Châu Ninh
|
Châu Ninh
|
||
|---|---|---|
| Xã | ||
| Hành chính | ||
| Quốc gia | ||
| Vùng | Đồng bằng sông Hồng | |
| Tỉnh | Hưng Yên | |
| Lịch sử hình thành | ||
| Thành lập | 16 tháng 6 năm 2025[1] | |
| Địa lý | ||
| Tọa độ: 20°48′54″B 105°55′43″Đ / 20,815°B 105,92861°Đ | ||
|
| ||
| Diện tích | 22,22 km²[1] | |
| Dân số (2025) | ||
| Tổng cộng | 36.218 người[1] | |
| Mật độ | 1.629 người/km² | |
Châu Ninh là một xã thuộc tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.[1]
Địa lý
Xã Châu Ninh nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hưng Yên, có vị trí địa lý:
- Phía tây giáp xã Chương Dương và xã Phú Xuyên của thành phố Hà Nội, có ranh giới tự nhiên là sông Hồng.
- Phía nam giáp xã Chí Minh.
- Phía đông giáp xã Khoái Châu.
- Phía bắc giáp xã Triệu Việt Vương.
Khí hậu
Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.450 – 1.650 mm
- Nhiệt độ trung bình: 23,2 °C
- Số giờ nắng trong năm: 1.519 giờ
- Độ ẩm tương đối trung bình: 85 – 87%.
Lịch sử
Địa bàn xã Châu Ninh trước đây thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, huyện Khoái Châu bị giải thể để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, không tổ chức cấp huyện. Cùng ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1666/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Hưng Yên năm 2025.[1] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Đại Tập, Tứ Dân, Tân Châu và Đông Ninh thành xã mới có tên gọi là xã Châu Ninh. .
Chiêm Thành Cửa Ải Đại Vương Nguyễn Minh một vị tướng thời Hùng Vương thứ 18 nay được thờ tại Đền Mạn Xuyên để ghi nhớ công ơn của Ngài và được 18 đạo sắc phong Ngài. Các đạo bắt đầu từ An Dương Vương - thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đến đạo 18 vào thời Vua Khải Định đều sắc phong Ngài "Chiêm Thành Cửa Ải Đại Vương". Nguyễn Minh quê ở huyện Lôi Dương, châu Ái đến xã Mạn Xuyên tổng Đông Kết huyện Đông An mở trường dạy học. Bấy giờ Hùng Duệ Vương mở khoá thi, vào thi Đình nhà vua chấm ông đỗ đầu khoá, được vua gả công chúa Ngọc Nương – công chúa thứ ba, ông cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh quân Chiêm Thành thắng lợi được vua phong: Trấn Chiêm Thành cửa ải đại tướng quân.
Thời Trung Đại
Đến thời Đinh Tiên Hoàng (967 – 979) và Tiền Lê (979 – 1009) thuộc huyện Châu Diên, Lê Ngoạ Chiều Tứ Dân thuộc Phủ Thái Bình.
Thời Lý, Tứ Dân thuộc huyện Đông Kết thuộc Khoái lộ. Thời Lý Cao Tông thuộc Châu Khoái.
Đến thời Trần sau chiến thắng quân Nguyên – Mông (1288) Vua Trần ban vùng đất Châu Khoái cho Nguyễn Khoái đổi thành Khoái Châu.
Đến thời Hồng Đức, Tứ Dân thuộc huyện Đông Yên thuộc Sơn Nam thừa tuyên.
Tứ Dân nằm trong bãi Mạn Trò châu, gần cửa Hàm Tử, bến Chương Dương và Bãi Tự Nhiên. Trận Tây Kết nổi tiếng trong kháng chiến chống Nguyên Mông thời Trần nằm tại địa hạt vùng Tứ Dân, Tân Châu ngày nay do nằm trên vùng bãi nên những chứng cứ lịch sử đã bị phù sa sông Hồng vùi lấp nên địa danh Tây Kết đã mất đi.
Tây Kết có tác giả nhận định là địa danh nằm từ làng Đông Kết, xã Đông Kinh đến xã Tân Châu phủ Khoái Châu dài khoảng 2 km. Vì vậy cần nghiên cứu đánh giá đúng đắn vùng đất lịch sử Tứ Dân nằm giữa bến Chương Dương, Cửa Hàm Tử, Bãi Tự Nhiên.
