Bước tới nội dung

Vương đại phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thứ bậc Hoàng tộc, Quý tộc và Hiệp sĩ
Hoàng đế & Hoàng hậu
Nữ hoàng & Hoàng phu
Thái hoàng thái hậu
Thái thượng hoàng & Thái thượng hoàng hậu
Hoàng thái hậu / Hoàng thái phi
Quốc vương & Vương hậu
Nữ vương & Vương phu
Hoàng tử & Hoàng tử phi
Vương tử & Vương tử phi
Thái tử & Thái tử phi
Thế tử & Thế tử tần
Công chúa & Phò mã
Đại Vương công & Đại vương công phu nhân
Đại Công tước & Đại Công tước phu nhân
Vương tước & Vương phi
Phó vương & Phó vương phi
Quận chúa & Quận mã
Huyện chúa & Huyện mã
Công tước & Công tước phu nhân
Hầu tước & Hầu tước phu nhân
Bá tước & Bá tước phu nhân
Tử tước & Tử tước phu nhân
Nam tước & Nam tước phu nhân
Hiệp sĩ , Nữ Tước sĩ

Vương đại phi (chữ Hán: 王大妃; Hangul: 왕대비Wangdaebi), là một tước hiệu đặc thù của nữ giới thuộc vương thất nhà Cao Lynhà Triều Tiên. Danh hiệu này còn dùng trong chế độ Hoàng gia Nhật Bản.

Là tước hiệu dành cho Vương phi của Quốc vương đã qua đời, tước hiệu Vương đại phi vào khái niệm chung đều tương tự Vương thái hậu - dành cho mẹ của Quốc vương, tức là xét theo vai vế. Nhưng quy chế của nhà Triều Tiên tương đối nghiêm khắc, chỉ cần từng là Vương phi và là vợ của Tiền nhiệm Quốc vương thì đó sẽ là tôn xưng Vương đại phi, không luận vai vế của Vương đại phi đối với Quốc vương đương nhiệm.

Do Triều Tiên coi trọng đích - thứ, Vương đại phi bắt buộc phải từng là Vương phi của Quốc vương thì mới được gia tôn. Trừ những trường hợp đặc thù vì vừa là mẹ ruột của Quốc vương vừa là chính thất của các Thế tử quá cố được truy tôn Đại vương, như Nhân Túy Vương đại phi Hàn thị cùng Hiếu Dụ Vương đại phi Triệu thị, thì vẫn có trường hợp sinh mẫu của Quốc vương cho dù là chính thất cũng vẫn không được gia tôn, như trường hợp Huệ Khánh cung Hồng thị thời Triều Tiên Chính Tổ.

Lịch sử

Nhà Cao Ly

Vào thời kì nhà Cao Ly, danh xưng "Vương đại phi" đã xuất hiện, nhưng quy tắc tấn tôn Vương đại phi không rõ ràng. Các trường hợp có thể liệt kê được trong chính sử Cao Ly, cho thấy rằng mẹ của các Quốc vương mà không phải là chính thất, thì sẽ được tôn làm Vương đại phi. Nếu vương nữ trở thành Vương hậu, mẹ của Vương hậu cũng sẽ thành Vương đại phi. Như mẹ của Nguyên Trinh Vương hậu Kim thị là Huyền Đức Cung chúa, tần ngự của Cao Ly Thành Tông được tôn làm Vương đại phi.[1]

Còn một trường hợp nữa, là Định phi An thị (定妃安氏; 정비안씨) - trắc phi của Cung Mẫn Vương. Khi đó, Lý Thành Quế muốn ép Xương vương thoái vị, Định phi quyết ý duy trì thế cục Cao Ly, không muốn họ Lý lên, nên tích cực vận động tông thất Vương Dao làm Vương, tức Cung Nhượng Vương. Lý Thành Quế cùng các đại thần tấu lên Vương Dao tôn Định phi lên làm Vương đại phi. Khi ấy, An thị không phải sinh mẫu của Vương, cũng không phải sinh mẫu của Vương hậu lại được tấn tôn Vương đại phi.[2] Ngoài ra, Cao Ly Thái Tổ có một con gái, Thuận An Vương đại phi, do tư liệu không đủ nên cũng không rõ nguyên nhân vì sao lại phong tước hiệu này cho một Vương nữ.

Nhà Triều Tiên

Sang thời đại nhà Triều Tiên, Vương đại phi trở thành tôn hiệu của vị Vương phi của Quốc vương quá cố. Theo chế độ của Triều Tiên, không cần biết Vương đại phi có quan hệ như thế nào với Quốc vương kế nhiệm, họ đều sẽ được xưng Vương đại phi.

Luật lệ các triều đại của Trung Quốc và Việt Nam có tương quan hoàn toàn khác, chỉ có Hoàng hậu là trưởng bối của tân nhiệm Hoàng đế mới trở thành Hoàng thái hậu, còn như vai vế chị dâu, hay em dâu hoặc cháu dâu của Hoàng đế thì chỉ xưng là "Mỗ mỗ Hoàng hậu", như Khai Bảo Hoàng hậu Tống thị nhà Tống, hoặc như Khiêm Hoàng hậu Võ thị nhà Nguyễn. Tuy nhiên, ở Triều Tiên không như vậy. Bất luận vị Tân nhiệm Quốc vương có vai vế thế nào, thậm chí là cháu nội của Tiền nhiệm Quốc vương, thì Vương phi của vị Tiền nhiệm Quốc vương vẫn sẽ trở thành Vương đại phi, tức là vai bà nội của Quốc vương vẫn có thể trở thành Vương đại phi. Nếu vị Vương đại phi này tiếp tục sống đến đời tiếp theo, sẽ được tôn xưng danh hiệu là Đại vương đại phi (大王大妃). Các Đại phi được gọi bằng kính ngữ Thượng điện (上殿) hoặc Từ điện (慈殿).

Sự phức tạp đầu tiên xảy ra dưới thời kỳ vua Thành Tông. Nguyên bản Thành Tông là con thứ hai của Ý Kính Thế tử Lý Chương - con trai cả của Thế Tổ và Trinh Hi Vương hậu, sau khi thế tử mất thì em trai là Duệ Tông Lý Hoảng trở thành thế tử và lên ngôi. Duệ Tông mất, có con trai thứ hai dòng đích là Tề An Đại quân mới chỉ 4 tuổi, lại hay bệnh, Trinh Hi Vương hậu với tư cách Vương đại phi đã quyết định đón Thành Tông, khi đó là Giả Sơn quân về, bất chấp trên Thành Tông còn có anh cả Nguyệt Sơn quân Lý Đình. Do mẹ của Thành Tông là Túy tần Hàn thị cùng kế phi của Duệ Tông là An Thuận Vương hậu Hàn thị đều còn sống, mà An Thuận Vương hậu là Vương phi đời trước, do đó Thành Tông tôn bà An Thuận là Nhân Huệ Vương đại phi (仁惠王大妃; 인혜 왕대비). Còn về Túy tần Hàn thị, lúc này vương thất chưa xử lý được chuyện có ba đời chính thất của quân vương còn tại vị, nên sau một hồi truy xét thì Thành Tông y theo nghị định đã bàn, tấn tôn Ý Kính Thế tử thụy hiệu là Ôn Văn Ý Kính Vương (溫文懿敬王; 온문 의경왕), miếu gọi là Ý Kính miếu (懿敬廟; 의경묘), điều này có nghĩa khi ấy Ý Kính Vương không xưng "tông" và "đại vương", do đó Túy tần Hàn thị thuận lý thành chương trở thành Vương phi mà không phải "Vương đại phi", đồng thời vì để phân biệt với Vương phi tại vị (tức Cung Huệ Vương hậu Hàn thị) mà Túy tần được thêm huy hiệu, thành Nhân Túy Vương phi (仁粹王妃; 인수 왕비).

Cách xử lý này của triều Thành Tông lúc ban đầu có lẽ áp dụng cách làm của triều Hán, khi các vị hoàng đế từ tông thất nhập qua kế thừa đều chỉ tôn cha đẻ làm "Hoàng" mà không phải "Hoàng đế", không xưng làm "Tông", mẹ đẻ chỉ xưng làm "Hoàng hậu" dựa vào huy hiệu, không tôn làm "Thái hậu", để tránh xung đột với các Hoàng đế và Hoàng thái hậu dòng chính, ví dụ có cha ruột của Hán Linh đế là Giải Độc Đình hầu Lưu Trường được tôn Hiếu Nhân Hoàng, còn mẹ ruột Linh đế là Đổng phu nhân chỉ tôn làm Hiếu Nhân Hoàng hậu, để phân biệt với cha mẹ trên Tông pháp của Linh đế là Hán Hiếu Hoàn Hoàng đế Lưu Chí và Hoàn Tư Hoàng hậu Đậu Diệu (vốn đã được tôn làm Hoàng thái hậu). Vào thời điểm ấy, đây là cách giải quyết khả dĩ nhất, nhưng nó cũng có bất lợi là đem vị hiệu của mẹ giống vợ. Lúc này ở trong cung, bà Nhân Túy được gọi đủ là Nhân Túy Vương phi điện (仁粹王妃殿; 인수 왕비전).

Đến năm thứ 6, có nghị định xét Ý Kính Vương vốn là đích tử, đã nhận mệnh làm Vương thế tử dưới triều Thế Tổ, không tị hiềm như Nam Đốn quân Lưu Khâm cha của Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú, hay Bộc An Ý Vương Triệu Doãn Nhượng cha của Tống Anh Tông Triệu Thự, đáng nên tôn thụy Đại vương, xưng Tông miếu, do đó Ý Kính Vương được tôn xưng đại vương, miếu hiệu Đức Tông (德宗; 덕종), Nhân Túy Vương phi được tôn làm Nhân Túy Vương đại phi (仁粹王大妃; 인수 왕대비). Đây là thời kỳ hiếm có đồng tại vị đại phi của Triều Tiên.

Trường hợp phức tạp thứ hai xảy ra dưới thời kỳ Trung TôngTuyên Tổ. Khi trước Thành Tông có nhiều con cái, nhưng chỉ có hai con trai dòng đích là Yên Sơn quân và Trung Tông, sau đó Trung Tông phản chính phế truất anh trai. Bản thân Trung Tông cũng chỉ có hai con trai dòng đích, là Nhân TôngMinh Tông. Sau khi Minh Tông kế vị anh trai vô tự, cũng gặp trường hợp không có đích tử như anh mình, bèn y định chọn cháu trai là Hà Thành quân Lý Diên là con của người anh thứ xuất của Minh Tông, tức Đức Hưng quân Lý Thiệu. Hà Thành quân lên ngôi, tức Tuyên Tổ.

Thời điểm hai vị Quốc vương này lên ngôi thì trong cung đều có Vương đại phi, thời kỳ Trung Tông là sinh mẫu Trinh Hiển Vương hậu Doãn thị, ở hai triều Yên Sơn quân và Trung Tông đều là Từ Thuận Vương đại phi (慈順王大妃, 자순왕대비), còn thời Tuyên Tổ có Nhân Tông chính thê là Nhân Thánh Vương hậu Phác thị, tôn hiệu Cung Ý Vương đại phi (恭懿王大妃, 공의왕대비), và Minh Tông chính thê là Nhân Thuận Vương hậu Thẩm thị, tôn hiệu Ý Thánh Vương đại phi (懿聖王大妃, 의성왕대비), trong đó ngài Nhân Thuận được Tuyên Tổ tôn làm Vương đại phi do Tuyên Tổ lên ngôi với tư cách thừa tự của Minh Tông, mà trước đó thì ngài Nhân Thánh được Minh Tông tôn làm Vương đại phi, lúc này vẫn giữ nguyên vị hiệu cũ. Và dù trải qua thêm một đời quân vương, nhưng cả hai bà Trinh Hiển hậu và Nhân Thánh hậu vẫn giữ địa vị Vương đại phi mà không tôn lên thành Đại vương đại phi, đây là do quy tắc tấn tôn thêm một đời lại chỉ xét giữa các bà Vương đại phi với nhau.

Trong trường hợp Trinh Hiển Vương hậu, lúc ấy bà là Vương đại phi duy nhất ở triều đại Trung Tông, chính thê Thận thị của Yên Sơn quân đã bị phế trừ, nên khi Trung Tông phản chính thì ngài Trinh Hiển vẫn là Vương đại phi do trong cung không có thêm một góa phụ Vương phi, bà Trinh Hiển là đại phi độc tôn duy nhất, nên cũng không cần phải tấn thêm vị hiệu của một đời. Cách này có một nửa là giống Nhật Bản mà một nửa lại không giống, bởi vì Triều Tiên không khó khăn với chuyện đồng tôn, nếu vai vế đều thuộc hàng chị em dâu thì sẽ như hai bà Nhân Túy và Nhân Huệ triều Thành Tông khi trước, tuy nhiên lại cũng có điểm giống là các góa phụ của hai thế hệ quốc vương khác nhau thì phải có địa vị khác nhau. Đến thời Tuyên Tổ, do các bà Nhân Thánh hậu và Nhân Thuận hậu là vai chị em dâu, nên cũng như triều Thành Tông, hai vị này cùng san sẻ vị hiệu Vương đại phi với nhau, với bà Nhân Thánh được gọi phân biệt bằng tôn hiệu, tức Cung Ý điện (恭懿殿, 공의전)

Đến thời kỳ vua Anh Tổ Lý Khâm lại tương đối đặc biệt, đây vừa giống như thời kỳ Trung Tông nhưng cũng có điểm khác, là vua Cảnh Tông Lý Quân không bị phế trừ Vương hiệu. Ở thời kỳ này, góa phụ Vương phi của Cảnh Tông là Tuyên Ý Vương hậu Ngư thị tuy chỉ là chị dâu nhưng do cách một đời quốc vương, nên lệ cũ tôn làm Vương đại phi, tức Kính Thuần Vương đại phi (敬純王大妃, 경순왕대비), mà mẫu phi của Cảnh Tông cùng Anh Tổ là Nhân Nguyên Vương hậu Kim thị vẫn còn sống, dưới thời kỳ Cảnh Tông đã được tôn làm Huệ Thuận Vương đại phi (惠順王大妃, 혜순왕대비), nên lúc này được tấn tôn làm Đại vương đại phi.

Thời kỳ Triết Tông Lý Biện đặc thù khi phát sinh biến hóa có ba vị góa phụ Đại phi, lúc này cả ba lần lượt là: Thuần Nguyên Vương hậu Kim thị là vai mẹ của Triết Tông, giữ tôn vị Đại vương đại phi, tức Minh Kính Đại vương đại phi (명경대왕대비, 明敬大王大妃); Thần Trinh Vương hậu Triệu thị vai chị dâu, giữ tôn vị Vương đại phi, tức Hiếu Dụ Vương đại phi (孝裕王大妃, 효유왕대비); mà Hiếu Định Vương hậu Hồng thị là vai cháu dâu của Triết Tông, được vị hiệu Đại phi, tức Minh Hiến Đại phi (明憲大妃, 명헌대비), không có chữ "Vương" trong huy hiệu. Trong ba vị Đại phi này, bà Thuần Nguyên là chính phi của vua Thuần Tổ Lý Công, sinh mẫu của Hiếu Minh Thế tử Lý Ảnh, còn bà Thần Trinh vốn là Thế tử tần của ngài Hiếu Minh, sinh ra vua Hiến Tông Lý Hoán. Sau khi Hiến Tông lên ngôi, liền tôn tổ mẫu Thuần Nguyên hậu làm Vương đại phi như lệ cũ, nhưng sau đó Vương đại phi ra chỉ truy tôn Hiếu Minh Thế tử làm Dực Tông Đại vương, vì thế ngài Thần Trinh vì vai vế Vương phi góa phụ mà được tôn làm Vương đại phi, còn bà Hiếu Định là Chính phi của Hiến Tông.

Sau đó, Hiến Tông mất mà không con, bà Thuần Nguyên lại đem người cháu dòng thứ đang bị lưu đày là vua Triết Tông (khi đó còn giữ tên Lý Nguyên Phạm) kế thừa đại thống, lấy tư cách là con trai của Thuần Tổ, do đó tuy bà Thuần Nguyên là Đại vương đại phi nhưng lại là "Mẫu phi" của Triết Tông. Sự đặc thù này tiếp tục được áp dụng dưới thời kỳ Cao Tông, vì Cao Tông nhập tự dưới danh nghĩa con thừa kế của Hiếu Minh Thế tử (Dực Tông) nên tôn Thần Trinh Vương hậu làm Mẫu phi, mà khi ấy Thần Trinh hậu đã là Đại vương đại phi, Hiếu Định hậu cũng đã là Vương đại phi, góa phụ của Triết Tông là Triết Nhân Vương hậu Kim thị được tôn xưng Đại phi, tức Minh Thuần Đại phi (明純大妃, 명순대비).

Có thể thấy rõ Vương phi góa phụ hợp pháp của tiên vương bất kể vai vế so với tân vương ra sao, cũng đều phải trở thành Vương đại phi để phân biệt với Vương phi, như Nhân Thánh hậu và Tuyên Ý hậu dưới thời kỳ em chồng là Minh Tông cùng Anh Tổ. Sau đó giữa các Vương đại phi lại phân ra đời với nhau, nếu độc tôn vị trí thì không bị thay đổi giống như Trinh Hiển hậu, còn ở vai trên thì tiếp tục được tôn làm Đại vương đại phi như Nhân Nguyên hậu.

Với việc mẹ đẻ của Quốc vương nhưng chưa từng làm Vương phi, hoặc dựa vào lý do đặc thù về thứ bậc nào đó thì cũng không thể tôn làm Vương đại phi, ví dụ này có mẹ đẻ của Triều Tiên Chính Tổ Lý Toán là Huệ tần Hồng thị cùng bà nội của ông là Trinh Thuần Vương hậu Kim thị. Đây có lẽ là trường hợp đặc biệt nhất trong vấn đề tấn tôn vị hiệu trưởng bối nội mệnh phụ của Triều Tiên. Huệ Khánh cung tức Hiến Kính Vương hậu Hồng thị, là sinh mẫu của Chính Tổ. Còn bà Trinh Thuần Vương hậu Kim thị là kế phi của Anh Tổ, do đó là kế đích tổ mẫu của Chính Tổ, dù bà còn kém ngài Huệ Khánh tới 10 tuổi và chỉ hơn Chính Tổ tầm 7 tuổi.

Khác với các thế tử tần góa phụ như bà Nhân Túy và bà Thần Trinh, bà Hồng thị không được tôn làm Vương đại phi dưới thời kỳ con trai, nguyên do là vấn đề trong vai vế Tông pháp. Sau khi Tư Điệu Thế tử Lý Tuyên qua đời, Hồng thị được đổi gọi là Huệ tần cung (惠嬪宮; 혜빈궁), còn con trai của bà là Chính Tổ bị Anh Tổ chỉ định làm con thừa tự cho Hiếu Chương Thế tử Lý Hành - anh thứ khác mẹ mất sớm của ngài Tư Điệu, do đó khi Chính Tổ đã trở thành Vương thế tôn dưới danh nghĩa con trai của Hiếu Chương Thế tử, thời điểm ông lên ngôi đã truy tôn "cha thừa tự" của mình là ngài Hiếu Chương thụy hiệu Đại vương, miếu hiệu Chân Tông (真宗; 진종), vợ của ngài Hiếu Chương là bà Hiếu Thuần Hiền tần Triệu thị cũng được truy thụy Hiếu Thuần Vương hậu. Vì đã không còn là con của vợ chồng Tư Điệu Thế tử, Chính Tổ chỉ có thể áp dụng quy tắc dâng cung hiệu cho hậu cung sinh ra quốc vương với cú pháp 「Mỗ mỗ cung」, tôn bà Huệ tần Hồng thị vị hiệu Huệ Khánh cung (惠慶宮; 혜경궁). Trong khi đó, kế phi của Anh Tổ là bà Trinh Thuần Vương hậu Kim thị, do chỉ cách một đời, đồng thời không có Vương phi góa phụ nào khác vì bà Hiền tần đã mất từ lâu, do đó độc tôn vị trí Vương đại phi, tức Duệ Thuận Vương đại phi (睿順王大妃, 예순왕대비). Có thể thấy được tấn tôn Đại phi cũng dựa vào thực trạng góa phụ của các Vương phi, nếu bà Hiền tần còn sống, theo lý thuyết sẽ là Vương đại phi và bà Trinh Thuần sẽ tôn dần thành Đại vương đại phi. Nhưng bà Hiền tần qua đời, bà Trinh Thuần chỉ là Vương đại phi.

Nhật Bản

Theo chế độ Nhật Bản, sau khi Thân vương qua đời, Thân vương kế nhiệm đăng vị và cưới một Vương phi khác về, thì người góa phụ Vương phi sẽ được xưng 「Vương đại phi; ワンテビWantebi」. Sau khi chế độ "Cung gia" (宮家) được áp dụng, đến trước năm 1945, một Vương phi góa phụ cũng có thể xưng 「Mỗ mỗ cung Đại phi; 某某宮大妃」.

Tuy nhiên khác với Vương đại phi của Triều Tiên là gia tôn chính thức, thì Cung Đại phi của Nhật Bản chỉ là lạm xưng trên vấn đề thông tin báo chí. Hiện tại, một góa phụ Vương phi chỉ đơn giản gọi theo tước hiệu Thân vương của người chồng và tên thật, như Thân vương phi Yuriko, vợ của Thân vương Takahito đứng đầu Tam Lạp cung, bà được gọi đầy đủ là 「Sùng Nhân Thân vương phi Bách Hợp Tử; 崇仁親王妃百合子」.

Các đời Vương đại phi

Hiếu Dụ Vương đại phi (Thần Trinh Vương hậu) Phong Nhưỡng Triệu thị, vương đại phi thứ 20 của nhà Triều Tiên

Nhà Cao Ly

Vương đại phi nhà Cao Ly
Tôn hiệu Tên họ Sinh mất Tại vị Quân chủ Ghi chú
Thuận An
Vương đại phi
Khai Thành Vương thị
? - ?
"Không tại vị"
Cao Ly Thái Tổ
Vương Kiến
Không rõ bà lấy ai và được truy tôn Vương đại phi, nhiều nghi vấn cho rằng bà đã kết hôn với Cao Ly An Tông và sinh ra Thành Mục Công chúa.
"Không có"
Thiện Sơn Kim thị
960 - ?
1029 - ?
Cao Ly Hiển Tông
Vương Tuân
Vương hậu thứ 2 của Cao Ly Thành Tông Vương Trị, dưới thời Cao Ly Hiển Tông bà được tôn làm Vương đại phi. Sau khi qua đời bà được truy thụy là Văn Hòa Vương hậu (文和王后).
Nam Dương Hồng thị
25 tháng 8 năm 1298 - 12 tháng 2 năm 1380
1339 - 1344
Cao Ly Cung Mẫn vương
Vương Kỳ
Vương hậu đầu tiên của Cao Ly Trung Túc vương Vương Đào, dưới thời Cao Ly Cung Mẫn vương bà được tôn làm Vương đại phi, rồi Sùng Kính Vương thái hậu (崇敬王太后). Sau khi qua đời bà được truy thụy là Cung Nguyên Vương hậu (恭元王后).
Trinh Thục Vương đại phi
Trúc Sơn An thị
1352 - 26 tháng 6 năm 1428
1488 hoặc 1489 – 1392
Cao Ly Xương vương
Vương Xương
Nguyên là Định phi (定妃) của Cao Ly Cung Mẫn vương, dưới thời Cao Ly Xương vương được tôn làm Trinh Thục Vương đại phi (貞淑王大妃).
"Không có"
Cổ Thành Lý thị
1365 - ?
1388 - 1389
Nguyên là Cẩn phi (謹妃) của Cao Ly U vương, dưới thời Cao Ly Xương vương bà được tôn làm Vương đại phi, nhưng chỉ một năm sau bà đã bị phế truất.
: trường hợp được truy phong mà chưa thụ lễ khi còn sống[a]

Nhà Triều Tiên

Vương đại phi nhà Triều Tiên
Tôn hiệu Tên họ Sinh mất Tại vị Quân chủ Ghi chú
Thuận Đức Vương đại phi
Khánh Châu Kim thị
22 tháng 1 năm 1355 - 2 tháng 8 năm 1412
1400 - 1412
Triều Tiên Thái Tông
Lý Phương Viễn
Hậu Đức Vương đại phi
Ly Hưng Mẫn thị
11 tháng 7 năm 1365 - 10 tháng 7 năm 1420
1418 - 1420
Triều Tiên Thế Tông
Lý Đào
Ý Đức Vương đại phi
Lệ Sơn Tống thị
1440 - 7 tháng 7 năm 1521
1455 - 1457
Triều Tiên Thế Tổ
Lý Nhu
Từ Thánh Vương đại phi
Pha Bình Doãn thị
8 tháng 12 năm 1418 - 6 tháng 5 năm 1483
1468 - 1469
Triều Tiên Duệ Tông
Lý Hoảng
Nhân Huệ Vương đại phi
Thanh Châu Hàn thị
12 tháng 3 năm 1445 - 23 tháng 12 năm 1498)
1469 – 1494
Triều Tiên Thành Tông
Lý Tiết
Nhân Túy Vương đại phi
8 tháng 9 năm 1437 - 27 tháng 4 năm 1504
1475 - 1494
Từ Thuận Vương đại phi
Pha Bình Doãn thị
21 tháng 7 năm 1462 – 13 tháng 9 năm 1530
1494 - 1530
Yên Sơn Quân
Lý Long
Triều Tiên Trung Tông
Lý Dịch
"Không có"
Pha Bình Doãn thị
1 tháng 2 năm 1501 - 29 tháng 12 năm 1565
1544 - 1545
Triều Tiên Nhân Tông
Lý Hổ
Bà không được dâng hiệu khi làm Vương đại phi, chỉ được dâng khi đã là Đại vương đại phi.
Cung Ý Vương đại phi
Phan Nam Phác thị
7 tháng 10 năm 1514 - 6 tháng 1 năm 1578
1545 - 1577
Triều Tiên Minh Tông
Lý Hoàn
Triều Tiên Tuyên Tổ
Lý Diên
Ý Thánh Vương đại phi
Thanh Tùng Thẩm thị
27 tháng 6 năm 1532 - 12 tháng 2 năm 1575
1567 - 1575
"Không có"
Diên An Kim thị
15 tháng 12 năm 1584 - 13 tháng 8 năm 1632
1608 - 1624
Quang Hải Quân
Lý Hồn
Bà không được dâng hiệu khi làm Vương đại phi, chỉ được dâng khi đã là Đại vương đại phi.
Từ Ý Vương đại phi
Dương Châu Triệu thị
16 tháng 12 năm 1624 - 20 tháng 9 năm 1688
1649 - 1659
Triều Tiên Hiếu Tông
Lý Hạo
Hiếu Túc Vương đại phi
Đức Thủy Trương thị
9 tháng 2 năm 1619 - 19 tháng 3 năm 1674
1660 - 1674
Triều Tiên Hiển Tông
Lý Túc
Hiển Liệt Vương đại phi
Thanh Phong Kim thị
13 tháng 6 năm 1642 - 21 tháng 1 năm 1684
1674 - 1684
Triều Tiên Túc Tông
Lý Đôn
Huệ Thuận Vương đại phi
Khánh Châu Kim thị
3 tháng 11, năm 1687 - 13 tháng 5, năm 1757
1720 - 1724
Triều Tiên Cảnh Tông
Lý Quân
Kính Thuần Vương đại phi
Hàm Tùng Ngư thị
14 tháng 12 năm 1705 - 12 tháng 8 năm 1775
1724 - 1730
Triều Tiên Anh Tổ
Lý Khâm
Duệ Thuận Vương đại phi
Khánh Châu Kim thị
10 tháng 11 năm 1745 - 12 tháng 1 năm 1805
1776 - 1800
Triều Tiên Chính Tổ
Lý Toán
"Không có"
Thanh Phong Kim thị
5 tháng 1 năm 1754 - 10 tháng 4 năm 1821
1800 - 1821
Triều Tiên Thuần Tổ
Lý Công
Bà không được dâng hiệu khi làm Vương đại phi.
Minh Kính Vương đại phi
An Đông Kim thị
8 tháng 6 năm 1789 - 21 tháng 9 năm 1857
14 tháng 12 năm 1834 - 18 tháng 12 năm 1834
Triều Tiên Hiến Tông
Lý Hoán
Hiếu Dụ Vương đại phi
Phong Nhưỡng Triệu thị
6 tháng 2, năm 1808 - 17 tháng 4, năm 1890
1834 - 1857
Triều Tiên Cao Tông
Lý Hy
Minh Hiến Vương đại phi
Nam Dương Hồng thị
6 tháng 3 năm 1831 - 2 tháng 1 năm 1904
1857 - 1897
: trường hợp được truy phong mà chưa thụ lễ khi còn sống[b]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ 《高麗史·后妃·文和王后》:「文和王后金氏善州人贈侍中元崇之女初稱延興宮主或稱玄德宮主。生貞元王後顯宗二十年四月封為大妃。」
  2. ^ 《高麗史·后妃·定妃安氏》:「十三年立府曰慈惠置官屬明年禑遜於江華百官奉傳國璽獻於妃遂以妃敎立禑子昌。 昌卽位台臣以妃及惠妃愼妃俱非正嫡請只給歲祿。 明年我太祖與諸大臣定策奉妃敎迎立恭讓王王尊妃為貞淑宣明敬信翼成柔惠王大妃冊曰: "為之後者為之子當推孝敬之心有是實者有是名 舉尊崇之典 此春秋之大義而古今之通規。 恭惟王大妃系出蟬聯德符窈窕先朝作配尋遭中否之運一旦主盟坐定再安之策旣廓除異姓之禍仍遂立宗親之賢顧以 末之資獲 艱大之托化家為國實蒙補煉之功順色承顏恆奉怡愉之養然不進其嘉號曷足酬其至恩 率 眾情爰擇穀旦謹奉冊寶上尊號曰貞淑宣明敬信翼成柔惠王大妃殿曰敬愼。」


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng