Đà Lôi
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Đà Lôi | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. Tranh vẽ Đà Lôi trong một bản thảo Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. thế kỷ thứ 14 của Rashid al-Din | |||||||||||||
| Nhiếp chính Đại Mông Cổ | |||||||||||||
| Tại vị | 25 tháng 8 năm 1227 – 13 tháng 9 năm 1229 | ||||||||||||
| Tiền nhiệm | Thành Cát Tư Hãn (khả hãn) | ||||||||||||
| Kế nhiệm | Oa Khoát Đài (khả hãn) | ||||||||||||
| Thông tin chung | |||||||||||||
| Sinh | Bản mẫu:Circa | ||||||||||||
| Mất | 1232 gần Trung Đô, Đại Kim | ||||||||||||
| Phối ngẫu | Trang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.
| ||||||||||||
| Hậu duệ | Trang Bản mẫu:Plainlist/styles.css không có nội dung.
| ||||||||||||
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| |||||||||||||
| Hoàng tộc | Bột Nhi Chỉ Cân | ||||||||||||
| Thân phụ | Thành Cát Tư Hãn | ||||||||||||
| Thân mẫu | Bột Nhi Thiếp | ||||||||||||
Đà Lôi (Bản mẫu:Langx; Bản mẫu:Circa – 1232) là con trai út của Thành Cát Tư Hãn và Bột Nhi Thiếp. Với tư cách là một trong những võ tướng nổi bật nhất tham gia các cuộc chinh phạt kỳ thủy của Mông Cổ, Đà Lôi là ứng cử viên triển vọng thừa kế ngai hãn sau cái chết của phụ thân vào năm 1227, rốt cuộc nắm quyền nhiếp chính Đế quốc Mông Cổ cho tới khi Oa Khoát Đài đăng cơ hai năm sau. Ông kết hôn với Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni và hạ sinh nhiều người con trai, trong đó có Mông Kha và Hốt Tất Liệt, lần lượt giữ ngai khả hãn thứ tư và thứ năm của Mông Cổ, và Húc Liệt Ngột, người sáng lập Hãn quốc Y Nhi.
Không có nhiều ghi chép về hoạt động của Đà Lôi trong quá trình Thành Cát Tư Hãn vươn lên nắm quyền bính như những hoàng huynh (Truật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài); song một khi trưởng thành, ông trở thành võ tướng thiện chiến nhất của phụ hãn. Đà Lôi chỉ huy nhiều cánh quân xâm lược nhà Kim ở Hoa Bắc giai đoạn 1211–1215 và các chiến tích trên lãnh thổ Khwarazm càng khẳng định uy danh của ông. Theo sau sự sụp đổ của Transoxiana vào năm 1220, Thành Cát Tư cử Đà Lôi đi đánh chiếm và bình định Khorasan. Ông thực hiện mệnh lệnh của phụ hãn với hiệu quả vượt bậc, công hạ các thành lớn như Merv, Nishapur, Herat, và khuất phục vô số thị trấn khác. Sử gia Ba Tư đương thời ước đoán số người chết trong hai cuộc thảm sát tại Nishapur và Merv là vào khoảng ba triệu; tuy bị coi là thổi phồng thái quá theo giới sử học hiện đại, những con số này vẫn là bằng chứng cho thấy sự tàn khốc bất thường trong cung cách xử sự đối với kẻ bại trận dưới tay Đà Lôi.
Vì sản nghiệp của thân phụ được truyền lại cho người con trai út trong gia đình Mông Cổ truyền thống, Đà Lôi luôn là một trữ quân tiềm năng. Quyền kế vị của ông được củng cố khi cả Truật Xích và Sát Hợp Đài bị loại khỏi tước trữ quân, lần lượt vì sự ngoài giá thú và ngạo mạn thái quá của mỗi hoàng huynh; Thành Cát Tư Hãn rốt cuộc lựa chọn Oa Khoát Đài thay vì Đà Lôi. Từ năm 1225, Đà Lôi suất lĩnh quân đội phạt Hạ và chứng kiến cái chết của phụ hạn giữa năm 1227; với danh nghĩa là con trai út, ông trở thành quốc giám Mông Cổ, quán xuyến hậu sự cho phụ hãn và tạm thời nắm quyền cai trị đất nước. Rất có thể ông đã cố tình trì hoãn khai mạc hội nghị quý tộc kurultai trong hai năm kế tiếp để kéo bè lập mình lên ngôi khả hãn; song sau rốt, ông tuyên thệ trung thành với hoàng huynh Oa Khoát Đài, người đăng cơ năm 1229, đúng như ý nguyện của cha.
