Gennaro Gattuso
Bản mẫu:Infobox3colsBản mẫu:Wikidata hình ảnhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Gennaro Ivan "Rino" Gattuso[1][2] Bản mẫu:Postnominals (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”.; sinh ngày 9 tháng 1 năm 1978) là một cựu cầu thủ bóng đá và hiện là huấn luyện viên người Ý.
Thời còn thi đấu, ông chủ yếu chơi ở vị trí tiền vệ phòng ngự.[3] Khi còn ở đỉnh cao phong độ, Gattuso là một cầu thủ thi đấu rất quyết liệt và mạnh mẽ, luôn có mặt khắp mọi điểm nóng trên sân và được coi là một trong những tiền vệ phòng ngự tốt nhất trên thế giới.
Trong suốt sự nghiệp tại Milan, Gattuso đã giành được hai Cúp UEFA Champions League mùa giải 2002-03 và 2006-07, danh hiệu Serie A mùa giải 2003-04. Ông đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của Ý trước Pháp trong trận chung kết World Cup 2006 và là một phần trong hành trình lên ngôi vô địch của đội tuyển.
Sự nghiệp
Gattuso bắt đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp tại Perugia, nhưng tới tháng 6 năm 1997, khi mới 19 tuổi, ông được bán cho Glasgow Rangers của Scotland.
Tháng 10 năm 1998, Gattuso trở lại Serie A thi đấu cho Salernitana với giá chuyển nhượng 4 triệu bảng Anh.
Salernitana xuống hạng vào cuối mùa giải nhưng với phong độ ấn tượng của mình, Gattuso được AC Milan mua lại với giá 8 triệu bảng Anh. Ông nhanh chóng chiếm được một suất trong đội hình chính với lối chơi nhiệt huyết.
Tuy nhiên, sau đó dưới thời của hai huấn luyện viên Arrigo Sacchi và Fatih Terim, ông không thường xuyên có mặt trong đội hình chính và hầu hết chỉ được ra sân từ băng ghế dự bị.
Cuối năm 2002, Carlo Ancelotti trở thành huấn luyện viên trưởng của Milan và tiến hành những công cuộc cải cách mới mạnh mẽ trên toàn bộ chiến thuật và phong cách của đội bóng. Với cường độ hoạt động cao và sự đa năng trong vai trò thu hồi bóng, Gattuso được bố trí đá tiền vệ phòng ngự lùi sâu bên cạnh Pirlo và làm chốt chặn hiệu quả cho Milan. Biệt danh "Rino" (tê giác) cũng xuất hiện từ đây. Cặp đôi tiền vệ này đóng vai trò then chốt trong những thành công trong nước và quốc tế của Milan dưới thời Ancelotti.[4][5]
Gattuso chơi trận chung kết UEFA Champions League lần đầu tiên trong sự nghiệp khoác áo AC Milan vào mùa giải 2002–2003 và giành chức vô địch cùng Milan sau khi chiến thắng trước Juventus trên loạt sút luân lưu.[6]
Mùa giải 2004–05, Milan một lần nữa tiến vào chung kết UEFA Champions League, song đã thất bại trước Liverpool 4–3 trên chấm luân lưu. Trong trận đấu đó, Gattuso là người phạm lỗi với Baros trong vòng cấm địa để Xabi Alonso đá phạt đền thành công, gỡ hòa 3–3 cho Liverpool.[7]
Gattuso đã chơi trận đấu thứ 300 cho câu lạc bộ trong một trận cầu không bàn thắng gặp Lille tại Champions League vào ngày 26 tháng 9 năm 2006. Ông đã gia hạn hợp đồng của anh với Milan cho đến năm 2011 vào ngày 1 tháng 2 năm 2007.[8]
Năm 2007, Milan lại gặp Liverpool trong trận chung kết Champions League, ký ức tại Istanbul hai năm trước đã không lặp lại khi Gattuso cùng Milan đã đánh bại Liverpool với tỉ số 2–1 và giành chức vô địch UEFA Champions League lần thứ 7 trong lịch sử câu lạc bộ.
Ông chơi trận đấu thứ 400 cho Milan vào ngày 22 tháng 8 năm 2009 trước Salernitana tại Serie A với chiếc băng thủ quân trên tay.
