Nhân Tổ Thuần Hoàng hậu
Thuần Hoàng hậu Trần thị (chữ Hán: 純皇后陈氏, 1286 – 22 tháng 4 năm 1344), vốn là nông dân người Hán vào cuối thời Nguyên.[4][5] Là thê tử của Minh Nhân Tổ Chu Thế Trân, sinh mẫu của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Sau này con trai đăng cơ đã truy phong bà làm Hoàng hậu.
| Thuần Hoàng hậu 純皇后 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Minh Thái Tổ sinh mẫu | |||||
| Hoàng hậu nhà Minh (truy tôn) | |||||
| Truy tôn | 1368 | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Sinh | 1286 | ||||
| Mất | 22 tháng 4 năm 1344 Hoài Bắc, An Huy | ||||
| An táng | Minh Hoàng lăng (明皇陵), thị trấn Phủ Thành, huyện Phượng Dương, Trừ Châu, tỉnh An Huy | ||||
| Phối ngẫu | Minh Nhân Tổ Chu Thế Trân | ||||
| Hậu duệ | Nam Xương vương Chu Hưng Long Hu Di vương Chu Hưng Thịnh Lâm Hoài vương Chu Hưng Tổ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương Thái Nguyên Công chúa Chu thị Tào Quốc Công chúa Chu Phật Nữ | ||||
| |||||
| Tước hiệu | Công phu nhân (公夫人) (truy tặng)[1] Hoàng hậu (純l皇后) (truy tôn)[2] | ||||
| Hoàng tộc | nhà Minh | ||||
| Thân phụ | Trần Công[3] | ||||
Tiểu sử
Thân thế
Thuần Hoàng hậu không rõ ngày tháng sinh, biết bà sinh năm Chí Nguyên thứ 23 (1286), xuất thân Trần thị (陈氏). Là con gái của Dương vương, Dương vương được gọi là Trần Công (陈公),[6] từng làm binh lính vào cuối thời nhà Tống. Sau khi nhà Tống diệt vong, ông mưu sinh bằng nghề xem phong thủy và bói toán. Khi Chu Nguyên Chương xưng đế, đã truy phong ông ngoại Trần Công làm Vương và xây dựng lăng mộ cho ông.
Chuyện lạ khi sinh
Trần thị sinh được bốn con trai và hai con gái cho Chu Thế Trân, bao gồm Nam Xương vương Chu Hưng Long, Hu Di vương Chu Hưng Thịnh, Lâm Hoài vương Chu Hưng Tổ, Chu Nguyên Chương cùng Thái Nguyên Trưởng công chúa và Tào Quốc Trưởng công chúa Chu Phật Nữ.[4] Theo ghi chép, khi bà mang thai từng mơ thấy thần linh ban cho một viên thuốc phát sáng, sau khi nuốt vào thì miệng lưu lại hương thơm. Khi Chu Nguyên Chương ra đời, ánh sáng đỏ rực khắp phòng, ban đêm nhiều lần hiện lên ánh sáng lạ, khiến hàng xóm thường lầm tưởng là hỏa hoạn nên chạy đến cứu hỏa.[5]
Qua đời
Năm Chí Chính thứ 4 thời Nguyên (1344), vùng Hoài Bắc gặp thiên tai hạn hán, nạn châu chấu và dịch bệnh. Chu Thế Trân nhiễm bệnh qua đời vào ngày mùng 6 tháng 4, con trai cả Chu Hưng Long qua đời vào ngày mùng 9 tháng 4, còn Trần thị nhiễm bệnh qua đời vào ngày 22 tháng 4.[7] Vì nhà nghèo, họ được người hàng xóm Lưu Kế Tổ (刘继祖) tặng đất để an táng, sau này khu đất mộ chính là Minh Hoàng lăng cũng gọi là Phượng Tuyền lăng (Phượng Dương lăng).[8][9]
Truy tôn
Năm Long Phụng thứ 9 thời Hàn Lâm Nhi (1363), Chu Thể Trân được truy tặng làm Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thượng trụ quốc, Lục quân quốc trọng sự, Trung thư Hữu thừa tướng, Thái úy, Ngô quốc công, Trần thị được truy tặng làm Công phu nhân.[10]
Năm Hồng Vũ nguyên niên (1368), sau khi Chu Nguyên Chương thành lập nhà Minh, đã truy tôn cha làm Nhân Tổ Thuần Hoàng đế (仁祖淳皇帝), Trần thị nhận thụy hiệu là Thuần Hoàng hậu (純皇后).[11] Lăng tẩm của bà là Minh Hoàng lăng (明皇陵) hiện còn lưu giữ các di tích như tượng sinh thạch (tượng đá người và thú), bia không chữ..., năm 1982 được liệt kê là Đơn vị bảo tồn cổ vật trọng điểm toàn quốc.[12]