Tên gọi
Cái tên Latinh hóa "Tolui" (chữ Mông Cổ: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”., chữ Kirin: Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”., Bản mẫu:Literally) cũng có thể được chuyển tự sang tiếng Anh là Toli hoặc Tuluy.Bản mẫu:Sfnm Sử gia Isenbike Togan suy đoán rằng Thành Cát Tư đã từng có ý định thay thế tước hiệu Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”., truyền thống được ban cho con trai út trong gia đình Mông Cổ thời tiền đế quốc, bằng tước hiệu "Tolui".Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “anchor”.Cuộc đời
Dưới trướng Thành Cát Tư Hãn (k. 1191 – 1227)
Năm sinh của Đà Lôi là vấn đề bị tranh cãi; Christopher Atwood cho rằng ông sinh năm 1191 hoặc 1192,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. trong khi hai nhà Hán học Frederick W. Mote và Paul Ratchnevsky áng chừng ông sinh vào khoảng cuối những năm 1180.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi là con trai út của Thiết Mộc Chân, tức Thành Cát Tư Hãn tương lai, và người vợ chính thất Bột Nhi Thiếp; những người anh trai của ông bao gồm Truật Xích (Bản mẫu:Sinh năm), Sát Hợp Đài (Bản mẫu:Sinh năm), và Oa Khoát Đài (Bản mẫu:Sinh năm).Bản mẫu:Sfnm Ngoài ra, ông có năm chị em ruột từ cao xuống thấp là
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link,
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link,
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link,
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link, và
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Ít lâu sau cuộc thảo phạt tộc Thát Đát của Thiết Mộc Chân Bản mẫu:Circa, Đà Lôi, khi đó còn nhỏ, là đối tượng của một vụ bắt cóc như được thuật lại trong hai sử liệu: bài thơ Mông Cổ bí sử thế kỷ thứ 13 của một tác giả khuyết danh và tập chính sử Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. thế kỷ thứ 14 do sử gia Ba Tư Rashid al-Din biên soạn. Theo Bí sử, cậu bé Đà Lôi 5 tuổi đã được cứu mạng bởi Altani, vợ của tướng quân
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link, người đã bám giữ tên thảo khấu Thát Đát cho tới khi hai chiến binh Mông Cổ xông ra chém chết hắn; Rashid al-Din thì kể rằng ông được cứu bởi anh trai nuôi
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link với sự trợ giúp của một chú chó chăn cừu.Bản mẫu:Sfnm Sau khi hãn của tộc Khắc Liệt là Thoát Lý bị đánh bại vào năm 1203, Đà Lôi cưới hai cháu gái của vị bại tướng là Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni và
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link làm vợ; cả hai bà đều theo Kitô giáo Nestorius.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi và Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni có với nhau con trai đầu lòng Mông Kha vào năm 1209; rồi Hốt Tất Liệt và Húc Liệt Ngột lần lượt chào đời vào năm 1215 và 1217, trong khi con trai út A Lý Bất Ca sinh sau đẻ muộn tới tận một thập kỷ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đà Lôi cũng cưới Lingqun, con gái vương tử Khuất Xuất Luật của tộc Nãi Man, và có với bà một người con tên
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Đà Lôi được coi là chiến binh giỏi nhất trong số những hoàng tử của Thiết Mộc Chân, người đã được suy tôn danh hiệu Thành Cát Tư Hãn tại đại nghị kurultai năm 1206.Bản mẫu:Sfnm Ông suất lĩnh nhiều đạo quân trong chiến dịch xâm lược nhà Kim của Mông Cổ; khi Thành Cát Tư bị trúng tên trọng thương trong cuộc vây hãm Tây Kinh (nay là Đại Đồng), Đà Lôi được giao phó quyền chỉ huy lực lượng đồn trú bên ngoài cho tới lúc thoái lui.Bản mẫu:Sfnm Cùng với anh rể Chigü, Đà Lôi leo lên tường thành
