Bước tới nội dung

Tuân tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Cao Tông Tuân tần
清高宗恂嫔
Càn Long Đế Tần
Thông tin chung
Sinh?
Mất1761
Hành cung Ba La Hà Đồn, Nhiệt Hà
An tángPhi viên tẩm, Dụ lăng
Phu quânThanh Cao Tông
Càn Long Đế
Tước hiệuQuách Thường tại (郭常在)
Quách Quý nhân (郭貴人)
Tần (嬪)
(truy phong)
Tuân tần (恂嫔)
(truy hiệu)
Thân phụÔ Ba Thập

Tuân tần Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị[1] (chữ Hán: 恂嫔博爾濟吉特氏; ? - 1761), cũng thường bị nhầm thành Hoắc Thạc Đặc thị (霍碩特氏). Là một phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Hoàng đế.

Thân thế

Tuân tần Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (博爾濟吉特氏) là người thuộc Hoắc Thạc Đặc bộ (霍碩特部) cũng dịch là Hoà Thạc Đặc bộ (和硕特部), sau sách văn của Thanh cung không rõ vì sao gọi thành Quách thị (郭氏). Là người Mông Cổ, sinh nhật của bà là ngày 24 tháng 12 (âm lịch), nhưng không rõ sinh năm bao nhiêu.

Tổ tiên của bộ tộc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ là em trai của Nguyên Thái Tổ Thiết Mộc ChânChuyết Xích Cáp Tát Nhi, cháu 6 đời của Chuyết Xích Cáp Tát Nhi tên là A Khắc Tát Cát Lặc Đại (阿克萨噶勒岱), ông sinh được 2 người con trai, con trai đầu tên là A Lỗ Khắc Đặc Mục Nhĩ (阿鲁克特穆尔), hậu duệ của ông hình thành nên tám bộ tộc là Khoa Nhĩ Thấm, Trát Lãi Đặc, Đỗ Nhĩ Bá Đặc, Quách Nhĩ La Tư (郭尔罗斯), A Lỗ Khoa Nhĩ Thấm, Tứ Tử Bộ Lạc (四子部落), Mậu Minh An (茂明安), Ô Lạt Đặc (乌拉特). Con trai thứ hai tên là Ô Lỗ Khắc Đặc Mục Nhĩ (乌鲁克特穆尔), nghe nói không hòa thuận với anh trai, đã dẫn bộ chúng đến nương nhờ Vệ Lạp Đặc (卫拉特), hình thành nên bộ tộc Hòa Thạc Đặc. Cố Thực Hãn (固始汗) vào thời Minh Thanh chuyển giao, chính là hậu duệ của Ô Lỗ Khắc Đặc Mục Nhĩ.

Năm Sùng Đức thứ 2 (1737), Cố Thực Hãn cử sứ giả đến triều Thanh, từ đó thiết lập mối liên hệ chính thức. Năm Khang Hi thứ 37 (1698), sau khi Cát Nhĩ Đan bại vong, con trai của Cố Thực Hãn là Đạt Thập Ba Đồ Nhĩ (达什巴图尔) vào kinh triều kiến, được triều đình nhà Thanh phong làm Thân vương. Đến những năm Ung Chính, phối hợp với việc xuất binh Thanh Hải, bộ tộc Hòa Thạc Đặc chính thức được biên chế thành minh kỳ. Cha của Tuân tần là Ô Ba Thập (乌巴什), chính là một trong các Đài cát của bộ tộc Hòa Thạc Đặc. Tuy nhiên, vì cái tên “Ô Ba Thập” khá phổ biến trong quý tộc Mông Cổ, nên quan hệ huyết thống cụ thể vẫn chưa rõ ràng.[2]

Đại Thanh tần phi

Thời gian Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị nhập cung không rõ, chỉ biết được sung vào hàng Quan nữ tử, được giao cho Thuần Quý phi dạy dỗ cung quy. Năm Càn Long thứ 24 (1759), ngày 19 tháng 6 (âm lịch), Quan nữ tử Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị được sách phong làm Quách Thường tại (郭常在). Đồng thời, Bái Nhĩ Cát Tư thị do Kế Hoàng hậu dạy dỗ cũng được phong làm Quý nhân. Sang ngày 7 tháng 7 (âm lịch) cùng năm, Càn Long Đế tổ đi đến Tị Thử Sơn Trang, tổ chức lễ cầu Chức Nữ, Quách Thường tại cũng tham gia. Đến ngày 16 tháng 8, Thuần Quý phi bị bệnh, mệnh Tam a ca Vĩnh Chương đưa về Bắc Kinh, Quách Thường tại ở lại hầu hạ Càn Long Đế.[3]

Năm Càn Long thứ 25 (1760), Quách Thường tại được tấn phong Quách Quý nhân (郭贵人), cụ thể ngày tấn phong không rõ. Thật ra điều này cũng thường thấy đối với hậu cung triều Thanh, do từ dưới tước Tần thì hậu phi chỉ nhận chỉ dụ rồi thăng đãi ngộ mà không làm lễ tấn phong.

