Tuy tần Phác thị
Trang Mô đun:Message box/ambox.css không có nội dung.
Bài này không có nguồn tham khảo nào. (tháng 9/2021) |
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Hiển Mục Tuy tần 顯穆綏嬪 | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Nội mệnh phụ Triều Tiên | |||||||||
| Thông tin chung | |||||||||
| Sinh | 1770 | ||||||||
| Mất | 18 tháng 2, 1823 | ||||||||
| Phu quân | Triều Tiên Chính Tổ | ||||||||
| Hậu duệ | Triều Tiên Thuần Tổ Thục Thiện Ông chúa | ||||||||
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| |||||||||
| Tước hiệu | [Tuy tần; 綏嬪] | ||||||||
| Hoàng tộc | Nhà Triều Tiên | ||||||||
| Thân phụ | Phác Chuẩn Nguyên | ||||||||
| Thân mẫu | Nguyên Châu Nguyên thị | ||||||||
Hiển Mục Tuy tần (chữ Hán: 顯穆綏嬪朴氏; 1770 - 6 tháng 2 năm 1823) Phác thị, còn được gọi là Gia Thuận cung (嘉順宮) hay Tuy phi Phác thị (綏妃朴氏), là một hậu cung tần ngự của Triều Tiên Chính Tổ, bà là mẹ ruột của Triều Tiên Thuần Tổ.
Tiểu sử
Tuy tần Phác thị xuất thân từ Phan Nam Phác thị (潘南朴氏). Tổ phụ là Tả Tán thành Phác Sư Tích (朴師錫), cha là tặng Lĩnh Nghị chính Trung Hiến công Phác Chuẩn Nguyên (朴準源), mẹ là Trinh Kính Phu nhân Nguyên Châu Nguyên thị (原州元氏).
Năm 1787, Chính Tổ năm thứ 11, sau khi mẹ con Thành Nghi tần và Văn Hiếu Thế tử qua đời, Chính Tổ không còn người nối dõi. Duệ Thuận Vương đại phi Kim thị (Kế tổ mẫu của vua Chính Tổ) vì lo lắng nên đã hạ lệnh mở đợt Tam giản trạch tuyển chọn thêm hậu cung. Phác thị được chọn ban giáo mệnh nhập cung, vị hiệu Tuy tần (綏嬪), lại được ban thêm cung hiệu là Gia Thuận cung (嘉順宮) làm nhã xưng, ngự ở Bảo Khánh đường (寶慶堂) tại Xương Đức Cung. Bà trở thành vị vô phẩm Tần thứ ba của nhà Triều Tiên, sau hai vị giản trạch hậu cung của Chính Tổ là Thục Xương cung Nguyên tần Phong Sơn Hồng thị (淑昌宮元嬪 豊山洪氏)[1] và Khánh Thọ cung Hòa tần Nam Nguyên Doãn thị (慶壽宮和嬪 南原尹氏). Vô phẩm Tần (無品嬪), án theo Đại điển hội thông có viết: "Chính nhất phẩm Tần, hữu Giáo mệnh, tắc vô giai" (正一品 嬪,有敎命,則無階), tức là chỉ thêm vào một quy định rằng nếu nhận được "Giáo mệnh" của Đại vương thì sẽ không cần liệt vào hàng có phẩm quan mà sẽ siêu việt giống với Vương phi. Theo đó, các Giản trạch Hậu cung là Vô phẩm tần đều có Cung hiệu làm biệt xưng nhằm tỏ ra khác biệt với các Thừa ân Hậu cung được thăng Tần vị, vốn chỉ được gọi là “Phòng” (房), ví dụ như Nghi tần Thành thị, ấn chương của bà được khắc 3 chữ “Nghi tần phòng”, mà các vị có cung hiệu thì sẽ được ghi tên cung, như Thục Xương cung, Khánh Thọ cung hay Gia Thuận cung.