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link và giáp chiến với quân Kim vào mùa thu năm 1213, trong lúc đại quân Mông Cổ đang chuẩn bị tiến đánh ải Cư Dung.Bản mẫu:Sfnm
Chiến dịch Khorasan (1221)

Trong cuộc chinh phục Khwarazm, mở màn từ năm 1219, Đà Lôi ban đầu tòng chinh theo chân phụ hãn. Hai cha con bỏ qua thành Otrar đang bị vây hãm bởi các hoàng tử lớn hòng tấn công bất ngờ Transoxiana — cung điện của shah tại Samarkand và thành Bukhara lân cận — vào đầu năm 1220.Bản mẫu:Sfnm Thành Bukhara thất thủ sau một trận vây hãm chớp nhoáng và Samarkand chịu chung số phận chỉ vài tháng sau.Bản mẫu:Sfnm Thành Cát Tư nam tiến xuống Dãy Turkestan để binh lính nghỉ hè, trong khi Triết Biệt và Tốc Bất Đài tây tiến, và các hoàng tử tiếp tục tuần tiễu lãnh thổ thù địch; Thành Cát Tư triển quân trở lại vào mùa thu để đánh Termez.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Đà Lôi và phụ hãn dành mùa đông năm 1220–21 truy quét phiến quân ở thượng nguồn sông Vakhsh, nay thuộc Tajikistan. Tại thời điểm này, Triết Biệt và Tốc Bất Đài đã tiến vào tây Iran, và những thành trì từng quy phục Mông Cổ tại Khorasan giờ đây dấy loạn; con rể của Thành Cát Tư là Toquchar bị quân khởi nghĩa Nishapur bắt giết vào tháng 11 năm 1220.Bản mẫu:Sfnm Sau khi chiếm đoạt Balkh đầu năm 1221 và đương lúc công thành Taliqan, Thành Cát Tư đã cử Đà Lôi đi bình định Khorasan giàu có bằng bất cứ giá nào có thể. Theo sử gia J.A. Boyle, Đà Lôi thực hiện mệnh lệnh của phụ hãn "với một sự kỹ lưỡng mà khiến khu vực này không thể nào phục hồi".Bản mẫu:Sfnm
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Multiple image”. Cánh quân của Đà Lôi cấu thành 1/10 lực lượng xâm lược của Mông Cổ cộng thêm số lính Khwarazm bị sung quân; sử gia Carl Sverdrup ước tính quân số của cánh này rơi vào khoảng 7.000.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi khởi hành từ Balkh tới Murichaq, ngày nay nằm trên biên giới Afghanistan – Turkmenistan, rồi vượt sông Marghab và các phụ lưu của sông Kushk nhằm tiếp cận Merv từ phía nam. Ông mai phục và đánh tan một toán du kích người Turkmen trong đêm ngày 24 tháng 2 – những kẻ không bị bắt giết hoặc chết đuối đều chạy tản mác hết cả. Quân Mông đặt chân đến Merv vào ngày hôm sau.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Sau sáu ngày dò la, Đà Lôi cho rằng cuộc vây hãm tiếp theo sẽ không phải chuyện một sớm một chiều. Thực tế tuy nhiên lại khác xa; nếm trải đòn công kích vào ngày thứ bảy, thị dân của Merv nhụt chí đầu hàng và giao nộp thành trì cho quân thù, cầu mong được hưởng khoan hồng.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi thất hứa, lùa dân chúng ra ngoài đồng nội để giết chóc, chỉ hạ lệnh tha bổng cho một số thợ thủ công mỹ nghệ và con trẻ. Tương truyền mỗi lính Mông Cổ được giao nhiệm vụ giết từ 300–400 thị dân. Sử gia Ả Rập đương thời Ibn al-Athir ước đoán số người chết trong cuộc thảm sát là 700.000; trong khi sử gia Ba Tư Ata-Malik Juvayni, người chắp bút viết sử vài thập kỷ sau, kể rằng một giáo sĩ đã dành 13 ngày đếm xác chết và đưa ra con số 1.300.000.Bản mẫu:Sfnm
Đà Lôi tiến về phía tây nam tới Nishapur. Một năm trước, shah Muhammad II của Đế quốc Khwarazm đã nương náu ở đây vào ngày 18 tháng 4 năm 1220 trên đường trốn chạy khỏi cuộc tiến công Transoxiana của Mông Cổ. Ông rời ngôi thành vào trung tuần tháng 5 cùng năm, suýt soát thoát khỏi cuộc truy kích của Triết Biệt và Tốc Bất Đài một ngày.