Năm Càn Long thứ 26 (1761), ngày 17 tháng 7 (âm lịch), Quách Quý nhân theo đoàn tùy hầu Càn Long Đế đến Nhiệt Hà.[4] Cùng năm, vào giờ Thìn ngày 26 tháng 8 (âm lịch), Quách Quý nhân Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị mất do bị bệnh cấp tính. Sang ngày 27 tháng 8, bộ Lễ được dụ làm tang lễ cho Quách Quý nhân theo tước Tần,[5] do đó theo thông lệ nghỉ triều 2 ngày, Tông thất mặc áo trắng 2 ngày. Sang ngày 4 tháng 9, phụng chỉ truy tặng Quách Quý nhân Bác Nhĩ Tế Cát thị làm Quách tần (郭嬪).[6]

Truy phong

Sang năm Càn Long thứ 27 (1762), ngày 29 tháng 4 (âm lịch), kim quan của Quách tần được phụng an, sau cùng táng vào Phi viên tẩm trong Dụ lăng với người từng giáo dưỡng bà là Thuần Huệ Hoàng quý phi. Sang tháng 5, chính thức tế văn, truy tặng Quách tần làm Tuân tần (恂嫔). Theo Hồng xương thông dụng (鴻稱通用) của Nội vụ phủ, chữ "Tuân" có Mãn văn là 「Boljonggo」, có nghĩa là "Có quy củ", "Hợp với lẽ thường".

Sách văn viết:

Nhầm họ

Sách văn truy phong Tuân tần trong Thanh Cao Tông Thực lục (清高宗实录) có ghi Tuân tần là “Quách thị” (郭氏), nhưng theo phả hệ của Hòa Thạc Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị trong Mông Cổ Thế hệ (蒙古世系) và Thanh đại Mông Cổ chí (清代蒙古志), Tuân tần xuất thân từ bộ tộc Hòa Thạc Đặc của Mông Cổ, họ là Hòa Thạc Đặc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị (和硕特博尔济吉特氏), việc Thanh Cao Tông Thực lục ghi là Quách thị có lẽ là ghi nhầm, đã nhầm lẫn xưng hiệu Quách Quý nhân thành họ, mà xưng hiệu “Quách” (郭) có thể đến từ một chữ trong tên của Tuân tần.[16]

Trong văn hóa đại chúng

Tuân tần được mô tả thông qua nhân vật [Hoắc Thạc Đặc Lam Hi; 霍碩特蓝曦] trong tiểu thuyết Hậu cung Như Ý truyện, xuất hiện ở chương 19 - Quyển năm. Nhưng nhân vật này đã bị xóa bỏ trong bản phim truyền hình.

Tham khảo

  1. ^ 《清代后妃杂识》: 高宗恂嫔,和硕特博尔济吉特氏,台吉乌巴什之女。生年不详,生辰为十二月二十四日。在乾隆年间被选入宫,为官女子,曾在纯惠皇贵妃位下学规矩。乾隆二十四年六月十九日,封为郭常在。乾隆二十五年,晋封为郭贵人。乾隆二十六年八月二十六日辰时薨,追晋为恂嫔。乾隆二十七年四月十九日,奉安裕陵妃园寝。
  2. ^ 此段和硕特博尔济吉特氏谱系,整理自《蒙古世系》《清代蒙古志》。
  3. ^ 《乾隆至嘉慶年添減底檔》 六月十九日敬事房首領楊雙全傳說皇后學規距女子封伊貴人冬例日用紅羅炭五斛、黑炭二十五斛、米四十斛、夏例日用黑炭十八斛,本日敬事房首領楊雙全傳說,純貴妃學規距女子封郭常在,冬例日用黑炭二十斛,米二十斛,夏例日用黑炭十斛。
  4. ^ 《撥用行文底簿》: 乾隆二十六年七月十七日,皇帝外出哨鹿,同行后妃有:皇后、令貴妃、舒妃、豫嬪、郭貴人、伊貴人、瑞貴人、和貴人,八月二十七日郭貴人事出。
  5. ^ 二十七日乾隆帝谕: "郭贵人薨逝,著追册为嫔。所有一应典礼,该衙门照例办理"
  6. ^ 《移會》:禮部為請,旨事祠恭司案呈準總管內務府掌儀司文稱,郭嬪於本月二十六日辰時薨逝,應抄錄原奏行文貴部查照辦理等因前來相應抄錄原奏移會內閣典籍廳遵照可也須至移會者。
  7. ^ Tiêu đồ (椒涂): cung thất của Hoàng hậu hoặc hậu phi, tường được trát bùn trộn quả tiêu theo điển chế cổ; từ đó trở thành điển xưng hậu cung.
  8. ^ Lan dịch (兰掖): cung cấm, nơi hậu phi cư ngụ; thường dùng để chỉ hậu cung.
  9. ^ Luân Phất (纶綍): chiếu thư, sách mệnh của Hoàng đế.
  10. ^ Long chương (龙章): nguyên chỉ văn chương của Hoàng đế, về sau dùng để chỉ chiếu thư hoặc ân mệnh của Hoàng đế.
  11. ^ Toàn khuê (璇闺): khuê phòng của hậu phi trong cung.
  12. ^ Địch y (翟衣): lễ phục dành cho hậu phi theo phẩm cấp.
  13. ^ Tàm nguyệt điều tang (蚕月条桑): điển chỉ việc hậu phi chủ trì lễ thân tằm, khuyến khích nghề tằm tang theo lễ chế.
  14. ^ Vi y (褘衣): lễ phục của Hoàng hậu; ở đây chỉ việc theo hầu Hoàng hậu thực hiện các nghi lễ trong cung.
  15. ^ Chi kiểm phong nê (芝检封泥): hộp sách phong được niêm phong theo nghi thức, tượng trưng cho chiếu mệnh và vinh ân của triều đình.
  16. ^ 在《清高宗实录》恂嫔追封册文中将恂嫔记载为“郭氏”,而根据《蒙古世系》《清代蒙古志》和硕特博尔济吉特氏谱系,恂嫔出身蒙古和硕特部,姓氏为和硕特博尔济吉特氏,《清高宗实录》中记载为郭氏应为误记,错将郭贵人的称号当作姓氏,而称号“郭”可能来自于是恂嫔名字中的字。