Nội thành (Inner city) hay nội đô là thuật ngữ chỉ về khu vực địa lý trung tâm lâu đời của một thành phố hay đô thị, mang sắc thái khác nhau ở các quốc gia. Tại Hoa Kỳ thì thuật ngữ "nội thành" (còn được gọi thông tục là the hood) được sử dụng như một từ nói giảm, nói tránh để chỉ về những địa bàn, địa điểm, khu vực với các khu dân cư thu nhập thấp, có đại bộ phận cư dân thuộc nhóm thiểu số sống chen chúc, ngột ngạt trong những căn hộ cũ kỹ, từ đó, cụm từ này trước đây thường ám chỉ đến các khu dân cư tồi tàn, nhếch nhác, xuống cấp nằm lọt bên trong một khu trung tâm hoặc trung tâm thành phố.[1] Các nhà xã hội học đôi khi chuyển hóa từ uyển ngữ này thành một danh xưng chính thức bằng cách áp dụng thuật ngữ “nội thành” cho các khu vực dân cư đặc thù như vậy, thay vì để chỉ các khu thương mại tập trung ở vùng lõi trung tâm địa lý vốn thường được gọi bằng các thuật ngữ như khu trung tâm, trung tâm thành phố, hoặc quận kinh doanh trung tâm (CBD) nằm tại khu trung tâm thương mại hành chính.

Một góc nhỏ ở Quận 1 (cũ) ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều nơi tại đây là những con phố, ngôi nhà, chung cư cũ kỹ với cư dân sống chen chúc, đúng như sắc thái nội đô kiểu Mỹ, nhưng đây cũng là những khu đất rất khó giải tỏa đền bù khi có giá cả đắt đỏ bởi nằm trong nội thành trung tâm

Tại Việt Nam, thì nội thành, hay nội đô, đô thành, hay khu vực nội thị, hoặc các quận lõi trung tâm thành phố tiêu biểu cho phân khu không gian đô thị nén có định mức thặng dư phát triển vĩ mô hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, nơi đây là địa bàn đông dân cư chen chúc trong các khu cư xá, khu tập thể, khu chung cư. Thực tế hiện nay tại các đô thị nén như Thành phố Hồ Chí Minhthủ đô Hà Nội trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và công tác quy hoạch cải tạo chỉnh trang đô thị tại phân khu nội thành đang bộc lộ những bước chuyển dịch. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, không gian nội thành được luật pháp quy hoạch nén chặt gồm các quận hạch tâm nòng cốt trước đây như (Quận 1, Quận 3, Quận 5, Quận 10) cũng như các chiến dịch xóa bỏ giải tỏa vẹn toàn các khu nhà ổ chuột lấn chiếm kênh rạch hành lang an toàn thủy văn (như dọc kênh Đôi, kênh Tẻ) để giải phóng quỹ đất sạch nhường chỗ cho các dự án quy hoạch công viên công cộng, phát triển các trục lộ giao thông xanh mở và bệ phóng bệ bẩy cho các tòa tháp cao tầng thông minh.

Lịch sử

 
Nhà phố xưa ở Quận 5 (cũ) ở Thành phố Hồ Chí Minh với những căn hộ cũ kỹ trong khu người Hoa tập trung sinh sống

Thuật ngữ nội thành lần đầu tiên có được tần suất sử dụng nhất quán thông qua các bài viết của những người da trắng theo đạo Tin Lành cấp tiến tại Mỹ sau thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, đặt trong thế đối biến tương phản với phân khu các vùng ngoại ô ngày càng giàu có, phát triển. Theo nhà sử học đô thị Bench Ansfield thì thuật ngữ này vừa biểu thị cho một cấu trúc địa lý bị giới hạn ràng buộc, vừa ám chỉ cho một tập hợp các bệnh lý văn hóa được gán ghép áp đặt lên các cộng đồng người da đen cư ngụ ở đô thị. Khái niệm nội thành khởi phát từ nguyên vốn là một thuật ngữ mang tính chất bao vây cô lập (containment). Sự thai ngén của cụm từ này chính là sản phẩm rút ra từ một kỷ nguyên khi mà khối chủ lưu đạo Tin Lành da trắng vùng ngoại ô đang tiến hành đàm phán thương lượng để xác lập lại mối quan hệ tương tác của họ đối với các thành phố Mỹ.

Phái truyền giáo của những người theo đạo Tin Lành cấp tiến khi triển khai chiến dịch cải tạo đô thị đã chủ động dịch chuyển sự chú ý lý luận thoát ly khỏi thực trạng hoang tàn xuống cấp và sự lỗi thời cấu trúc vốn được coi là tác nhân chèo lái thảm họa suy thoái đô thị, để thay vào đó là tập trung bóc tách, mổ xẻ các bệnh lý văn hóa mà họ tự ý phác thảo áp đặt lên các khu phố của người da đen. Thuật ngữ nội thành trỗi dậy bứt phá ngay bên trong bối cảnh tự do chủng tộc (racial liberal context) này, cung ứng một công cụ hùng biện và ý thức hệ đắc lực để cụ thể hóa rõ rệt vai trò trách nhiệm của giáo hội bên trong lòng đồ án cải tạo đô thị trên phạm vi toàn quốc. Chính vì lý do đó, ngay cả khi được khai sinh lập địa bên trong lòng các ngữ cảnh hướng trực diện tới mục tiêu lôi cuốn khối chủ lưu đạo Tin Lành quay trở lại tái chiếm lĩnh các thành phố mà họ từng tháo chạy trước đây, thuật ngữ chuyên ngành này đã tích lũy hệ nghĩa của mình bằng phương thức kiến tạo nên những chỉ giới khoảng cách ngăn cách mang tính biểu trưng và hình học giữa các giáo đường da trắng cấp tiến đặt trong thế trận đối đầu trực tiếp trực giao với các cộng đồng người da đen mà họ đang mưu toan cứu trợ giúp đỡ.[2]

Cải tạo

 
Một con đường vào nội thành ở Anh

Cải tạo đô thị (tại Vương quốc Anh còn được gọi bằng danh xưng tái thiết đô thị còn tại Hoa Kỳ lại gọi là tái phát triển đô thị[3]) là một chương trình mục tiêu quốc gia về tái phát triển quỹ đất (land redevelopment) thường xuyên được bộ máy chính quyền phê duyệt áp dụng nhằm mục đích xử lý triệt để bài toán xuống cấp đô thị tại các thành phố. Công tác cải tạo đô thị chính là thực hành giải tỏa khu ổ chuột, giải tỏa phá dỡ vẹn toàn toàn bộ các phân khu mặt bằng hoang tàn xuống cấp nằm khép kín bên trong lòng các nội thành để giải phóng quỹ đất sạch, kiến tạo nên các cơ hội chiến lược phục vụ chiến dịch xây dựng hệ thống nhà ở dân dụng dành cho các giai tầng thượng lưu cao cấp, thiết lập các cơ sở vận hành doanh nghiệp thương mại mậu dịch cùng hàng loạt các công trình vĩ mô khác. Tại bối cảnh hành chính Canada xuyên suốt thập niên 1970, chính quyền trung ương đã chủ động ban hành các sắc lệnh cho triển khai hệ thống Chương trình Cải thiện Khu phố nhằm quản lý điều tiết hành chính, đối phó trực diện trước thực trạng suy thoái đô thị nhức nhối, đặc biệt tập trung nguồn lực vĩ mô đánh thẳng vào phân khu địa lý của các nội thành.[4] Bổ sung đồng bộ vào tiến trình phát triển đó, một dải dặc các phân khu đất sạch nội thành tại nhiều dải tọa độ địa lý hành chính đa dạng khác ngoài thế giới cho đến nay hiện cũng đã và đang trải qua tiến trình biến động kinh tế-xã hội sâu sắc mang tên cuộc chỉnh trang đô thị hóa thượng lưu, một thực thái đặc biệt bùng nổ mạnh mẽ kể từ cột mốc lịch sử những năm thập niên 1990 trở lại đây.[5]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ "Geography Revision - Urban environments, Location of inner city". BBC Bitesize. ngày 14 tháng 5 năm 2024 [Originally published 14 August 2013, later modified]. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025.
  2. ^ Bench Ansfield, "Unsettling 'Inner City': Liberal Protestantism and the Postwar Origins of a Keyword in Urban Studies" Antipode (2018)
  3. ^ "HUD Revitalization Areas". Lưu trữ bản gốc 15 tháng 10 2016. Truy cập 2 tháng 10 2016.
  4. ^ Lyon, Deborah; Newman, Lynda H. (1986). The Neighbourhood Improvement Program, 1973-1983: A National Review of an Intergovernmental Initiative (PDF) (Báo cáo). The Institute of Urban Studies, University of Winnipeg. Research and Working Paper No. 15.
  5. ^ Frey, William H. (ngày 1 tháng 5 năm 2010). State of Metropolitan America, Part II, Race and Ethnicity (PDF) (Báo cáo). Brookings Institution. tr. 62. Lưu trữ (PDF) bản gốc 30 tháng 5 2010. Analysed in Gurwitt, Rob (ngày 24 tháng 3 năm 2010). "Atlanta and the Urban Future". Governing. — see example in Demographics of Atlanta: Race and ethnicity