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Dân chúng trong thành đầu hàng hai viên tướng Mông Cổ; họ được yêu cầu hạ giải tường lũy và tiếp tế cho các cánh quân Mông đi qua, song thị dân trong thành không tuân chỉ mà sau còn nổi loạn, giết chết quan trấn thành Mông Cổ được cắt đặt tại đây là Toquchar.Bản mẫu:Sfnm Jalal al-Din, đích trưởng tử và bấy giờ là trữ quân của Muhammad II quá cố, ghé qua Nishapur vào ngày 10 tháng 2 năm 1221 trên đường di tản khỏi đế đô Gurganj vì cuộc vây hãm đang diễn ra tại đây, tuy nhiên ông chỉ nán lại vài ngày rồi lập tức xuất hành tới Zozan.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Đà Lôi đặt chân đến Nishapur vào ngày 7 tháng 4. Choáng ngợp trước quân số của Mông Cổ, cư dân nơi đây lập tức tìm cách cầu hòa. Bởi việc giết con rể đại hãn bị coi là trọng tội, tất cả các điều khoản thỏa hiệp của thành phố bị bác bỏ; cuộc công thành bắt đầu vào chiều muộn ngày 7, tới ngày 9 tháng 4 thì ngã ngũ và thành phố thất thủ hoàn toàn vào ngày hôm sau.Bản mẫu:Sfnm Theo Juvayni, Đà Lôi ra lệnh làm cỏ dân chúng trong thành; góa bụa của Toquchar tham gia chỉ đạo cuộc lạm sát, chiếu cố tha mạng cho 400 thợ thủ công. Không như ở Merv, con trẻ tại Nishapur cũng bị đem ra giết; xác của 1.747.000 nạn nhân, gồm cả chó mèo, chất thành đống.Bản mẫu:Sfnm Nền đất sau đó bị cày xới để không gì có thể phục hồi.Bản mẫu:Sfnm Đà Lôi cũng sai các toán du quân đi khuất phục các thị trấn như Abiward, Nasa, Tus, và Jajarm.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Tồn tại một chi tiết nhập nhằng xung quanh số phận của Herat, tòa thành lớn cuối cùng tại Khorasan: Sử gia thế kỷ thứ 20 Vasily Bartold dẫn nguồn dã sử địa phương những năm 1400, theo đó khẳng định rằng không một cư dân nào trong thành phố bị bách hại ngoại trừ binh lính đồn trú; sử gia Minhaj-i Siraj Juzjani, người từng đụng độ với quân Mông gần đó, thì khẳng định rằng sau cuộc bao vây kéo dài suốt 8 tháng, thành phố thất thủ và dân chúng bị thảm sát.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Giờ đây ta biết rằng, dựa trên một cuốn biên niên sử tìm được vào năm 1944, từng có hai trận vây hãm khác nhau diễn ra tại Herat. Trận thứ nhất khơi mào do sứ thần Mông Cổ cử đi bị giết; Đà Lôi phẫn nộ tấn công dồn dập ngôi thành trong 8 ngày trời, rốt cuộc bắt giết được Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”. (tổng đốc) của thành phố. Đứng ở rìa hào, ông chiêu hàng dân chúng trong thành và hứa sẽ tỏ khoan hồng. Không như ở Merv, quân Mông tôn trọng lời hứa, chỉ đem 12.000 quân binh thủ thành ra tử hình. Sau khi cắt đặt quan giám hộ, Đà Lôi hội quân với phụ hãn tại Taliqan giữa năm 1221.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Thành này sau đó nổi dậy và bị tướng Mông Cổ là
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link đánh dẹp. Tương truyền ông ta đã cho binh lính bản bộ giết hại từ 1.600.000–2.400.000 người trong một cuộc thảm sát kéo dài 7 ngày vào năm 1222.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Những con số nhắc đến bên trên thường bị coi là thổi phồng theo giới sử học hiện đại. Các cổ trấn như Merv, Nishapur và Herat chỉ có sức chứa hạn chế,Bản mẫu:Sfnm và các nguồn sử liệu ghi nhận dân số hồi sinh một cách thần kì sau mỗi cuộc thảm sát — ví dụ, con trai nuôi của Thành Cát Tư,
- đổi Bản mẫu:Interlanguage link, được cho là đã thảm sát thêm 100.000 cư dân tại Merv vào tháng 11 năm 1221 sau khi thành này làm phản.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Những con số này tuy vậy vẫn phản ánh một thảm họa nhân khẩu đáng kể mà dân địa phương xem là ngoài sức tưởng tượng.Bản mẫu:Sfnm Sử gia Michal Biran bình rằng, sự truyền bá chiến sự kiểu Đông Á khốc liệt hơn vào thế giới Hồi giáo có thể được coi là một yếu tố gây ra sự choáng ngợp này.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Nhiếp chính và vấn đề nối ngôi (1227–1229)
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”.