Một nhận định khác cho biết "Bến Tây Kết nay ở khoảng xã Tứ Dân thuộc huyện Khoái Châu, còn hương Tây Kết ghi trong Thiền uyển tập anh và một số địa chí cổ có thể bao gồm cả Hàm Tử, Vĩnh Hưng, Ông Đình, Phương Trù, Yên Vĩ, Yên Cảnh và phía bắc Mạn Xuyên.Kết hợp nghiên cứu một số tư liệu với khảo sát thực địa, có thể khẳng định Tây Kết nằm ở vùng Khoái Châu là hợp lý, nhưng Tây Kết phải thuộc phần đất phía tây Đông Kết ngày nay. Ngăn cách giữa Đông và Tây Kết là sông cổ Kim Ngưu, còn gọi là sông Tế Giang, sông này về sau còn được bảo lưu bằng tên gọi sông Tế, hoặc sông Tó. Sông chảy qua Yên Cảnh, Mạn Xuyên]], chảy xuống đất Tây Kết, Đông Kết, để xuống sông Cái (đoạn hạ lưu sông Kim Ngưu này từ xã Ông Đình qua Yên Cảnh, Mạn Xuyên, Tây Kết, Đông Kết chảy ra sông Hồng đã bị lấp từ lâu. Nay còn vết tích là Vực Mạn Xuyên. Như vậy, Tây Kết là vùng đất nằm ở tả ngạn sông Hồng thuộc khu vực xã Tứ Dân huyện Khoái Châu Hưng Yên ngày nay là hoàn toàn có căn cứ. Địa danh Tây Kết xuất hiện sớm, gắn với sự tích sông Kim Ngưu chảy qua quận Tế Giang, gắn với hệ đường thủy Nhị Hà - Tế Giang và gắn với tuyến đường bộ thông qua Chương Dương - Hàm Tử."
Tứ Dân khi xưa là chiến trường ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 năm 1285 và cùng nằm trên chiến trường lịch sử Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương với nhiều vị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc Việt Nam: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Chiêu Thành Vương (không rõ họ tên), Nguyễn Khoái.
Trần Bình Trọng là một anh hùng kháng Mông Cổ của Việt Nam, khi bị bắt, chủ soái Mông Cổ dụ rằng nếu ông chịu hàng, sẽ cho phong tước vương. Ông khẳng khái: "Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc" Ông bị giết, được truy phong Bảo-nghĩa vương. Hiện tại xã Mạn-Trù, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên còn đền thờ ông.
Tứ Dân là dân cư của 4 làng thuộc 2 tổng khác nhau:
- Mạn Xuyên thuộc tổng Đông Kết
- Mạn Trù thuộc tổng Ninh Tập
- Phương Trù thuộc tổng Ninh Tập
- Năm Mẫu là vùng đất khởi thủy chỉ có Năm Mẫu dân cư sống (Phía bắc là ấp của làng Mạn Trù, phía nam là ấp của Làng Mạn Xuyên).
Đây chính là nguồn gốc của địa danh Tứ Dân. Phủ Khoái Châu gồm 10 tổng: Đông Kết, Ninh Tập, Đại Quan, An Lạc, Yên Lịch, Yên Cảnh, Yên Vĩnh, Mễ Sở, Phú Khê, Bình Dân.
Đầm Mạn Xuyên ngày nay là vết tích của khúc sông còn sót lại khi sông Hồng nay đã đổi dòng về phía tây. Mạn Xuyên được giải thích là: Mạn là bờ; xuyên là sông; Mạn Xuyên là 1 làng bên bờ sông và vết tích Đầm Mạn Xuyên là minh chứng rõ ràng nhất.
Trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim có chú thích: Hiện nay ở phủ Khoái Châu có làng Đông Kết nhưng nằm rất xa bờ Hồng Hà, Tứ Dân nằm ở phía tây tây bắc của làng Đông Kết gần bãi Tự Nhiên. Cửa Hàm Tử phía bắc và Bến Chương Dương ở phía tây. Ngày nay ở Làng Năm Mẫu thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đó là minh chứng rõ ràng. Vì vậy, Làng Tây Kết khi xưa có thể nằm tại khu vực Tứ Dân và Tân Châu ngày nay nằm trên khúc sông Thiên Mạc khi xưa. Trên khúc sông Hồng xưa kia đã diễn ra nhiều chiến thắng lịch sử như: Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết,. Tứ Dân trước đây thuộc huyện Đông An - Phủ Khoái Châu (Khoái Lộ) nằm trong 2 tổng Đông Kết,tổng Ninh Tập.
Tứ Dân nguyên thuộc thừa tuyên Sơn Nam năm Quang Thuận thứ 10 đời Lê (1469). Đến năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) chia làm Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Tứ Dân thuộc về Sơn Nam thượng. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) Hưng Yên được thành lập. Tứ Dân thuộc về phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên.
Thời hiện đại
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Pháp đã xây dựng 6 chiếc lô cốt kiên cố và 1 dãy nhà 8 gian cho lính ở trên địa bàn xã. Nhân dân trong xã phải từng ngày, từng giờ chịu sự áp bức, kìm kẹp, bắt bớ, chém giết của chúng, chúng đã xây dựng và tổ chức 1 bộ máy như: Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý Hội tề, lính dõng... nhằm chống lại sự đấu tranh của nhân dân trong xã. Nhưng với lòng yêu nước, yêu quê hương kiên quyết không để cho kẻ thù nằm yên trên mảnh đất của mình. Chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chủ yếu là công tác địch vận và tuyên truyền. Đội du kích Hoàng Ngân được ra đời với chiếc đòn gánh đánh Tây đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Rồi cùng với cả nước giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp làm trấn động địa cầu, vĩnh viễn xóa bỏ sự áp bức, thống trị của Chủ nghĩa thực dân cũ trên quê hương. Nhưng Chủ nghĩa đế quốc chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, nhân dân Tứ Dân cùng với cả nước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hàng ngàn người con ưu tú của quê hương lên đường cầm súng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, tất cả vì Miền Nam ruột thịt. Ở hậu phương phong trào thanh niên 3 sẵn sàng, phụ nữ 3 đảm đang. Mỗi người làm việc bằng hai, với khẩu hiệu " Thóc không thiếu 1 cân, quân không thiếu 1 người " đã cùng cả nước giành độc lập tự do bằng chiến dịch đại thắng mùa xuân năm 1975.
Sau năm 1968 đến nay
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Chính phủ sáp nhập tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành Hải Hưng. Xã Tứ Dân thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hải Hưng.
Năm 1979, thành lập huyện Châu Giang thuộc tỉnh Hải Hưng có 39 xã thuộc huyện Khoái Châu và một phần Văn Giang trong đó có Tứ Dân.
Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/1999/NĐ-CP[2] về việc chuyển xã Tứ Dân thuộc huyện Châu Giang cũ chuyển về huyện Khoái Châu mới tái lập quản lý.
Văn hoá
- Tứ Dân có 6 thôn nhưng có 4 làng với 4 nét phong tục, văn hoá khác nhau: Mạn Xuyên, Mạn Trù, Phương Trù, Năm Mẫu. Tứ Dân còn được biết đến qua những quần thể di tích văn hóa, là nơi nổi tiếng với thiên tình sử đầy thơ mộng của Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một trong những nguyên mẫu được người dân Việt Nam tôn là Tứ Bất Tử.
- Tứ Dân có nhiều khu di tích và lễ hội truyền thống như: Lễ hội đền Mạn Xuyên (từ 12 đến 16 tháng 2 âm lịch), lễ hội đền Ngự Dội (8 đến 10 tháng 2 âm lịch), lễ hội đình làng Phương Trù (8 đến 10 tháng 2 âm lịch).
- Lễ hội Mạn Xuyên thu hút rất nhiều du khách thập phương và những con xa quê về dự lễ hội. Một lễ hội có 1 không 2 ở miền bắc Việt Nam với kiệu bay, lội nứơc thể hiện sự oai phong của vị tướng đánh giặc bảo vệ và mở mang bờ cõi " Kiệu bay quay đâu phải tay nghề.Ra oai thể hiện lời thề tướng quân " và sự nô nức, náo nhiệt của Lễ hội Mạn Xuyên. Lễ hội gồm 2 phần:
- Phần lễ: Ngày 8 tháng 2 mở cửa đền, cửa chùa, cửa đình treo cờ nổi trống. 14h ngày 12 tháng 2 rước nước, ngày 13 tháng 2 cúng thượng nguyên. Ngày 14 tháng 2 khai mạc tổ chức rước lấy bát hương ở đền trong.Ngày 15 tháng 2 rước du trên toàn bộ đê Mạn Xuyên. Ngày 16 tháng 2 tổ chức rước trả bát hương và tế an vị bế mạc Lễ.
- Phần hội có nhiều trò chơi dân gian: đập niêu, đi cầu kiều, bịt mắt bắt dê... Buổi tối 14/15 giao lưu văn nghệ,diễn xiếc...
- Lễ hội Đền Ngự Dội Làng Màn Trầu diễn ra từ ngày 6- 10/2 âm lịch đây cũng là một trong những lễ hội độc đáo mang bản sắc của Tứ Dân với nét văn hóa linh thiêng kiệu bay và lội nước tương truyền Đền Ngự Dội làng Màn trầu là nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung.Đền nằm ở giữa bãi Mạn Trò châu cách sông Hồng 550m và cách km96 đê sông hồng 195là 550m
- Tứ Dân là vùng đất ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng có các nét văn hoá kiệu bay và lội nước thể hiện nét văn hoá đặc thù và linh thiêng của vùng đất lịch sử chưa từng được biết đến trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
- Tại Tứ Dân có sự tọa lạc của nhà thờ Thiên chúa giáo của giáo họ Năm Mẫu thuộc giáo xứ Trung Châu, Giáo hạt Hưng Yên, Giáo phận Thái Bình. Hiện này bà con giáo dân tại Năm Mẫu và Phương Trù tham gia tích cực và công tác phát triển kinh tế văn hóa tại địa phương, sống tốt đời đẹp đạo, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
- Xã Tứ Dân có 5 làng văn hoá cấp tỉnh: làng Mạn Trù (thôn Toàn Thắng) công nhận năm 2001 và làng Mạn Xuyên được công nhận 2 lần là Làng Văn Hoá năm 2002 và năm 2010. Làng Phương Trù, Phương Đường năm 2010. Làng Năm Mẫu được công nhận Làng Văn hóa ngày 12 tháng 2 năm Nhâm Thìn (2012).
Toàn xã có 6 di tích trong đó đáng chú ý nhất là quần thể Đền Mạn Xuyên, Đền Ngự Dội, Đình Phương Trù gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung nằm trong tuyến du lịch chính trên sông Hồng (Hà Nội - Phố Hiến). Đền Năm Mẫu thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Tứ Dân có sông Hồng chảy qua xã nằm trên tuyến du lịch sông Hồng đi qua, những dấu tích của thực dân pháp trên bốt Phương Trù, thăm Đền Mạn Xuyên, Đền Ngự Dội, Đình Làng Phương Trù thăm lễ hội Đền Làng Mạn Xuyên,...
Đền Ngự Dội được trùng tu năm 2009 đây cũng là công trình kiến trúc rất độc đáo giữa bãi Màn Trò Châu (Bãi Đà Mạc)hướng ra sông Hồng.
Đền Mạn xuyên vừa trùng tu xây dựng năm 2007 theo kiến trúc cổ đồng bằng châu thổ Sông Hồng và của riêng Mạn Xuyên hướng về phía Vực Mạn Xuyên thờ đức thánh Chiêm Thành Cửa ải Đại Vương Nguyễn Minh,Kiến trúc ngôi đền gồm hậu cung dựa theo kiến trúc đình Mạn Xuyên, Đệ Nhị,Đệ Tam,và phần nhà Tám mái hai bên là nhà tiếp khách, Đại bái là gian ngoài cùng hiện nay đại bái chưa được hoàn thiện, cùng với lễ hội diễn ra vào rằm tháng 2 âm lịch hằng năm. Đền Mạn Xuyên có phong thủy cực đẹp và lý tưởng nằm trên thế " Tựa Sơn Đạp Thủy" lưng đền tựa vào đê sông hồng, hướng về Vực Mạn Xuyên nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử gắn liền mảnh đất Mạn Xuyên và nước ở Vực Mạn Xuyên không bao giờ cạn. Điều đó dự báo một tương lai tốt đẹp và giàu mạnh, hạnh phúc ban tặng nhân dân đang sống tại chính quê hương và bà con sinh ra ở mảnh đất Mạn Xuyên xa quê đang sống và công tác trên mọi miền của tổ quốc.
Danh nhân
- Nguyễn Minh quê ở huyện Lôi Dương, Châu Ái đến xã Mạn Xuyên tổng Đông Kết huyện Đông An mở trường dạy học (nay là thôn Mạn Xuyên). Bấy giờ Hùng Duệ Vương mở khoá thi, vào thi Đình nhà vua chấm ông đỗ đầu khoá, được vua gả công chúa Ngọc Nương – công chúa thứ ba, ông cùng với Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi được vua phong: Trấn Chiêm Thành cửa ải đại tướng quân
- Chử Đồng Tử – Tiên Dung công chúa là thành hoàng làng của các làng Mạn Trù, Phương Trù
- Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thờ tại Làng Năm Mẫu
- Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ (1949) quê Năm Mẫu: Nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7, Phó Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam – Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam Thành phố Hồ Chí Minh
- Trung tướng, PGS, TS. Đỗ Viết Toản (nguyên sư trưởng 312-Quân đoàn 1) – nguyên quán Khu 10, Mạn Xuyên. Hiện nay, là hiệu trưởng Trường Đại học Trần Quốc Tuấn.
Lịch sử
Trước đây, Đại Tập là một xã thuộc huyện Châu Giang cũ.
Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/1999/NĐ-CP[2] về việc chuyển xã Đại Tập thuộc huyện Châu Giang cũ chuyển về huyện Khoái Châu mới tái lập quản lý.
-->
Chú thích