Gattuso còn cùng AC Milan giành Coppa Italia 2002-2003, Scudetto mùa giải 2003-2004, Supercoppa Italiana năm 2005.
Trận đấu được đánh giá là hay nhất trong sự nghiệp của Gattuso là chiến thắng 3–0 của Milan trước Manchester United tại lượt về bán kết UEFA Champions League 2006–2007 trên sân San Siro. Chính sự năng nổ và hiệu quả của ông cùng với khả năng tranh chấp tốt đã khiến hàng tiền vệ của đối thủ hoàn toàn không thể kiểm soát được trận đấu, dẫn tới một trong những trận thua đáng thất vọng nhất trong lịch sử của đội bóng Anh này.[9]
Sau khi gia hạn hợp đồng với Milan đến tháng 6 năm 2012, Gattuso bị phát hiện mắc một hội chứng rối loạn thị giác chỉ vài ngày trước khi mùa giải 2011–2012 bắt đầu. Vì những ảnh hưởng của hội chứng này, ông buộc phải nói lời chia tay với đội bóng mà mình gắn bó suốt 14 năm vào cuối mùa giải.
Bến đỗ tiếp theo của Gattuso là Sion của Thụy Sĩ, ông ký hợp đồng chơi cho đội bóng này vào tháng 6 năm 2012. Chỉ sau vài tháng, Gattuso đã quyết định bắt đầu sự nghiệp huấn luyện của mình tại Sion với bản hợp đồng mới kiêm nhiệm hai vai trò cầu thủ và huấn luyện viên vào tháng 2 năm 2013 trước khi rời câu lạc bộ này vào tháng 5 năm 2013.[10]
Sự nghiệp quốc tế
Gattuso từng được triệu tập vào đội tuyển U-18 Ý dự VCK U18 Châu Âu năm 1995, nơi họ giành chức á quân. Tiền vệ này cũng góp mặt trong đội hình U-21 Ý vô địch Châu Âu 5 năm sau đó tại Slovakia.
Ông ra mắt tại đội tuyển quốc gia vào tháng 2 năm 2000 trong trận giao hữu với Thụy Điển.
Trong suốt sự nghiệp, Gattuso đã chơi tổng cộng 73 trận trong màu áo đội tuyển quốc gia. Ông đã cùng đội bóng áo thiên thanh tham dự World Cup 2002, Euro 2004, World Cup 2006, Euro 2008, Confederations Cup 2009 và World Cup 2010.
Giải đấu thành công nhất của Gattuso và đội tuyển Ý là World Cup 2006 được tổ chức tại Đức khi họ đã giành chức vô địch như một phép màu sau bê bối Calciopoli.
Gattuso giã từ đội tuyển quốc gia sau World Cup 2010, trận đấu cuối cùng của ông cho đội tuyển là trận cuối cùng trong vòng bảng giải đấu này trước Slovakia, khi họ để thua 3–2 và bị loại.
Sự nghiệp huấn luyện
Palermo
Sau khi rời câu lạc bộ đầu tiên trong sự nghiệp huấn luyện là Sion, Gattuso nhanh chóng quay lại Ý và trở thành huấn luyện viên của Palermo tại Serie B. Tuy nhiên, ông bị sa thải sau 6 trận vì chỉ kiếm nổi 2 trận thắng và 1 trận hòa.[11]
Suốt phần còn lại của mùa giải, Gattuso đã tham gia khóa học bằng huấn luyện viên chuyên nghiệp của UEFA và lấy được chứng nhận vào tháng 9 năm 2014.[12]
OFI Crete
Tháng 6 năm 2014, Gattuso nhận lời làm huấn luyện viên của OFI ở giải vô địch quốc gia Hy Lạp.[13] Đây là giai đoạn khó khăn về kinh tế của câu lạc bộ này do khủng hoảng kinh tế của đất nước. Ban huấn luyện và các cầu thủ đã không được phát lương đúng hạn. Gattuso quyết định từ chức vào tháng 10 năm 2014 do các cầu thủ không có tinh thần thi đấu vì nợ lương,[14] tuy nhiên, trước tình cảm của các cổ động viên và ban lãnh đạo, ông chấp nhận ở lại.[15] Đến tháng 12 năm 2014, Gattuso buộc phải rời OFI vì không thể làm gì hơn trước tình hình tài chính của đội.[16]
Pisa
Tháng 8 năm 2015, Gattuso trở thành huấn luyện viên trưởng của Pisa tại giải Serie C.[17] Ông đã dẫn dắt Pisa giành quyền thăng hạng Serie B sau khi đánh bại Foggia 5–3 sau 2 lượt trận của vòng đấu play-off, thành quả đầu tiên trên cương vị huấn luyện viên của Gattuso.[18]
Milan
Tháng 5 năm 2017, Gattuso được AC Milan bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng đội trẻ Primavera. Ngày 27 tháng 11 năm 2017, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của AC Milan sau khi huấn luyện viên Vincenzo Montella bị sa thải vì thành tích kém cỏi.
Tháng 4 năm 2018, Gattuso gia hạn hợp đồng với Milan đến năm 2021.[19][20][21] Tuy nhiên, ngày 28 tháng 5 năm 2019, Gattuso đã bị Milan sa thải.[22]
Napoli
Ngày 11 tháng 12 năm 2019, Gattuso được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Napoli sau khi câu lạc bộ này đã sa thải Carlo Ancelotti 1 ngày trước đó.[23]
Fiorentina
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, Fiorentina thông báo về việc bổ nhiệm Gattuso làm huấn luyện viên trưởng từ ngày 1 tháng 7.[24] Nhưng vào ngày 17 tháng 6, tức 2 tuần trước khi hợp đồng có hiệu lực, ông và Fiorentina đã hủy bỏ hợp đồng.[25]
Valencia
Ngày 9 tháng 6 năm 2022, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Valencia, đội thi đấu tại La Liga với bản hợp đồng có thời hạn hai mùa giải.[26] Vào ngày 30 tháng 1 năm 2023, Gattuso và Valencia đã đi đến thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.[27]
Ý
Vào ngày 15 tháng 6 năm 2025, Gattuso được công bố là huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Ý, thay thế Luciano Spalletti bị sa thải. Trận ra mắt của ông diễn ra vào ngày 5 tháng 9 trong chiến thắng 5–0 trước Estonia.[28] Vào tháng 11 cùng năm, Ý lần thứ ba liên tiếp phải bước vào vòng play-off sau trận thua 4–1 trên sân nhà trước Na Uy.[29] Vào ngày 31 tháng 3 năm 2026, sau khi đánh bại Bắc Ireland 2–0 ở bán kết,[30] Ý để thua Bosnia và Herzegovina trên chấm luân lưu sau khi hòa 1–1 trong trận chung kết play-off và không giành vé dự FIFA World Cup 2026.[31] Gattuso đã xin lỗi về thất bại này,[32] sau đó từ chức vào ngày 3 tháng 4.[33]
Bàn thắng quốc tế
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải | ||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 15-11-2000 | Turin, Italia | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Anh | flag alias = Flag of England.svg | flag alias-naval = English White Ensign 1620.svg | link alias-naval = Hải quân Hoàng gia Anh | flag alias-navy = English White Ensign 1620.svg | link alias-navy = Hải quân Hoàng gia Anh | link alias-cricket = Đội tuyển cricket Anh | empty = England Saxons | size = | name = | variant = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | altvar = football
}} || 1–0 || Thắng || Giao hữu |
Thống kê
| Đội | Mùa giải | Giải quốc gia | Cúp | Châu Âu1 | Khác 2 | Tổng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Perugia | 1995-96 | 2 | 0 | - | - | - | - | - | - | 2 | 0 |
| 1996-97 | 8 | 0 | - | - | - | - | - | - | 8 | 0 | |
| Tổng số | 10 | 0 | - | - | - | - | - | - | 10 | 0 | |
| Rangers | 1997-98 | 36 | 7 | - | - | 2 | 1 | - | - | 38 | 8 |
| 1998 | 4 | 0 | - | - | 5 | 1 | - | - | 9 | 1 | |
| Tổng số | 40 | 7 | - | - | 7 | 2 | - | - | 47 | 9 | |
| Salernitana | 1998-99 | 25 | 0 | - | - | - | - | - | - | 25 | 0 |
| Tổng số | 25 | 0 | - | - | - | - | - | - | 25 | 0 | |
| Milan | 1999-00 | 22 | 1 | 1 | 0 | 5 | 0 | - | - | 28 | 1 |
| 2000-01 | 24 | 0 | 2 | 0 | 10 | 0 | - | - | 36 | 0 | |
| 2001-02 | 32 | 0 | 5 | 0 | 10 | 0 | - | - | 47 | 0 | |
| 2002-03 | 25 | 0 | 3 | 0 | 14 | 0 | - | - | 42 | 0 | |
| 2003-04 | 33 | 1 | 2 | 0 | 8 | 1 | 2 | 0 | 45 | 2 | |
| 2004-05 | 32 | 0 | 2 | 0 | 11 | 0 | 1 | 0 | 46 | 0 | |
| 2005-06 | 35 | 3 | 3 | 0 | 11 | 0 | - | - | 49 | 3 | |
| 2006-07 | 30 | 1 | 4 | 0 | 13 | 0 | - | - | 47 | 1 | |
| 2007-08 | 31 | 1 | 1 | 0 | 9 | 0 | 2 | 0 | 43 | 1 | |
| 2008-09 | 12 | 0 | - | - | 4 | 1 | - | - | 16 | 1 | |
| 2009–10 | 22 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | – | 24 | 0 | ||
| 2010–11 | 31 | 2 | 2 | 0 | 5 | 0 | – | 38 | 2 | ||
| 2011–12 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | 7 | 0 | |
| Tổng số | 335 | 9 | 26 | 0 | 99 | 2 | 8 | 0 | 468 | 11 | |
| Sion | 2012–13 | 27 | 1 | 5 | 0 | – | – | 32 | 1 | ||
| Toàn bộ sự nghiệp | 431 | 13 | 37 | 0 | 106 | 4 | 12 | 0 | 586 | 17 | |
1Cúp châu Âu gồm UEFA Champions League, UEFA Cup và UEFA Super Cup
2Các giải đấu khác gồm Supercoppa Italiana, Intercontinental Cup và FIFA Club World Cup
Danh hiệu
Cùng câu lạc bộ
- Trofeo Giacinto Facchetti (1): 1995–96
- Serie A (2): 2003–04, 2010-11
- Coppa Italia (1): 2002–03
- Supercoppa Italiana (1): 2004
- UEFA Champions League (2): 2002–03, 2006–07
- UEFA Super Cup (2): 2003, 2007
- FIFA Club World Cup (1): 2007
Cùng đội tuyển
- FIFA World Cup (1): 2006
- Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu (1): 2000
Cá nhân
- World Cup 2006 (1): Được lọt vào đội hình xuất sắc nhất giải đấu
- World Cup 2006 (1): Được lọt vào Top 10 cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu
Đời tư
Năm 2004, Gattuso kết hôn với Monica Romano (người Scotland gốc Ý). Họ gặp nhau ở Glasgow trong thời gian tiền vệ này chơi cho Rangers. Vợ chồng ông có một con gái tên Gabriela (sinh ngày 20 tháng 6 năm 2004),[35] và một con trai tên Francesco (sinh ngày 8 tháng 11 năm 2007).[36][37]
Tháng 1 năm 2010, Gattuso mở một cửa hàng cá ở Gallarate, một thành phố ở tỉnh Varese, nơi tiền vệ này đã sống tám năm.[38]
Vào cuối năm 2020, khi là huấn luyện viên của Napoli, Gattuso đã xuất hiện với miếng che mắt trong một số trận đấu và cho biết mình đã mắc chứng nhược cơ từ thời còn là cầu thủ.[39]
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ AC Milan profile
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
- Bản mẫu:Trim/index.html Bản mẫu:PAGENAMEBASE – Thành tích thi đấu FIFABản mẫu:EditAtWikidata
- Bản mẫu:UEFA player
Bản mẫu:Đội hình S.S.C. Napoli Bản mẫu:Navboxes colour Bản mẫu:Đội hình toàn sao Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 Bản mẫu:Huấn luyện viên A.C. Milan