Các bộ lạc thảo nguyên Mông Cổ không tuân theo một hệ thống kế thừa cố định nào. Thường thì người con trai út sẽ tiếp nối thân phụ, bởi vì chúng có ít thời gian nhất trong số các anh em để chiêu mộ tùy thần và gây dựng cơ đồ.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Tuy nhiên, luật kế thừa kiểu này chỉ áp dụng cho tài sản, không phải tước hiệu.Bản mẫu:Sfnm Thông qua hệ thống thái ấp Mông Cổ, Thành Cát Tư cấp phong đất đai và thần dân cho thân tộc. Anh em của vị khả hãn gồm Cáp Tát Nhi, Cáp Xích Ôn, Thiếp Mộc Cách (Thiết Mộc Ca) và Biệt Lặc Cổ Đài được ban cho các mảnh đất ở mạn đông của dãy núi Đại Hưng An,Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. trong khi các hoàng tử được cấp đất bên mạn tây: Truật Xích tiếp quản các vùng đất xung quanh sông Irtysh trải dài tới Siberia và lãnh thổ của người Kipchak; Sát Hợp Đài tiếp quản đất Tây Liêu xung quanh Almaligh thuộc Turkestan; Oa Khoát Đài tiếp quản Dzungaria;[a] còn Đà Lôi tiếp quản đất tổ quanh Dãy núi Altai.Bản mẫu:Sfnm
Dưới trướng Oa Khoát Đài và cái chết (1229–1232)
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Multiple image”. Dư đảng của nhà Kim tại Thiểm Tây tỏ ra hết sức ngoan cố dưới thời cai trị của Oa Khoát Đài: tướng quân cầm đầu của Kim đánh bại một đội quân Mông Cổ tại ải Đồng Quan vào năm 1230. Oa Khoát Đài khởi binh thân chinh vào mùa thu cùng năm; đồng hành với ông có Đà Lôi và con trai của hoàng đệ là Mông Kha, vốn được dưỡng dục bởi người vợ thứ ba không có con của Oa Khoát Đài là Angqui.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Dòng thời gian diễn tiến chiến dịch phạt Kim sau đó không rõ ràng, bị làm trầm trọng thêm bởi truyền thống cắt bỏ thông tin cấm kỵ trong các bộ chính sử. Sau đây là diễn giải của Christopher Atwood: bại vong tại ải Đông Quan có lẽ đã kéo theo hai chiến bại tiếp theo, có liên quan đến danh tướng Tốc Bất Đài; những đình đốn này đã đe dọa đến triều đại của Oa Khoát Đài và buộc ông cũng như thân tộc phải tự tay hành động.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Nhiều sử liệu thời Hốt Tất Liệt, một người con trai khác của Đà Lôi, cáo buộc sự lãnh đạo yếu kém của Oa Khoát Đài là lý do cho những thất bại triền miền của Mông Cổ, đồng thời tôn vinh Đà Lôi vì các chiến tích về sau cũng như những lời tham chính khôn ngoan của ông nhằm nguôi ngoai tính cách đay nghiến của hoàng huynh.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Footnotes”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.
