Bước tới nội dung

Blanca của Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Blanca của Tây Ban Nha
Blanca de Borbón
Đại vương công phu nhân Leopold Salvator của Áo
Thông tin chung
Sinh(1868-09-07)7 tháng 9 năm 1868
Graz, Steiermark, Đế quốc Áo-Hung
Mất25 tháng 10 năm 1949(1949-10-25) (81 tuổi)
Viareggio, Toscana, Ý
Phối ngẫu
Leopold Salvator của Áo
(cưới 1889 – mất 1931)
Hậu duệ
Tên đầy đủ
Tiếng Tây Ban Nha: Blanca de Castilla María de la Concepción Teresa Francisca de Asís Margarita Juana Beatriz Carlota Luisa Fernanda Adelgunda Elvira Ildefonsa Regina Josefa Micaela Gabriela Rafaela
Vương tộcBorbón
Thân phụCarlos María của Tây Ban Nha
Thân mẫuMargherita của Parma
Tôn giáoCông giáo La Mã

Blanca của Tây Ban Nha hay Blanca de Borbón (7 tháng 9 năm 1868 – 25 tháng 10 năm 1949) là Vương nữ Tây Ban Nha theo phe Carlos,[1] và là Vương nữ Pháp theo phe chính thống.[2] Năm 1889, Blanca kết hôn với Đại vương công Leopold Salvator của Áo, Đại công tử xứ Toscana. Gia đình của Blanca rời khỏi Áo sau khi chế độ quân chủ sụp đổ và định cư tại Barcelona. Khi dòng dõi nam của gia đình Blanca kết thúc sau cái chết của người chú Alfonso Carlos, Công tước xứ San Jaime, một số người theo phe Carlos đã công nhận Blanca là người thừa kế ngai vàng hợp pháp.

Đầu đời

Tập tin:Prinzessinnen Luise, Blanka und Maria Luise.jpg
Blanca (ở giữa) cùng hai người em họ Luise (trái) và Maria Luisa (phải).

Blanca sinh ra tại Graz, Steiermark thuộc Đế quốc Áo-Hung, là con gái cả của Carlos María của Tây Ban Nha, người đòi ngai vàng Tây Ban Nha theo phe Carlos dưới tên Carlos VII, và vợ là Margherita của Parma. Khi Blanca chào đời, cha mẹ bà đang sống tại Steiermark để được gần với cụ ngoại của bà là Công tước phu nhân xứ Berry. Don Carlos rời đi cùng ngày đến Paris, nơi ông nghe tin về cuộc cách mạng đã phế truất Nữ vương Isabel II của Tây Ban Nha. Hai mẹ con Blanca đến Paris sau đó, và từ đây cả gia đình họ chuyển đến Thụy Sĩ.

Tuổi thơ của Blanca được ghi dấu bởi Chiến tranh Carlos lần thứ ba, trong đó Carlos María đã cố gắng tuy không thành để giành lấy ngai vàng Tây Ban Nha. Để ở gần biên giới Tây Ban Nha, Margherita cùng các con đã chuyển đến Pau. Trong một thời gian vào năm 1875, Blanca sống tại Elizondo, Navarra tại triều đình do cha bà thành lập. Sau khi cuộc chiến kết thúc tồi tệ, dập tắt hy vọng giành ngai vàng Tây Ban Nha của Don Carlos, gia đình Blanca chủ yếu sống tại quận Passy của Paris. Năm 1881, họ bị trục xuất khỏi Pháp do các hoạt động chính trị của Carlos. Vào thời điểm đó, cha mẹ của Blanca đã sống ly thân. Carlos chuyển đến sống tại cung điện ở Venezia, trong khi Margherita lui về tại Tenuata Reale, một điền trang nằm tại Viareggio, Ý được thừa kế vào năm 1879 từ bà cố của Blanca là Maria Teresa của Sardegna. Blanca và các em chia thời gian sống với cha mẹ. Năm 1881, bốn chị em theo học tại Sacre Coeur, một ngôi trường Công giáo do các nữ tu điều hành tại Firenze. Năm 1883, sau khi hoàn thành việc học, bà đến Tây Ban Nha một cách bí mật với sự cho phép của cha mẹ. Khi trở về, Blanca chính thức được giới thiệu với triều đình tại Viên.

Hôn nhân

Tại triều đình Habsburg, Blanca, người chị cả và xinh đẹp nhất trong bốn chị em gái đã thu hút sự chú ý của Đại vương công Leopold Salvator của Áo, con trai cả của Đại vương công Karl Salvator của Áo và vợ là Maria Immacolata của Hai Sicilie. Cả hai kết hôn vào ngày 24 tháng 10 năm 1889 tại Schloss FrohsdorfLanzenkirchen, Hạ Áo. Sau khi kết hôn, cặp vợ chồng định cư tại Lemberg, Galicia, sau đó là Agram, Croatia và cuối cùng là Viên, sau khi Leopold Salvator được bổ nhiệm vào quân đội.

Dinh thự chính của Blanca và Leopold Salvator là Palais Toskana nằm tại thủ đô Viên. Hai vợ chồng ngoài ra sở hữu Schloss Wilhelminenberg và một điền trang nông thôn gần Viareggio, nơi Blanca được thừa kế từ mẹ. Cuộc hôn nhân của Blanca và Leopold Salvator hạnh phúc và cả hai có mười người con.

Cuối đời

Cho đến Thế chiến thứ nhất, Blanca và gia đình có một cuộc sống dễ chịu và đơn giản, và họ di chuyển theo mùa giữa các nơi cư trú khác nhau. Trong Thế chiến thứ nhất, Leopold Salvator đảm nhận việc cung cấp lương thực cho quân đội Áo ở mặt trận, và là tổng thanh tra Pháo binh cho đến năm 1918. Hai người con trai lớn nhất của Blanca cũng gia nhập quân đội Áo chiến đấu tại mặt trận Ý, trong khi hai người con gái Immaculata và Margaretha làm việc cho Hội chữ thập đỏ Áo. Sau khi chiến tranh kết thúc và Áo tuyên bố thành lập nền cộng hòa, tài sản của Hoàng thất đã bị chính phủ mới của Áo tịch thu. Wilheminenberg được chuyển đổi thành bệnh viện quân y và sau đó được bán cho một chủ ngân hàng người Thụy Sĩ. Với việc mất đi của cải, gia đình của Blanca phải sống lưu vong với số tiền ít ỏi. Họ không thể sống ở Pháp hay Ý, những quốc gia từng là kẻ thù của Áo trong cuộc chiến.

Blanca buộc phải xin người em họ Alfonso XIII, người thuộc nhánh đối địch của Vương tộc Borbón, cho phép được sống tại Barcelona. Alfonso XIII đã cho phép cả gia đình đến Tây Ban Nha, với điều kiện không được ủng hộ yêu sách ngai vàng của em trai Blanca là Jaime, Công tước xứ Madrid. Năm 1922, Blanca được công nhận là công dân Tây Ban Nha. Gia đình của Blanca phải sống khiêm tốn trong một ngôi nhà tại Barcelona.

Sự sụp đổ của Alfonso XIII và việc tuyên bố Đệ nhị Cộng hòa Tây Ban Nha vào tháng 4 năm 1931 đã không ảnh hưởng trực tiếp đến hoàn cảnh của gia đình Blanca. Tuy nhiên vào năm tháng sau, Leopold Salvator đã qua đời trong chuyến đi đến Áo khi đang cố gắng lấy lại một số tài sản đã mất. Blanca rơi vào tình cảnh kinh tế khó khăn, sống nhờ những vườn nho tại La Tenuata Reale ở Viareggio và một khoản tiền thuê nhà nhỏ do đảng Carlos của Catalunya cung cấp. Ba người con của Blanca là Dolores, Margaretha và Karl vẫn sống cùng với mẹ, tuy nhiên tình hình chính trị bất ổn tại Tây Ban Nha buộc họ phải trở về Áo.

Gia đình của Blanca đẫ đến thuê ba căn phòng tại dinh thự cũ Palais Toskana. Vào tháng 3 năm 1938, Adolf Hitler sáp nhập nước Áo, và Blanca cùng Dolores và Karl buộc phải chuyển đến La Tenuta Reale tại Viareggio.

Carloctavismo

Vào đầu năm 1935, một nhánh thiểu số của phe Carlos được gọi là "Cruzadistas", sau này được gọi là Carloctavistas, đã tổ chức một cuộc họp lớn tại Zaragoza. Cuộc họp thông qua một tuyên bố rằng Blanca có quyền truyền lại quyền thừa kế hợp pháp từ cha mình, Vua Carlos VII theo phe Carlos, cho các con trai của bà.[3] Trong 14 năm tiếp theo, lập trường của Blanca về việc thừa kế liên tục thay đổi, và chia thành bốn giai đoạn khác nhau;

  • Vào năm 1935, khi Alfonso Carlos, khi đó là người đòi ngôi vua theo phe Carlos, nhanh chóng hủy bỏ cuộc họp tại Zaragoza,[4] bà đã công khai tách mình ra khỏi nhóm.[5]
  • Vào tháng 5 năm 1936, sau khi Alfonso Carlos quyết định giải quyết vấn đề kế vị, bằng cách chỉ định người họ hàng xa Javier de Borbón-Parma làm nhiếp chính tương lai, Blanca đã đưa ra tuyên bố mới rằng sau cái chết của chú mình, bà sẽ chấp nhận quyền thừa kế để truyền lại cho con trai út của bà.[6]
  • Năm 1940, Blanca tuyên bố hoàn toàn trung thành với nhiếp chính Don Javier. Tuyên bố này không có nghĩa Blanca từ bỏ rõ ràng quyền kế vị, mà ngầm ám chỉ rằng chúng ít nhất đã bị tạm gác lại hoặc đình chỉ.[7]
  • Vào tháng 5 năm 1943, Blanca quay trở lại lập trường năm 1936, tuyên bố trước tiên sẽ tiếp nhận và sau đó truyền lại quyền thừa kế cho con trai út.[8] Vào một tháng sau đó, khi Karl tuyên bố là người thừa kế hợp pháp của phe Carlos, Blanca đã ủng hộ con trai cho đến khi bà qua đời.

Blanca qua đời vào ngày 25 tháng 10 năm 1949 tại Viareggio, Toscana, thọ 81 tuổi.

Con cái

Tập tin:Infanta Blanca and her family.jpg
Blanca cùng chồng và mười người con. Từ trái sang phải: Assunta, Franz Josef, Immaculata, Maria Antonia, Rainier, Leopold Salvator, Dolores, Anton, Karl, Leopold, Margaretha và Blanca. Viên, 1915.
  • Dolores của Áo (5 tháng 5 năm 1891 – 10 tháng 4 năm 1974)
  • Immaculata của Áo (9 tháng 9 năm 1892 – 3 tháng 9 năm 1971), kết hôn với Nobile Igino Neri-Serneri
  • Margaretha của Áo (8 tháng 5 năm 1894 – 21 tháng 1 năm 1986), kết hôn với Francesco Maria Taliani de Marchio
  • Rainer của Áo (21 tháng 11 năm 1895 – 25 tháng 5 năm 1930)
  • Leopold của Áo (30 tháng 1 năm 1897 – 14 tháng 3 năm 1958), kết hôn với Nữ Nam tước Dagmar von Nicolics-Podrinski, sau đó tái hôn với Alicia Gibson Coburn
  • Maria Antonia của Áo (13 tháng 7 năm 1899 – 22 tháng 10 năm 1977), kết hôn với Don Ramón de Orlando y Villalonga (mất năm 1936), sau đó tái hôn với Luis Perez Sucre
  • Anton của Áo (20 tháng 3 năm 1901 – 22 tháng 10 năm 1987), kết hôn với Ileana của România
  • Assunta của Áo (10 tháng 8 năm 1902 – 24 tháng 1 năm 1993), kết hôn với Joseph Hopfinger
  • Franz Josef Karl của Áo (4 tháng 2 năm 1905 – 9 tháng 5 năm 1975), kết hôn với Maria Aloisa Baumer, sau đó tái hôn với Maria Elena Seunig
  • Karl Pius của Áo (4 tháng 12 năm 1909 – 24 tháng 12 năm 1953), kết hôn với Christa Satzger de Bálványos

Tổ tiên

Ghi chú

  1. ^ Với tư cách là con gái của Don Carlos de Borbón y Austria-Este, người đòi ngai vàng Tây Ban Nha theo phe Carlos.
  2. ^ Với tư cách là con gái của Charles xứ Bourbon, người đòi ngai vàng nước Pháp theo phe chính thống.
  3. ^ Jesús Pabón, La otra legitimidad, Madrid 1965, tr. 113, Martin Blinkhorn, Carlism and Crisis in Spain 1931–1939, Cambridge 2008, ISBN 9780521207294, tr. 216
  4. ^ Melchor Ferrer, Historia del tradicionalismo español vol XXX, Sevilla 1979, tr. 58–59
  5. ^ Francisco de las Heras y Borrero, Un pretendiente desconocido. Carlos de Habsburgo. El otro candidato de Franco, Madrid 2004, ISBN 8497725565, tr. 40
  6. ^ Doña Blanca tuyên bố rằng bà sẽ chấp nhận "los derechos que me pertenecen a la corona de España, para transmitírlos a mi amado hijo Carlos, en quíen las circunstancias de los demás hermanos, designan como mi heredero (những quyền lợi mà tôi được hưởng theo vương miện Tây Ban Nha, để truyền lại cho con trai yêu dấu của tôi là Carlos, người được những người anh em khác chỉ định là người thừa kế của tôi)", Heras y Borrero 2004, tr. 44
  7. ^ Manuel de Santa Cruz Alberto Ruiz de Galarreta, Apuntes y documentos para la historia del tradicionalismo español: 1939–1966, tập 5, Seville 1979, tr. 109–115
  8. ^ Robert Vallverdú i Martí, La metamorfosi del carlisme català: del "Déu, Pàtria i Rei" a l'Assamblea de Catalunya (1936-1975), Barcelona 2014, ISBN 9788498837261, tr. 120

References

  • Balansó, Juan. Las perlas de la corona. Plaza & Janés Editores SA, 1997, ISBN 84-01-53023-7
  • McIntosh, David. The Unknown Habsburgs. Rosvall Royal Books, 2000, ISBN 91-973978-0-6

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).