Giai thoại và điển cố
Các ghi chép về Thuần Hoàng hậu Trần thị phần lớn đều liên quan đến truyền thuyết sinh nở thần dị của con trai bà là Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Theo các tài liệu lịch sử như Minh Sử Bản kỷ đệ nhất Thái Tổ nhất (明史卷一 本纪第一 太祖一), Minh Thái Tổ Thực lục (明太祖实录), khi Trần thị mang thai, từng mơ thấy thần nhân (hoặc gọi là Hoàng Quán tiên nhân, đạo sĩ) ban cho một viên thuốc phát sáng, nuốt vào miệng lưu hương thơm, sau đó mang thai Chu Nguyên Chương.[5][7][13]
Khi Chu Nguyên Chương chào đời, "ánh sáng đỏ rực cả phòng", ban đêm nhiều lần hiện ánh sáng lạ, khiến hàng xóm thường lầm tưởng là cháy nhà nên vội vã chạy đến cứu. Những ghi chép mang tính thần dị này xuất hiện sớm nhất trên "Đại Minh Hiếu Lăng Thần Công Thánh Đức Bia" do Minh Thành Tổ Chu Đệ soạn thảo.[5][13]
Hậu duệ
- Trưởng tử: Chu Hưng Long (朱兴隆, 1307 – 1344), tên thật là Chu Trọng Tứ (朱仲四). Sau khi em trai đăng cơ đã truy phong ông làm Dự Chương vương (豫章王), sau đổi thành Nam Xương vương (南昌王). Ông có một người vợ là Vương thị (王氏), có hai con trai và một con gái lần lượt là trưởng tử Sơn Dương vương Chu Thánh Bảo (山阳王朱圣保), nhị tử Nam Xương vương Chu Văn Chính (朱文正), trưởng nữ Phúc Thành Công chúa (福成公主).[14]
- Nhị tử: Chu Hưng Thịnh (朱兴盛, ? – ?), tên thật là Chu Trọng Lục (朱仲六). Sau khi em trai đăng cơ đã truy phong ông làm Hu Di vương (盱眙王), con trai duy nhất của ông Chu Vượng (朱旺) cũng được truy phong làm Chiêu Tín vương (昭信王).[14]
- Tam tử: Chu Hưng Tổ (朱兴祖, ? – ?), tên thật là Chu Trọng Thất (朱仲七). Sau khi em trai đăng cơ đã truy phong ông làm Lâm Hoài vương (临淮王), ông không có hậu duệ nào.[14]
- Tứ tử: Chu Hưng Tông (朱兴宗, 21 tháng 10 năm 1328 – 24 tháng 6 năm 1398), tên thật là Chu Trùng Bát (朱重八), sau đổi tên thành Chu Nguyên Chương (朱元璋). Hoàng đế khai quốc nhà Minh tức Minh Thái Tổ Hồng Vũ Đế, vợ là Hiếu Từ Cao Hoàng hậu Mã thị. Ông và Mã Hoàng hậu có năm con trai và 2 con gái lần lượt là Ý Văn Thái tử Chu Tiêu, Tần Mẫn vương Chu Sảng, Tấn Cung vương Chu Cương, Minh Thành Tổ Chu Đệ, Chu Định vương Chu Túc, Ninh Quốc Công chúa, An Khánh Công chúa.[14]
- Trưởng nữ: Chu thị (朱氏, ? – ?), không rõ tên thật, Chu thị kết hôn với Vương Thất Nhất (王七一). Sau khi em trai đăng cơ đã truy phong bà làm Thái Nguyên Trưởng công chúa (太原长公主).[15]
- Nhị nữ: Chu thị (朱氏, 1317 – 1351), tên thật là Chu Phật Nữ (朱佛女), kết hôn với Lũng Tây Cung Hiến vương Lý Trinh, sinh được một người con là Kỳ Dương Vũ Tĩnh vương Lý Văn Trung. Sau khi em trai đăng cơ đã truy phong bà làm Hiếu Thân Công chúa (孝亲公主), năm Hồng Vũ thứ 3 (1370) cải phong thành Lũng Tây Trưởng công chúa (陇西长公主), năm Hồng Vũ thứ 5 (1372) nhờ vào công lao và địa vị của con trai bà được cải phong thành Tào Quốc Trưởng công chúa (曹国长公主).[16]
Tham khảo
- ^ Hàn Lâm Nhi truy tặng
- ^ Chu Nguyên Chương truy tôn
- ^ Trong tiếng Trung "Công" là chỉ người đàn ông, thường dùng cho những người đàn ông không rõ tên
- ^ a b Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 116 · Liệt truyện đệ tứ》: Nhân Tổ có bốn con trai. Trưởng là Nam Xương Vương, thứ là Hu Di Vương, kế là Lâm Hoài Vương, tiếp là Thái Tổ, đều do Trần Thái hậu sinh ra. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一百一十六·列传第四》仁祖,四子。长南昌王,次盱眙王,次临淮王,次太祖,俱陈太后生。
- ^ a b c d Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 1 · Bản kỷ đệ nhất》 · Quốc Học Mạng [Ngày trích dẫn: 25-06-2017] (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一·本纪第一》·国学网 [引用日期2017-06-25]
- ^ Trong tiếng Trung "Công" là chỉ người đàn ông, thường dùng cho những người đàn ông không rõ tên
- ^ a b Hiện thực và Hư cấu: Gia thế, thân thế của Chu Nguyên Chương cùng sự thần thánh hóa và mê tín trong các tác phẩm chính thức lẫn tư nhân · Bảo tàng Cố Cung · 31-05-2018 (Gốc) 真实与虚构 :朱元璋家世身世与 官方私人著述的神化及迷信·故宫博物院·2018-05-31
- ^ Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 1 · Bản kỷ đệ nhất》: Năm Chí Chính thứ tư, hạn hán và nạn châu chấu, nạn đói và dịch bệnh lớn xảy ra. Thái Tổ khi ấy mười bảy tuổi, cha mẹ và anh trai lần lượt qua đời, nhà nghèo không thể lo liệu an táng. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一·本纪第一》至正四年,旱蝗,大饥疫。太祖时年十七,父母兄相继殁,贫不克葬。
- ^ Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 1 · Bản kỷ đệ nhất》: Người trong làng là Lưu Kế Tổ ban cho đất, nhờ vậy mới có thể an táng, đó chính là Phượng Dương Lăng vậy. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一·本纪第一》里人刘继祖与之地,乃克葬,即凤阳陵也。
- ^ 《Yểm Sơn Đường biệt tập》 Quyển 6 · Tam tổ tước phong (Gốc) 《弇山堂别集》卷六·三祖爵封
- ^ 《Minh Sử · Quyển 2 · Bản kỷ đệ nhị》 · Quốc Học Đạo Hàng [Ngày trích dẫn: 25-06-2017] (Gốc) 《明史·卷二·本纪第二》 ·国学导航 [引用日期2017-06-25]
- ^ Đánh giá và phân tích tình trạng phong hóa của các tượng đá (thạch tượng sinh) tại Minh Hoàng Lăng ở Phượng Dương, An Huy · Hiệp hội Công nghệ Bảo tồn Di sản Văn hóa · 19-03-2021 (Gốc) 安徽凤阳明皇陵石像生风化状况评估及分析·文物保护技术协会·2021-03-19
- ^ a b So sánh về việc xây dựng hình tượng Hoàng đế trong Thực lục thời Minh và Thanh · Mạng Lịch sử Văn hóa Trung Hoa · 19-11-2018 (Gốc) 明清实录对皇帝形象塑造之比较·中华文史网·2018-11-19
- ^ a b c d Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 116 · Liệt truyện đệ tứ》: Nhân Tổ có bốn con trai. Trưởng là Nam Xương Vương, thứ là Hu Di Vương, kế là Lâm Hoài Vương, tiếp là Thái Tổ, đều do Trần Thái hậu sinh ra. Nam Xương Vương có hai con trai, trưởng là Sơn Dương Vương (không có hậu duệ), thứ là Văn Chính. Hu Di Vương có một con trai là Chiêu Tín Vương (không có hậu duệ). Lâm Hoài Vương không có con trai. Khi Thái Tổ khởi binh, các vương gia đều đã mất trước đó, chỉ còn duy nhất Văn Chính. Đầu năm Hồng Vũ, các vương gia đều được truy phong và đưa vào thờ phụng. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一百十六·列传第四》 仁祖,四子。长南昌王,次盱眙王,次临淮王,次太祖,俱陈太后生。南昌王二子,长山阳王,无后,次文正。盱眙王一子,昭信王,无后。临淮王无子。太祖起兵时,诸王皆前卒,独文正在。洪武初,诸王皆追封从祀。
- ^ Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 121 · Liệt truyện đệ cửu》: Thái Nguyên Trưởng công chúa do Thuần Hoàng hậu sinh ra, gả cho Vương Thất Nhất, mất sớm. Năm Hồng Vũ thứ ba được truy sắc phong, đồng thời truy tặng Vương Thất Nhất làm Vinh Lộc Đại phu Phò mã Đô úy, phái sứ giả chuẩn bị y phục mũ mão để cải táng tại Huất Di. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一百二十一·列传第九》太原长公主,淳皇后所生,嫁王七一,早卒。洪武三年追册,并赠七一荣禄大夫驸马都尉,遣使具衣冠改葬于盱眙 。
- ^ Trương Đình Ngọc (thời Thanh) · 《Minh Sử · Quyển 121 · Liệt truyện đệ cửu》: Tào Quốc Trưởng công chúa, là em gái cùng mẹ với Thái Nguyên Trưởng công chúa, gả cho Lý Trinh. (Gốc) 张廷玉(清)·《明史·卷一百二十一·列传第九》曹国长公主,太原主母妹,嫁李贞。