Gia quyến
Thê thiếp
- Tỏa Lỗ Hòa Thiếp Ni Khả đôn (唆鲁禾帖尼, Sorghaghtani Beki, 1190 - 1252), Khắc Liệt thị, cháu gái Thoát Lý, là người theo Công giáo phương Đông. Là mẹ của bốn vị Khả hãn Mông Cổ nên còn được gọi là "Tứ đế chi mẫu", sau khi Mông Kha lên ngôi tôn vị Hoàng thái hậu[1], sau khi qua đời ban đầu truy phong Trang Thánh Hoàng hậu (庄圣皇后), sau cải thành Hiển Ý Trang Thánh Hoàng hậu (显懿庄圣皇后). Sinh năm con trai và hai con gái.
- Thoát Cổ Tư Khả đôn (脫古思可敦, Tuokusk, ? - 1265), em gái trong họ của Toa La Cốt Mục Ni Khả đôn. Vốn được hứa hôn cho Đà Lôi nhưng trước khi thành hôn thì Đà Lôi qua đời, cải giá với Húc Liệt Ngột.
- Lĩnh Hốt Mộc Khả đôn (领忽木, Linggun), con gái Khuất Xuất Luật, sinh một con trai và một con gái.
- Toa Lỗ Hắc Khả đôn (莎鲁黑, Shaluhe), người bộ tộc Nãi Man, sinh hai con trai, là dưỡng mẫu của Hốt Tất Liệt.
- Mã Nhất Thực Khả đôn (马一实, Mayishi), vốn là tiểu thiếp của tộc trưởng Nãi Mã Chân thị (乃馬真氏), sinh một con trai.
- Nạp Nhan Khả đôn (纳颜, Nayan), vốn là vợ của người thuộc tộc Hoằng Cát Lạt.
- Ngốc Thắc Mê Khả đôn (秃忒迷, Tutemi), sau trở thành Khả đôn của Mông Kha.
Húc Liệt Ngột cùng vợ thứ của ông, Thoát Cổ Tư Khả đôn
Con cái
Con trai

Theo Nguyên sử, Đà Lôi có cả thảy 11 người con trai:
- Möngke (Mông Kha), Đại Hãn thứ tư của Đế quốc Mông Cổ.
- Qutughtu (Hốt Đổ Đô), mẹ là Lĩnh Hốt Mộc Khả đôn, mất sớm.
- Khuyết danh
- Kublai (Hốt Tất Liệt), Đại Hãn thứ năm của Đế quốc Mông Cổ và Hoàng đế khai quốc nhà Nguyên
- Khuyết danh
- Hulagu (Húc Liệt Ngột), Hãn đầu tiên của hãn quốc Ilkhanate (hãn quốc Y Nhi)
- Ariq Böke, (A Lý Bất Ca), người tranh ngôi Đại Hãn với Hốt Tất Liệt.
- Bujek (Bát Xước), mẹ là Mã Nhất Thực Khả đôn.
- Mukha (Mạt Ca), mẹ là Toa Lỗ Hắc Khả đôn, có công phò trợ Hốt Tất Liệt lên ngôi.
- Jurikha (Tuế Ca Đô), mẹ không rõ.
- Satukhtai (Tiết Biệt Đài), mẹ không rõ.
Con gái
- Dumugan (Độc Mộc Can), mẹ là Toa La Cốt Mục Nhi Khả đôn. Phong Triệu Quốc công chúa (赵国公主), lấy Niếp Cổ Thai (聂古台) thuộc Hoằng Cát Lạt thị, thực ấp 1500 hộ thuộc Uông Cổ bộ.
- Yesubuhoa (Dã Tốc Bất Hoa), mẹ là Toa La Cốt Mục Nhi Khả đôn. Phong Lỗ Quốc Đại Trưởng công chúa (鲁国大长公主), lấy Oát Trần (斡陳) thuộc Hoằng Cát Lạt thị, thực ấp ba vạn hộ thuộc huyện Tế Ninh.
- Eltemur (Ngạch Lặc Thiếp Mộc Nhi), mẹ là Lĩnh Hốt Mộc Khả đôn. Lấy Ba Nhĩ Tư Bất Hoa (巴尔思不花), cháu ngoại Thành Cát Tư Hãn.
Tiểu thuyết hóa
Đà Lôi được tiểu thuyết hoá trở thành một nhân vật trong truyện Anh hùng xạ điêu của Kim Dung.
Trong truyện này, Đà Lôi kết nghĩa an đáp (kết nghĩa huynh đệ) với nhân vật chính Quách Tĩnh. Ông cũng là người đầu tiên đem quân tấn công thành Tương Dương nhưng do Thành Cát Tư Hãn đột nhiên ốm nặng nên đành rút quân về. Gần 20 năm sau, ông ốm nặng và qua đời, trao quyền lại cho con trai ông. Con trai của Đà Lôi liên tiếp tấn công Tương Dương nhưng đều thất bại dưới sự phòng thủ của Quách Tĩnh. Khi Quách Tĩnh đã già, cháu nội Đà Lôi đã đánh bại Tương Dương thành.
Gia phả
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Bên dưới là phả hệ gia tộc Đà Lôi theo Bản mẫu:Harvcoltxt. Tên của các khả hãn hoặc nhiếp chính Đại Mông Cổ Quốc được Bản mẫu:Strong:
Bản mẫu:Tree chart/start Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart Bản mẫu:Tree chart/end
Phụ chú
Tham khảo
Dẫn chú
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ 洪金富. 〈唐妃娘娘阿吉剌考〉 (PDF). 《中央研究院歷史語言研究所集刊》 (中華民國: 中央研究院歷史語言研究所). 2008年3月, 第79卷 (第1期): 第41頁-第62頁 [2023-03-08]. (原始内容存档 (PDF)于2023-03-08).
拖雷忌日在九月,玉華宮影堂有祭;唐妃忌日在正月,玉華宮影堂亦有祭。《元史·文宗紀三》載,至順元年(1330)十二月「乙丑(十九日),遣集賢侍讀學士珠遘詣真定,以明年正月二十日祀睿宗及后于玉華宮之神御殿」睿宗皇后忌日為正月二十日,這是又一旁證。同書〈文宗紀四〉載,至順二年十二月「庚申(十九日),遣集賢直學士答失蠻詣真定玉華宮,祀睿宗及顯懿莊聖皇后神御殿」。如同至順元年那次一樣,這次也是十二月十九日決定人選,遣赴真定,估計祭祀日期應當也是一個月後的正月二十日。至順三年以後,玉華宮神御殿正月之祭可能有變。或者日期更動或者不再舉行。重紀至元三年(1337),羊歸建議「每年宜於正月二十日致祭」,真正原因,我們不清楚,但正月二十日為唐妃忌日,應當沒有問題。
Thư mục
Trang Bản mẫu:Đầu tham khảo/styles.css không có nội dung.
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Bản mẫu:Encyclopædia Iranica Online
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
| Sửa | Khả hãn của Đế quốc Mông Cổ | |
|---|---|---|
| Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) | Đà Lôi (nhiếp chính) (1227-1229) | Oa Khoát Đài (1229-1241) | Nãi Mã Chân (nhiếp chính) (1241-1245) | Quý Do (1246-1248) | Hải Mê Thất (nhiếp chính) (1248-1251)| Mông Kha (1251-1259) | Hốt Tất Liệt (1260-1294)
<timeline> ImageSize = width:750 height:140 PlotArea = width:730 height:60 left:10 bottom:30 DateFormat = yyyy Period = from:1200 till:1300 TimeAxis = orientation:horizontal ScaleMajor = unit:year increment:5 start:1200
Define $dy = 20 Define $dys = 30 Define $dyss = 40 PlotData= bar:Leaders width:20 mark:(line,white) align:left fontsize:XS color:green from:1206 till:1227 shift:(-20,$dy) text:Thành Cát Tư Hãn color:blue from:1227 till:1229 shift:(-15,$dy) text:Đà Lôi color:green from:1229 till:1241 shift:(-22,$dy) text:Oa Khoát Đài color:blue from:1241 till:1246 shift:(-30,$dy) text:Bột Lạt Cáp Chân color:green from:1246 till:1248 shift:(-15,$dys) text:Quý Do color:blue from:1248 till:1251 shift:(-10,$dy) text:Oghul color:green from:1251 till:1259 shift:(-5,$dy) text:Mông Kha color:blue from:1260 till:1294 shift:(-20,$dy) text:Hốt Tất Liệt </timeline> | ||
Bản mẫu:Authority control
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng