Bước tới nội dung

Zita của Borbone-Parma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Zita xứ Parma
Zita di Parma
Tập tin:Zita magyar királyné.jpg
Hoàng hậu Zita nhân dịp đăng quang làm Vương hậu Hungary, 1916
Hoàng hậu nước Áo,
Vương hậu nước Hungary, Bohemia,
DalmatiaCroatia
(...)
Tại vị21 tháng 11 năm 1916 – 11/11/1918
Đăng quang (Hungary)Ngày 30 tháng 12 năm 1916
Tiền nhiệmElisabeth xứ Bayern
Kế nhiệmHoàng hậu cuối cùng
Thông tin chung
Sinh(1892-05-09)9 tháng 5 năm 1892
Villa Pianore, Toscana, Vương quốc Ý
Mất14 tháng 3 năm 1989(1989-03-14) (96 tuổi)
Zizers, quận Landquart, Grisons, Thụy Sĩ
An táng1 tháng 4 năm 1989
Phối ngẫu
Karl I của Áo Vua hoặc hoàng đế
(cưới 1911 – mất 1922)
Hậu duệ
Tên đầy đủ
Zita Maria delle Grazie Adelgonda Micaela Raffaela Gabriella Giuseppina Antonia Luisa Agnese di Borbone-Parma
Vương tộcNhà Borbone-Parma
Thân phụRoberto I xứ Parma
Thân mẫuMaria Antónia của Bồ Đào Nha
Chữ kýChữ ký của Zita xứ Parma

Zita xứ Parma (Zita Maria delle Grazie Adelgonda Micaela Raffaela Gabriella Giuseppina Antonia Luisa Agnese; 9 tháng 5 năm 1892 - 14 tháng 3 năm 1989) là vợ của Karl I, Hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Áo-Hung. Như vậy, bà là Hoàng hậu ÁoVương hậu Hungary cuối cùng, bên cạnh các danh hiệu khác.

Là con thứ 17 của Roberto I xứ Parma và người vợ thứ hai của ông, Maria Antónia của Bồ Đào Nha, Zita kết hôn với Thái tử Karl của Áo năm 1911. Karl trở thành người thừa kế của Hoàng đế Franz Joseph I của Áo năm 1914 sau vụ ám sát chú của ông, Franz Ferdinand của Áo và lên ngôi năm 1916 sau cái chết của hoàng đế.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào năm 1918, nhà Habsburg bị phế truất và đế chế tan rã thành bốn quốc gia độc lập là Áo, Hungary, Tiệp KhắcNhà nước của người Slovene, người Croatia và người Serb. Karl và Zita đã lưu vong ở Thụy Sĩ và sau đó bị quân Đồng minh đưa từ Hungary đến Madeira, nơi Karl qua đời năm 1922. Sau khi chồng bà qua đời, Zita và con trai Otto làm biểu tượng cho sự thống nhất của triều đại bị lưu đày. Là người Công giáo sùng đạo, cô nuôi một gia đình lớn sau khi góa chồng ở tuổi 29 và không bao giờ tái hôn.

Thời thơ ấu

Gia đình của Robert I, Công tước xứ Parma tại Villa Pianore năm 1906. Zita ngồi ngoài cùng bên phải hàng đầu tiên.

Bà sinh ngày 9 tháng 5 năm 1892 tại Villa Pianore, thuộc tỉnh Lucca, Ý.[1] Cái tên "Zita" không mấy phổ biến được đặt theo tên của Thánh Zita, một vị thánh người Ý nổi tiếng sống tại Toscana vào thế kỷ 13.[2]

Bà là con gái thứ ba và là người con thứ năm của Robert I, Công tước xứ Parma và người vợ thứ hai là Công chúa Maria Antonia của Bồ Đào Nha. Cha bà đã mất ngôi vị Công tước sau phong trào Thống nhất nước Ý năm 1859 khi ông vẫn còn là một đứa trẻ.[1] Trong cuộc hôn nhân đầu tiên với Công chúa Maria Pia của Hai Sicilia, cha bà đã có 12 người con (trong đó có 6 người bị khuyết tật trí tuệ và 3 người mất sớm).[1] Sau khi vợ cả qua đời năm 1882, hai năm sau ông tái hôn với Maria Antonia. Cuộc hôn nhân thứ hai này có thêm 12 người con, và Zita là người con thứ 17 trong tổng số 24 người con của Công tước Robert.

Gia đình Robert thường xuyên di chuyển giữa Villa Pianore (một điền trang lớn nằm giữa Pietrasanta và Viareggio) và Lâu đài Schwarzau ở Hạ Áo.Zita đã dành những năm tháng định hình nhân cách chủ yếu tại hai nơi này. Gia đình bà sống phần lớn thời gian trong năm ở Áo, chuyển đến Pianore vào mùa đông và quay lại vào mùa hè.[3] Để di chuyển giữa hai địa điểm, họ sử dụng một đoàn tàu đặc biệt gồm 16 toa để chở toàn bộ gia đình và đồ đạc.[4]

Giáo dục

Zita cùng các anh chị em được nuôi dạy để có thể nói thông thạo các thứ tiếng: Ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào NhaAnh.[3] Bà từng hồi tưởng:

Chúng tôi lớn lên trong một môi trường quốc tế. Cha tôi luôn coi mình trước hết là người Pháp, và dành vài tuần mỗi năm cùng các con lớn tại Chambord, tài sản chính của ông bên dòng sông Loire. Có lần tôi hỏi ông nên mô tả bản thân như thế nào, ông trả lời: "Chúng ta là những hoàng tử Pháp từng trị vì tại Ý." Trên thực tế, trong số 24 anh chị em, chỉ có ba người, bao gồm cả tôi, là thực sự sinh ra tại Ý.[3]

Năm mười tuổi, Zita được gửi đến trường nội trú tại Zanberg ở Thượng Bavaria, nơi có chế độ học tập và giáo dục tôn giáo nghiêm ngặt.[5] Bà được gọi về nhà vào mùa thu năm 1907 khi cha bà qua đời. Sau đó, bà ngoại của bà đã gửi Zita và chị gái Francesca đến một tu viện trên Đảo Wight để hoàn tất việc học.[6]


Được nuôi dạy như những người Công giáo ngoan đạo, các con của nhà Parma thường xuyên làm việc thiện nguyện cho người nghèo. Tại Schwarzau, gia đình đã dùng vải thừa để may quần áo. Zita và Francesca đích thân phân phát thực phẩm, quần áo và thuốc men cho những người thiếu thốn ở Pianore.[4] Ba người chị của Zita đã đi tu, và đã có lúc bà cân nhắc đi theo con đường tương tự.[7] Tuy nhiên, sau một thời gian sức khỏe kém, bà đã được gửi đi điều trị tại các suối khoáng châu Âu trong hai năm.[8]

Hôn nhân

Đám cưới của Zita và Charles, ngày 21 tháng 10 năm 1911.

Gần lâu đài Schwarzau là Villa Wartholz, nơi ở của Nữ Đại công tước Maria Theresa của Áo, dì của Zita.[9] Bà là mẹ kế của Đại công tước Otto (người đã mất năm 1906) và là bà nội kế của Đại công tước Charles của Áo-Este, người lúc bấy giờ đứng thứ hai trong dòng kế vị ngai vàng Áo. Hai con gái của Nữ Đại công tước Maria Theresa vừa là em họ của Zita, vừa là cô họ của Charles. Họ từng gặp nhau khi còn nhỏ nhưng không gặp lại trong gần mười năm do mỗi người đều bận theo đuổi việc học hành riêng.

Năm 1909, trung đoàn Long kỵ binh của Charles đóng quân tại Brandýs nad Labem, từ đó ông đến thăm dì mình tại Františkovy Láznễ.[10] Chính trong những lần thăm viếng này, Charles và Zita đã tái ngộ.Lúc bấy giờ, Charles đang chịu áp lực phải kết hôn (do bác của ông là Franz Ferdinand đã kết hôn không đăng đối, khiến các con của ông ấy bị loại khỏi dòng kế vị) và Zita là người có gia thế hoàng tộc phù hợp.[11]

Zita sau này kể lại:

Tất nhiên chúng tôi rất vui khi gặp lại nhau và trở thành những người bạn thân thiết. Về phía tôi, tình cảm dần phát triển trong hai năm sau đó. Tuy nhiên, anh ấy dường như đã quyết định nhanh hơn nhiều và càng trở nên sốt sắng hơn khi vào mùa thu năm 1910, có tin đồn rằng tôi đã đính hôn với một người họ hàng xa người Tây Ban Nha là Don Jaime, Quận công xứ Madrid. Nghe thấy vậy, Đại công tước đã lập tức rời trung đoàn ở Brandýs để tìm bà nội mình, Nữ Đại công tước Maria Theresa, người cũng là dì của tôi và là người cố vấn tin cậy trong những chuyện như vậy. Anh ấy hỏi liệu tin đồn có thật không, và khi được biết là không phải, anh ấy trả lời: "Chà, tốt hơn hết là tôi nên khẩn trương, nếu không cô ấy sẽ đính hôn với người khác mất."[12]

Đại công tước Charles đã đến Villa Pianore để cầu hôn Zita và vào ngày 13 tháng 6 năm 1911, lễ đính hôn của họ được công bố tại triều đình Áo.[12] Nhiều năm sau, Zita nhớ lại rằng sau khi đính hôn, bà đã bày tỏ với Charles những lo ngại về số phận của Đế quốc Áo và những thách thức đối với chế độ quân chủ.[12]

Charles và Zita kết hôn tại lâu đài Schwarzau vào ngày 21 tháng 10 năm 1911. Vị hoàng đế 81 tuổi Franz Joseph I cũng tham dự lễ cưới. Ông rất nhẹ nhõm khi thấy một người thừa kế có được một cuộc hôn nhân phù hợp, ông thậm chí còn vui vẻ dẫn đầu phần nâng ly chúc mừng trong bữa sáng sau đám cưới.[13]

Nữ Đại công tước Zita sớm mang thai và con trai đầu lòng của họ, Otto, chào đời vào ngày 20 tháng 11 năm 1912. Trong thập kỷ tiếp theo, họ có thêm bảy người con nữa.

Vợ của người thừa kế ngai vàng Áo

Vào thời điểm đó, Đại công tước Charles đang ở độ tuổi đôi mươi và chưa từng nghĩ mình sẽ sớm trở thành Hoàng đế, nhất là khi người bác Franz Ferdinand vẫn đang có sức khỏe tốt. Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn vào ngày 28 tháng 6 năm 1914, khi vị thái tử và vợ là Sophie bị ám sát tại Sarajevo bởi những người theo chủ nghĩa dân tộc Serb tại Bosnia. Charles và Zita nhận được tin dữ qua bức điện tín ngay trong ngày hôm đó. Bà kể lại về chồng mình: "Dù đó là một ngày nắng đẹp, tôi đã thấy gương mặt anh ấy tái nhợt đi dưới ánh mặt trời."[14]

Trong cuộc chiến nổ ra sau đó, Charles được thăng hàm Tướng trong quân đội Áo-Hung, nắm quyền chỉ huy Quân đoàn 20 trong một chiến dịch tấn công tại Tyrol.Đối với riêng Zita, cuộc chiến này là một bi kịch cá nhân khi các anh em trai của bà phải chiến đấu ở hai đầu chiến tuyến: trong khi Hoàng tử Felix và René gia nhập quân đội Áo, thì Hoàng tử Sixtus và Xavier lại gia nhập quân đội Bỉ.[15]

Hơn nữa, năm 1915, nước Ý – nơi bà sinh ra – cũng tham chiến chống lại Áo, khiến những lời đồn đại ác ý về "người đàn bà Ý" Zita bắt đầu lan truyền trong triều đình. Thậm chí cho đến tận năm 1917, Đại sứ Đức tại Vienna là Bá tước Botho von Wedel-Jarlsberg còn viết thư gửi về Berlin rằng: "Hoàng hậu xuất thân từ một vương tộc Ý... Người ta không hoàn toàn tin tưởng người phụ nữ Ý này cùng đám người thân của bà ta."[16]

Theo yêu cầu của Hoàng đế Franz Joseph, Zita và các con đã rời dinh thự tại Lâu đài Hetzendorf để chuyển đến một dãy phòng trong Cung điện Schönbrunn. Tại đây, bà đã dành nhiều thời gian bên cạnh vị Hoàng đế già trong cả những dịp lễ nghi lẫn đời thường. Franz Joseph đã tâm sự với bà những nỗi lo âu về tương lai của đế chế.[17]

Ngày 21 tháng 11 năm 1916, Hoàng đế Franz Joseph qua đời vì bệnh viêm phế quản và viêm phổi ở tuổi 86. Zita sau này nhớ lại: "Tôi nhớ dáng người mập mạp thân thương của Hoàng tử Lobkowitz tiến về phía chồng tôi, và với đôi mắt rơm rớm lệ, ông ấy đã làm dấu thánh giá trên trán Charles. Khi đó, ông ấy nói: 'Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho Bệ hạ'. Đó là lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy tước hiệu Hoàng đế được dành cho mình."[18]

Hoàng hậu và Vương hậu

Hoàng đế Charles IV của Hungary cùng Hoàng hậu Zita và Thái tử Otto trong lễ đăng quang tại Budapest, 1916.

Charles và Zita cử hành lễ đăng quang tại Budapest vào ngày 30 tháng 12 năm 1916. Sau nghi lễ chính thức là một bữa tiệc yến tiệc, nhưng các hoạt động ăn mừng sau đó đều bị hủy bỏ. Vợ chồng Hoàng đế cho rằng việc tổ chức hội hè linh đình giữa thời chiến là một điều không nên.[19]

Trong thời gian đầu trị vì, Charles thường xuyên phải rời Vienna để ra mặt trận. Ông đã cho lắp đặt một đường dây điện thoại riêng từ Baden (nơi đặt tổng hành dinh quân sự) về cung điện Hofburg để có thể trò chuyện với Zita nhiều lần mỗi ngày.[20] Zita có ảnh hưởng nhất định đến chồng; bà lặng lẽ tham dự các buổi tiếp kiến Thủ tướng hoặc các cuộc họp giao ban quân sự.[21] Bà đặc biệt quan tâm đến các chính sách xã hội, trong khi các vấn đề quân binh vẫn là đặc quyền của Charles. Với ý chí mạnh mẽ và năng lượng dồi dào, Zita đã tháp tùng chồng đến các tỉnh và ra tận tiền tuyến, đồng thời tận tụy với các công việc từ thiện và thăm hỏi thương binh tại các bệnh viện.[22]

Vụ Sixtus

Đến mùa xuân năm 1917, khi cuộc chiến đã kéo dài sang năm thứ tư, anh trai của Zita là Hoàng tử Sixtus của Bourbon-Parma – bấy giờ là sĩ quan trong quân đội Bỉ – trở thành nhân vật then chốt trong kế hoạch đàm phán hòa bình riêng biệt giữa Áo-Hung và Pháp. Charles bắt đầu liên lạc với Sixtus thông qua các đầu mối tại Thụy Sĩ trung lập. Zita đã đích thân viết thư mời anh trai mình đến Vienna, và mẹ bà, bà Maria Antonia, đã trực tiếp chuyển bức thư này.[23]

Sixtus mang đến các điều kiện đàm phán đã được phía Pháp chấp thuận: trao trả vùng Alsace-Lorraine cho Pháp; phục hồi nền độc lập của Bỉ và Serbia; bàn giao Constantinople cho Nga.[24] Về nguyên tắc, Charles đồng ý với ba điểm đầu tiên. Trong bức thư gửi Sixtus ngày 25 tháng 3 năm 1917, ông đã gửi một "thông điệp bí mật và không chính thức" tới Tổng thống Pháp rằng: "Tôi sẽ dùng mọi phương tiện và tầm ảnh hưởng cá nhân của mình [để thúc đẩy hòa bình]".[25]

Tuy nhiên, nỗ lực ngoại giao này đã thất bại. Đức kiên quyết không thương lượng về Alsace-Lorraine,[26] và khi nhận thấy sự sụp đổ cận kề của Nga, họ càng không muốn từ bỏ cuộc chiến.[27] Sixtus tiếp tục nỗ lực, thậm chí gặp gỡ David Lloyd George tại London, nhưng phía Anh không thể thuyết phục các tướng lĩnh rằng họ nên giảng hòa với Áo.[27] Một thành tựu cá nhân của Zita trong thời gian này là ngăn chặn kế hoạch của Đức định ném bom dinh thự của Vua và Hoàng hậu Bỉ vào ngày lễ quan trọng của họ.[28]

Tháng 4 năm 1918, sau khi Hiệp ước Brest-Litovsk được ký kết, Ngoại trưởng Áo Ottokar Czernin đã có bài phát biểu công kích Thủ tướng Pháp mới nhậm chức Georges Clemenceau, coi ông là trở ngại chính cho hòa bình. Phẫn nộ trước điều này, Clemenceau đã cho công bố bức thư mật ngày 24 tháng 3 năm 1917 của Hoàng đế Charles.[29] Vụ việc khiến tính mạng của Sixtus bị đe dọa và dấy lên nỗi lo ngại Đức sẽ chiếm đóng Áo. Czernin đã ép Charles phải thề với các đồng minh rằng Sixtus không được ủy quyền để đưa thư cho chính phủ Pháp. Cuối cùng, Czernin từ chức khi không thể thuyết phục được Hoàng đế thoái vị sau vụ bê bối này.[30]

Kết thúc đế chế

Cuộc chiến dần đi đến hồi kết bi thảm cho vị Hoàng đế đang bị bủa vây. Ngày 16 tháng 10 năm 1918, Charles ban hành "Tuyên ngôn Nhân dân", đề xuất tái cấu trúc đế chế theo mô hình liên bang. Tuy nhiên, các quốc gia thành viên đã lần lượt ly khai, khiến đế chế thực sự tan rã.[31]

Rời bỏ các con tại Gödöllő, Charles và Zita quay về Cung điện Schönbrunn. Đến ngày 11 tháng 11, các bộ trưởng chuẩn bị một bản tuyên ngôn để Charles ký. Khi vừa nhìn qua, Zita đã nhầm tưởng đó là văn bản thoái vị và thốt lên câu nói nổi tiếng:

Một quân chủ không bao giờ thoái vị. Ông ấy có thể bị phế truất... Được thôi, đó là vũ lực. Nhưng thoái vị thì không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ! Tôi thà ngã xuống tại đây cùng với bệ hạ. Sau đó sẽ còn Otto. Và ngay cả khi tất cả chúng ta bị sát hại, vẫn sẽ còn những người nhà Habsburg khác![32]

Charles cuối cùng đã cho phép công bố tài liệu này. Ông cùng gia đình và những người thân tín còn lại rời đi để đến khu săn bắn hoàng gia tại Eckartsau, gần biên giới với Hungary và Slovakia.[33] Ngày hôm sau, Cộng hòa Đức-Áo chính thức được tuyên bố thành lập.

Lưu vong

Charles và Zita cùng các con khi lưu vong tại Herstenstein, Thụy Sĩ, 1921.

Sau những tháng ngày khó khăn tại Eckartsau, gia đình Hoàng gia đã nhận được sự giúp đỡ từ một nguồn lực không ngờ tới. Hoàng tử Sixtus đã gặp Vua George V để cầu xin sự giúp đỡ cho nhà Habsburg. Vua Anh, vốn vẫn còn bàng hoàng sau khi những người thân của mình tại Nga bị hành quyết vài tháng trước đó, đã hứa sẽ "thực hiện những gì cần thiết ngay lập tức".[34]

Trung tá Edward Lisle Strutt, một người am hiểu sâu sắc về nước Áo, được cử đến để hộ tống gia đình. Ngày 24 tháng 3 năm 1919, một đoàn tàu đặc biệt dưới sự bảo vệ của binh sĩ Anh đã đưa Charles, Zita cùng các con rời khỏi Áo đến Thụy Sĩ. Nhờ sự hỗ trợ này, vị Hoàng đế đã có thể rời đi trong tư thế ngẩng cao đầu mà không phải ký văn bản thoái vị.[35]

Hungary và lưu vong ở Maidera

Điểm dừng chân đầu tiên của gia đình là Lâu đài Wartegg tại Thụy Sĩ, nhưng trước sức ép chính trị, họ phải chuyển đến Villa Prangins gần Hồ Geneva. Cuộc sống gia đình bình lặng ngắn ngủi chấm dứt vào năm 1920 khi Miklós Horthy được bầu làm Nhiếp chính tại Hungary. Bất chấp những lời cảnh báo, Charles đã hai lần nỗ lực trở về Hungary để khôi phục quyền lực vào năm 1921. Zita luôn sát cánh cùng chồng, thậm chí bà đã kiên quyết đi cùng ông trong chuyến tàu định mệnh tiến về Budapest lần cuối cùng.[36]

Các con của Zita và Charles tại Lequeitio

Sau khi thất bại, các cường quốc phe Hiệp ước quyết định đưa họ đi lưu vong xa hơn để ngăn chặn mọi âm mưu tái chiếm ngai vàng. Đảo Madeira của Bồ Đào Nha đã được chọn làm nơi quản thúc. Ngày 19 tháng 11 năm 1921, họ đặt chân đến Funchal. Các con của họ, sau một thời gian được bà nội kế Maria Theresa chăm sóc tại Thụy Sĩ, đã đoàn tụ với cha mẹ vào tháng 2 năm 1922.[37]

Cái chết của Charles

Sức khỏe của Charles vốn đã suy yếu từ trước. Sau một lần đi mua đồ chơi cho các con vào một ngày lạnh giá ở Funchal, ông bị viêm phế quản nặng, sau đó biến chứng thành viêm phổi. Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men và dịch vụ y tế, Zita lúc bấy giờ đang mang thai tháng thứ tám , đã kiên cường vừa chăm sóc chồng, vừa lo cho các con và gia nhân cũng đang đổ bệnh.

Hoàng đế Charles qua đời vào ngày 1 tháng 4 năm 1922 ở tuổi 34. Lời cuối cùng ông dành cho vợ là: "Anh yêu em rất nhiều."[38] Một nhân chứng tại tang lễ đã bày tỏ sự ngưỡng mộ: "Người phụ nữ này thật đáng khâm phục. Bà ấy không hề mất đi sự điềm tĩnh dù chỉ một giây... Bà ấy chinh phục tất cả bằng phong thái của mình."[39] Để tưởng nhớ chồng, Zita đã mặc trang phục tang lễ màu đen suốt 67 năm còn lại của cuộc đời mình.[40]

Góa phụ

Di chuyển đến Bỉ

Chuyến bay đến Bắc Mỹ

Hậu chiến

Cái chết

Nguyên nhân tuyên phúc

Zita của Borbone-Parma
Tôi tớ Chúa
Hoàng hậu; nữ giáo dân
Tôn kínhnhà thờ Công giáo
Lễ kính21 tháng 10

Danh hiệu, phong cách, huân chương và huy hiệu

Kính xưng Vương thất của
Zita của Parma

Cách đề cập Hoàng hậu tông đồ của Hoàng gia và triều đình
Cách xưng hô Hoàng hậu tông đồ của Hoàng gia và triều đình
Cách thay thế {{{altstyle}}}

Danh hiệu và phong cách

Huân chương

Huân chương triều đại

Huân chương nước ngoài

Con cái

Tổ tiên

Tham khảo

  1. ^ a b c Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 1.
  2. ^ Bogle, James and Joanna (1990). A Heart for Europe. Gracewing Publishing. tr. 16. ISBN 0-85244-173-8.
  3. ^ a b c Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 2.
  4. ^ a b Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 7.
  5. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 3.
  6. ^ Bogle, James and Joanna (1990). A Heart for Europe. tr. 19.
  7. ^ Bogle, James and Joanna (1990). A Heart for Europe. tr. 20.
  8. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 15.
  9. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 3.
  10. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 5.
  11. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 16.
  12. ^ a b c Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 8.
  13. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 19.
  14. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 30.
  15. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 33.
  16. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 36.
  17. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 39.
  18. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 41.
  19. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 55.
  20. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 60.
  21. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 50.
  22. ^ Beeche, Arturo (2010). The Borbons of the Two Sicilies. tr. 21.
  23. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 66.
  24. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 61.
  25. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 72.
  26. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 73.
  27. ^ a b Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 78.
  28. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 74.
  29. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 95.
  30. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 102.
  31. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 113–115.
  32. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 130.
  33. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 132.
  34. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 137.
  35. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 141–146.
  36. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 192.
  37. ^ Howe, Malcolm (2020). "Zita, the last Empress of Austria, grand-daughter of a King of Portugal". British Historical Society of Portugal Annual Report. 47.
  38. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 214–215.
  39. ^ Brook-Shepherd, Gordon (1991). The Last Empress. tr. 216.
  40. ^ Bogle, James and Joanna (1990). A Heart for Europe. tr. 151.

Tham khảo

Liên kết ngoài