mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  6. Hiến Anh (宪英), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  7. Hiến Khuê (宪奎, 1896 - 1941), sau đổi tên thành Kim Bích Đông (金壁东), mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị. Từng làm Chủ tịch Hiệp hội Điện ảnh Mãn Châu.
  8. Hiến Chân (宪真, 1896 - ?), mẹ là Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị. Từng làm Giám sát quan tại Giám sát viện, Cục trưởng Cục thứ hai thuộc Cục Kiểm toán.
  9. Hiến Quý (宪贵), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  10. Hiến Bang (宪邦), mẹ là Trắc Phúc tấn Khương Giai thị.
  11. Hiến Nguyên (宪原, 1902 - ?), tự Bản Chi (本之), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị. Tốt nghiệp Sĩ quan Lục quân Nhật Bản, từng làm Tham mưu trưởng Tổng công thự Đốc biện biên giới Mông Cổ, Kỵ binh Đội trưởng đội du kích Tĩnh An, và giữ hàm Thiếu tướng Lục quân bộ Quân chính sau khi Mãn Châu Quốc thành lập. Đích thê là Hoàn Nhan thị (完顏氏), cháu gái Tiến sĩ Tung Thân (內務).
  12. Hiến Quân (宪均), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  13. Hiến Vân (宪云), mẹ là Trắc Phúc tấn Khương Giai thị.
  14. Hiến Lập (宪立), tự Định Chi (定之), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Từng du học Nhật Bản, từng làm Thư ký Ngoại giao công thự tỉnh Hắc Long Giang, đảm nhiệm chức Cục trưởng Cục Thị chính Tề Tề Nhĩ Cáp Nhĩ thuộc Mãn Châu Quốc.
  15. Hiến Cửu (宪久), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  16. Hiến Phương (宪方), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Có một con trai.
  17. Hiến Cơ (宪基), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị.
  18. Hiến Khai (宪开), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị.
  19. Hiến Dung (宪容), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị.
  20. Nhị thập tử chết yểu, mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị.
  21. Hiến Đông (宪东), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Từng tham gia phong trào Kháng Nhật bí mật dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nghỉ hưu năm 1978 và hưởng chế độ đãi ngộ cấp Địa chuyên.

Con gái

  1. Hiển Nghi (显宜), mẹ là Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị. Lấy Tri phủ Thượng Cửu Cần (尚久勤) xuất thân Hán Quân Tương Lam kỳ.
  2. Hiền Nhĩ (显珥), mẹ là Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị. Lấy Hi Dung (熙庸), con trai Tứ Xuyên Bố chính sứ Doãn Lương (尹良) xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ.
  3. Hiển San (显珊), mẹ là thứ thiếp không rõ họ, sau được giao cho Trắc Phúc tấn Trình Giai thị nuôi dưỡng.
  4. Tứ nữ chết yểu, mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  5. Ngũ nữ chết yểu, mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  6. Lục nữ chết yểu, mẹ là Trắc Phúc tấn Trình Giai thị.
  7. Hiển Kỳ (显琪), mẹ là Trắc Phúc tấn Khương Giai thị. Lấy La Tế Sâm (羅際駪), con trai Thiểm Cam Tổng đốc Thừa Tuyên (升允) xuất thân Mông Cổ Tương Hoàng kỳ.
  8. Bát nữ chết yểu, mẹ là thứ thiếp Lý Giai thị.
  9. Hiển Cửu (显玖), mẹ là Trắc Phúc tấn Khương Giai thị.
  10. Hiển Sạn (显瑡), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  11. Thập nhất nữ chết yểu, mẹ là thứ thiếp Lý Giai thị.
  12. Hiển Nga (显珴), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị. Có một con gái.
  13. Hiển Tông (显琮), mẹ là Trắc Phúc tấn Khương Giai thị.
  14. Hiển Du (显玗, 1907 - 1948), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Sau lấy người Nhật, đổi tên thành Kawashima Yoshiko (川岛芳子, Xuyên Đảo Phương Tử). Được đào tạo và trở thành điệp viên của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai, nổi tiếng với sắc đẹp được gọi là "Hòn ngọc Phương Đông" (東珍, Đông Trân).
  15. Hiển Cấu (显玽), mẹ là Trắc Phúc tấn Đồng Giai thị.
  16. Hiển Lưu (显瑠), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị.
  17. Hiển Kỳ (显琦, 1918 - 2014), sau đổi tên thành Kim Mặc Ngọc (金默玉), mẹ là Trắc Phúc tấn Trương Giai thị. Từng được đi du học Nhật Bản, lấy họa sĩ Mã Ngạn Lí (马万里).

Chú thích

  1. ^ 同治十一年十二月十七日宗人府左司《為肅親王隆懃之庶福晉李氏安氏封為側福晉已經奉旨行禮部等處事》,中國第一歷史檔案館藏,檔案號:06-01-002-000373-0112
  2. ^ 光緒二十四年十二月十五日《為知照和碩肅親王善耆之媵妾程佳氏和碩慶親王奕劻之媵妾李佳氏均封為側福晉事致內務府》,中國第一歷史檔案館藏,檔案號:05-13-002-000950-0139
  3. ^ a b 光緒二十八年十二月二十三日禮部《為知照肅親王善耆之媵妾佟佳氏姜佳氏均照例封為側福晉事致宗人府》,中國第一歷史檔案館藏,檔案號:06-01-001-000460-0120