Năm 1790, Chính Tổ năm thứ 16, Gia Thuận cung Tuy tần Phác thị sinh hạ Vương tử, tức Lý Công (李玜) tại Tập Phúc hiên trong Xương Khánh cung, vua Chính Tổ vốn đang không có nam duệ đã rất vui mừng khi nghe tin này, đồng thời, ngày Vương tử ra đời cũng trùng với sinh thần của Huệ Khánh cung Hồng thị, mẹ ruột nhà vua. Sang đến năm 1793, bà sinh thêm Thục Thiện Ông chúa (淑善翁主), là con gái thành niên duy nhất của nhà vua. Vua Chính Tổ thường trao đổi thư từ với Phác Doãn Nguyên, chú của Gia Thuận cung và anh trai của Phác Chuẩn Nguyên, đồng thời tin tưởng và ưu ái Phác Tông Phụ, con trai cả của Phác Chuẩn Nguyên và anh trai của Gia Thuận cung. Vua Chính Tổ và Phác Tông Phụ có mối quan hệ thân thiết; nhà vua đối xử với Phác Tông Phụ rất thân thiết và ban tặng cho ông nhiều quà cáp. Vương tử Công con trai bà về sau được Hiếu Ý Vương hậu nhận làm con nuôi, từ đó danh chính ngôn thuận trở thành Nguyên tử (元子), do đó cũng nhanh chóng được lập làm Vương thế tử vào năm 1800 (Chính Tổ năm thứ 24).
Triều Tiên Vương tộc đích thứ rất khác biệt. Dưới thời Triều Tiên Túc Tông, sau sự kiện Trương Hy tần đã ra điều lệnh cấm bất kì Hậu cung tần ngự nào được phù chính trở thành Vương phi, nên dù có xuất thân quý tộc và sinh hạ Thế tử, nhưng địa vị của Tuy tần vẫn chỉ là Hậu cung tần ngự, mãi mãi không thể vượt trên Hiền phi - tức Trung điện Hiếu Ý Vương hậu. Bà phải tuân theo quy tắc cung đình mà đem Thế tử cho Trung điện làm con, thậm chí vì Thế tử khi này đã được nhận nuôi dưới danh nghĩa con của Trung điện nên bà phải luôn ở vai nô bộc kẻ dưới hầu hạ Trung điện và cả Thế tử con ruột mình. Sau khi Thế tử được sinh ra, được Hiếu Ý Vương hậu đưa về cung nuôi dưỡng từ nhỏ, về cơ bản Gia Thuận cung và Thế tử không thể thân mật gặp nhau. Về quy tắc mẹ ruột không thể nhận con, phò mã của vua Hiếu Tông là Đông Bình uý Trịnh Tái Luân (鄭載崙) đã ghi lại trong bút ký riêng “Công tư vấn kiến lục” (公私聞見錄) với nội dung như sau: ”Hậu cung vu sở sản tử nữ bất cảm nhĩ nhữ, cái bất cảm tự mẫu vu kỳ tử dã”[2], ý nói các hậu cung đối với con cái do mình sinh ra đều không thể tự xem là con ruột và đều cần dùng kính ngữ xưng hô, điều này xuất phát từ quan niệm con cái Vương thất tôn quý do là con của Quốc vương, mà người mẹ ruột thân phận Hậu cung chỉ là người hầu hạ tiện, không đáng được coi là mẹ của họ.
Cũng trong năm 1800, vua Chính Tổ thăng hà, thế tử Lý Công lúc này 10 tuổi tức vị, tức Triều Tiên Thuần Tổ, lại tôn đích mẫu Trung điện Kim thị làm Vương đại phi. Do Tuy tần chỉ là Hậu cung, không phải là Vương phi chính vị, nên không thể tôn phong làm Vương đại phi (王大妃), trường hợp giống với tổ mẫu Huệ Khánh cung Hồng thị[3], mà chỉ được giữ xưng hiệu Gia Thuận cung (嘉順宮), gia tôn thêm kính xưng "Để hạ" (邸下) chỉ dành riêng cho Trữ quân, khi này bà được gọi là Gia Thuận cung Để hạ (嘉順宮邸下) hoặc Tuy tần Để hạ (綏嬪邸下). Tuy tần Phác thị là người duy nhất trong Thất cung (tức bảy vị Hậu cung nhà Triều Tiên sinh ra Quốc vương) được hưởng lễ nghi Vương mẫu khi còn sống, trong khi sáu vị còn lại đều là được tôn tặng sau khi đã qua đời. Thuần Tổ Thực lục (純祖實錄) ghi lại rằng quan hệ giữa nhà vua và mẹ ruột mình vẫn rất tốt, nhà vua thường hay tận hiếu với bà.
Vì vua Thuần Tổ lên ngôi khi còn trẻ, nên kế tằng tổ mẫu của ông, Duệ Thuận Đại vương đại phi Kim thị, đã thực hiện nhiếp chính trong ba năm. Đại vương đại phi đã bổ nhiệm và thăng dần chức vụ cho cha bà là Phác Chuẩn Nguyên cùng hai người anh của bà là Phác Tông Khánh (朴宗慶) cùng Phác Tông Phụ (朴宗輔) vào các chức vị cao trong triều đình. Dần dần Phác Chuẩn Nguyên được nâng lên thành Công tào Phán thư cùng Tham phán Đôn Ninh phủ. Phác Chuẩn Nguyên thậm chí còn dâng tấu xin thu hồi những đặc quyền quá mức đã được ban cho Phác Tông Khánh con trai ông.
Sau cái chết của Phác Chuẩn Nguyên, gia tộc Phan Nam Phác thị của Tuy tần đã dần hình thành thế lực với người đứng đầu là Phác Tông Khánh, trở thành một trong những gia tộc quyền lực nhất thời kỳ Thế đạo chính trị (tức thời kỳ các gia tộc ngoại thích nắm thực quyền khuynh đảo chính sự, thay vì các Đảng phái tranh đấu như trước kia), cùng với gia tộc An Đông Kim thị của Trung điện Thuần Nguyên Vương hậu Kim thị, chính thất của Thuần Tổ. Để ngăn chặn quyền lực tập trung vào tay Kim Tổ Thuần (cha của Trung điện Kim thị) và gia tộc An Đông Kim thị, vua Thuần Tổ đã thăng chức cho chú ruột của mình, Phác Tông Khánh, lên một chức vụ cao trong chính phủ và bổ nhiệm các thành viên trong gia tộc bên ngoại của ông. Vào giữa triều đại vua Thuần Tổ, gia tộc Phan Nam Phác thị cùng tồn tại song song dưới sự lãnh đạo của gia tộc An Đông Kim thị, nhưng ảnh hưởng của họ đã suy yếu dần sau cái chết của Phác Tông Khánh và Tuy tần.
Năm 1823 (Thuần Tổ năm thứ 22), ngày 6 tháng 2, Gia Thuận cung Tuy tần Phác thị qua đời ở Bảo Khánh đường trong Xương Đức cung, hưởng thọ 53 tuổi. Thụy hiệu của bà là Hiển Mục (顯穆), nơi an táng của bà được đặt là Huy Khánh viên (徽慶園), ban đầu nằm dưới chân núi Bái Phong tại Dương Châu, về sau được di dời đến Trân Tiếp ấp, Nam Dương Châu thị dưới thời vua Triết Tông. Tên địa danh Huy Khánh động ở quận Đông Đại Môn, Hán Thành, là nơi an táng đầu tiên của bà, được đặt theo viên hiệu Huy Khánh viên. Một năm sau (Thuần Tổ năm thứ 23), bài vị của bà ban đầu được để trong một điện thờ thuộc Xương Khánh cung, tên gọi là Hiển Tư cung (顯思宮). Sau khi kết thúc ba năm để tang, một điện thờ mới được xây dựng để rước bài vị thờ cúng của bà vào trong, chính là Cảnh Hựu cung (景祐宮), ngày nay thuộc một trong Thất cung.
Đến thời Triều Tiên Cao Tông xưng làm Đế quốc, năm 1901 (Cao Tông năm thứ 39 và Quang Mục năm thứ 6), Cao Tông Hoàng đế truy tôn Chính Tổ Đại vương thành Chính Tổ Tuyên Hoàng đế (正祖宣皇帝), Hiển Mục Tuy tần được truy phong làm Hiển Mục Tuy phi (顯穆綏妃). Năm 1902 (Cao Tông năm thứ 39 và Quang Mục năm thứ 6), Đặc tiến quan Lý Trụ Vinh và các quan viên khác đồng loạt xin truy tôn Hiển Mục Tuy phi thụy hiệu Hoàng hậu, nhưng vua Cao Tông đã từ chối.
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Em gái quyền thần Hồng Quốc Vinh, cháu trong tộc của Huệ Khánh cung Hồng thị (mẹ ruột vua Chính Tổ)
- ^ Nguyên văn: 后宮于所產子女不敢爾汝,蓋不敢自母于其子也
- ^ Huệ Khánh cung Hồng thị là trường hợp đặc biệt. Mặc dù là mẹ ruột của vua Chính Tổ, nhưng vì khi trước vua Anh Tổ đã đem Chính Tổ khi đó là Thế tôn sang quá kế cho vợ chồng Hiếu Chương Thế tử (anh trai khác mẹ của Tư Điệu Thế tử chồng bà, bác của Chính Tổ), nên về mặt Tông pháp, bà không còn là mẹ của ông nữa. Chính Tổ vì lý do đó nên không thể tôn bà vị hiệu Vương đại phi, đành phải tôn Cung hiệu cho bà theo lệ của Hậu cung có con lên ngôi, lại gia thêm kính xưng Để hạ (邸下) chỉ dành riêng cho Trữ quân.