Bước tới nội dung

Địa lý Áo

47°20′B 13°20′Đ / 47,333°B 13,333°Đ / 47.333; 13.333
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Địa lý Áo
Tập tin:Austria (orthographic projection).svg
VùngTrung Âu
Tọa độ47°20′B 13°20′Đ / 47,333°B 13,333°Đ / 47.333; 13.333
Diện tích
 • Đất98.29%
 • Nước1.71%
Biên giớiTổng cộng: 2.534 km (1.575 dặm)
Đức: 801 km (498 dặm)
Ý: 404 km (251 dặm)
Hungary: 321 km (199 dặm)
Cộng hòa Séc: 402 km (250 dặm)
Slovenia: 299 km (186 dặm)
Thụy Sĩ: 158 km (98 dặm)
Slovakia: 105 km (65 dặm)
Liechtenstein: 34 km (21 dặm)
Điểm cao nhấtGrossglockner, 3.798 m (12.461 ft)
Điểm thấp nhấtNeusiedl am See (Hồ Neusiedl), 115 m (377 ft)
Sông dài nhấtSông Danube (Phần thuộc Áo), 350 km (217 dặm) (tổng chiều dài: 2.850 km)
Hồ lớn nhấtHồ Constance (Bodensee) / Hồ Neusiedl (Hồ nội địa hoàn toàn)
Địa hìnhBị thống trị bởi hệ thống núi Alps hiểm trở, dốc đứng và phủ băng hà ở phía tây và miền trung; chuyển tiếp thành các vùng đồi lượn sóng thoai thoải và cao nguyên đá phía bắc; các bồn địa thung lũng phẳng rộng lớn phân bố dọc theo lưu vực sông Danube ở phía đông.

Địa lý Áo mô tả các đặc điểm tự nhiên, hình thái địa hình, địa chất cấu trúc, mạng lưới thủy văn, khí hậu và các phân vùng sinh thái của Áo (tên gọi chính thức là Cộng hòa Áo), một quốc gia hoàn toàn nằm trong nội địa (quốc gia nội lục) thuộc khu vực Trung Âu.[1] Nằm tại vị trí trung tâm chiến lược trên bản đồ địa chính trị châu Âu, Áo đóng vai trò là giao lộ văn hóa, kinh tế và nối liền các quốc gia Tây Âu với vùng BalkanĐông Âu.[2]

Áo sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 83.879 kilômét vuông (khoảng 32.386 dặm vuông), xếp thứ 112 trên thế giới.[3] Trong cơ cấu phân bổ quốc gia, diện tích đất liền chiếm khoảng 82.445 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 98,29%) và diện tích mặt nước nội lục chiếm khoảng 1.434 kilômét vuông (1,71%), cấu thành từ các hệ thống sông và hồ chứa ngậm nước băng hà.[3] Do tính chất địa lý nằm sâu trong tiểu lục địa, Áo có đường bờ biển bằng 0 nhưng sở hữu một mạng lưới biên giới đất liền vô cùng phức tạp dài tổng cộng 2.534 kilômét (1.575 dặm), tiếp giáp với tám quốc gia láng giềng: Đức ở phía bắc và tây bắc (801 km), Ý ở phía nam (404 km), Cộng hòa Séc ở phía bắc (402 km), Hungary ở phía đông (321 km), Slovenia ở phía nam (299 km), Thụy Sĩ ở phía tây (158 km), Slovakia ở phía đông bắc (105 km) và quốc gia nhỏ Liechtenstein ở phía tây (34 km).[3]

Địa hình tổng thể của Áo bị thống trị mạnh mẽ bởi hệ thống núi lửa và nếp uốn Alps, với hơn 62% diện tích đất nước là đồi núi dốc gồ ghề vươn cao.[1] Độ cao trung bình của quốc gia đạt tới 910 mét so với mực nước biển.[2] Chỉ có phần diện tích nhỏ ở phía đông và đông nam là các bồn địa trũng phẳng bằng mượt thuận lợi cho nông nghiệp thâm canh.[1] Thủ đô kiêm đô thị lớn nhất nước là Vienna (Wien), tọa lạc sừng sững bên bờ sông Danube huyền thoại, sát cạnh rìa phía đông của dãy Alps.[1]

Tập tin:Satellitenaufnahme der Alpen.jpg
Ảnh vệ tinh khu vực dãy núi Alps hùng vĩ bao phủ phần lớn diện tích phía tây và miền trung nước Áo.

Địa hình

Dựa trên đặc điểm hình thái và cao độ, lãnh thổ nước Áo được phân chia thành ba vùng tự nhiên cốt lõi rõ rệt:[2]

Alps phía Đông

Chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ (khoảng 62%) và chạy dài theo trục tây - đông. Vùng núi này được chia tách thành ba dải chạy song song:[1]

  • Dải Alps Đá vôi phía Bắc (Nördliche Kalkalpen): Chuỗi núi đá đứng dựng đứng hiểm trở với nhiều hiện tượng hang động Karst độc đáo.[2]
  • Dải Alps Trung tâm (Zentralalpen): Là xương sống thô ráp của đất nước, cấu thành từ đá kết tinh kiên cố (granite, gneiss) và bị bao phủ bởi các dải băng hà vĩnh cửu.[4] Tại đây sừng sững khối núi Hohe Tauern, nơi tọa lạc đỉnh Grossglockner vươn lên độ cao kỷ lục 3.798 mét (12.461 ft), trở thành điểm cao nhất của toàn bộ đất nước Áo.[3]
  • Dải Alps Đá vôi phía Nam (Südliche Kalkalpen): Chuỗi núi chạy dọc biên giới Ý và Slovenia với các sườn núi dốc đứng hiểm trở.[2]
Tập tin:Grossglockner from SW.jpg
Đỉnh núi Grossglockner cao ngất phủ băng hà vĩnh cửu — điểm cao nhất của lãnh thổ Cộng hòa Áo.

Vùng Cao nguyên đá phía Bắc

Chiếm khoảng 10% diện tích đất nước, nằm ở phía bắc sông Danube và kéo dài sang biên giới Cộng hòa Séc, thuộc khối núi cổ Bohemia.[1] Địa hình vùng này mang đặc trưng của một cao nguyên lượn sóng trập trùng với độ cao trung bình từ 400 đến 900 mét. Bề mặt bị phong hóa lâu đời, tạo nên các dải đồi tròn trập trùng xen kẽ các thung lũng sông rậm rạp rừng sồi và rừng lá kim hoang sơ.[2]

Bồn địa Pannonian và Duyên hải phía Đông

Chiếm khoảng 28% diện tích, bao gồm vùng bình nguyên phẳng quanh Vienna (Bồn địa Vienna) và vùng đồi thấp Styria, Burgenland.[1] Địa hình ở đây hạ thấp hẳn xuống, trù phú phù sa do sông Danube bồi đắp. Đây là trái tim kinh tế, vựa trồng nho và nông nghiệp cơ giới hóa của Áo.[1] Tại thị trấn Neusiedl am See bên bờ Hồ Neusiedl ở góc đông nam, cao độ hạ thấp xuống điểm thấp nhất đất nước, đạt mức vỏn vẹn 115 mét (377 ft) so với mực nước biển.[3]

Tập tin:Wachau (2).JPG
Thung lũng Wachau thơ mộng bên sông Danube, vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên đá phía bắc và bồn địa phía đông.

Địa chất

Cấu trúc địa chất của Áo là một mô hình kiến tạo vô cùng phức tạp được hình thành trong suốt chu kỳ Kiến tạo sơn Alps ở kỷ Đệ Tam:[5]

  • Hệ nếp uốn Alps: Kết quả của sự va chạm kiến tạo mạnh mẽ giữa mảng châu Phi di chuyển lên phía bắc nén ép vào mảng Á-Âu. Quá trình này đẩy các lớp đá trầm tích đáy biển cổ lên cao, tạo nên các nếp uốn khổng lồ chồng chất lên nhau (nappes). Lòng đất dãy Alps lưu giữ các mạch khoáng sản kim loại màu giá trị như magnesite tại Veitsch, quặng đồng, kẽm và các mỏ đá muối cổ đại nổi tiếng tại vùng Salzkammergut.[3]
  • Hệ thổ nhưỡng phân đới vĩ mô:
    • Đất nâu rừng ôn đới (Cambisols): Phân bố bạt ngàn tại các lưu vực thung lũng phẳng phía đông và sườn đồi thấp, dồi dào khoáng chất phù sa, có độ phì nhiêu cao thích hợp cho nông nghiệp.
    • Đất xám mùn núi cao (Podzols) và Đất đá trơ trọi (Leptosols): Chiếm trọn vùng núi Alps cao, đất mỏng nghèo dinh dưỡng, chứa nhiều sỏi đá phong hóa, dễ bị gãy nứt xói mòn mạnh mẽ dưới tác động của mưa lũ.
Tập tin:Koppen-Geiger Map v2 AUT 1991–2020.svg
Phân loại khí hậu Köppen của Áo

Khí hậu

Do cấu trúc địa hình núi cao phức tạp và vị trí nằm sâu trong lục địa Trung Âu, khí hậu của Áo phân hóa thành ba đới khí hậu rõ rệt, chịu sự chuyển tiếp giữa khí hậu ôn đới hải dương ấm áp từ phía tây và khí hậu lục địa khô hạn từ phía đông:[6]

Đặc trưng các đới khí hậu

  • Khí hậu lục địa ẩm (Vùng đồng bằng và bồn địa phía Đông): Trải qua mùa hè nóng, khô ráo tương đối kéo dài với nhiệt độ trung bình khoảng 25 °C (77 °F) đến 30 °C (86 °F) và mùa đông lạnh, có tuyết phủ ấm vừa phải (Dfb theo Phân loại khí hậu Köppen). Lượng mưa ở đây thấp nhất đất nước, dao động từ 600 mm đến 800 mm/năm.[6]
  • Khí hậu núi cao khắc nghiệt (Hệ thống núi Alps): Càng lên cao, tính chất nhiệt đới bị triệt tiêu, nhường chỗ cho khí hậu rêu phong núi cao (ET). Mùa hè ở đây rất ngắn và mát mẻ, trong khi mùa đông cực kỳ kéo dài và khắc nghiệt với bão tuyết dữ dội. Lượng giáng thủy ở các sườn núi đón gió phía tây rất dồi dào, thường vượt quá 2.000 mm/năm, tích tụ thành các dải băng hà vĩnh cửu.[7]
  • Hiện tượng gió Föhn (Gió Phơn): Một đặc trưng khí hậu quan trọng tại các thung lũng núi Alps là luồng gió Föhn — luồng khí ấm và khô thổi mạnh từ Địa Trung Hải vượt qua các rặng núi nam trút hết mưa rồi tràn xuống các thung lũng phía bắc, có thể làm nhiệt độ tăng vọt thêm 10 °C chỉ trong vài giờ vào mùa đông, gây ra hiện tượng tuyết tan đột ngột và lũ quét nguy hiểm.[6]

Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Vienna

Thủ đô Vienna tọa lạc tại vùng bồn địa duyên hải phía đông bắc đất nước bên bờ sông Danube, mang khí hậu lục địa ẩm đặc trưng với lượng mưa phân bổ điều hòa giữa các tháng.

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Vienna (Weather box)

Dữ liệu khí hậu của Vienna (Trạm khí tượng Innere Stadt, 1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 2.9
(37.2)
5.1
(41.2)
10.3
(50.5)
15.2
(59.4)
20.5
(68.9)
23.4
(74.1)
25.6
(78.1)
25.4
(77.7)
20.3
(68.5)
14.2
(57.6)
7.5
(45.5)
4.0
(39.2)
14.5
(58.2)
Trung bình ngày °C (°F) 0.3
(32.5)
1.7
(35.1)
5.7
(42.3)
10.1
(50.2)
15.0
(59.0)
18.1
(64.6)
20.2
(68.4)
19.8
(67.6)
15.3
(59.5)
10.0
(50.0)
4.8
(40.6)
1.6
(34.9)
10.2
(50.4)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) −2.0
(28.4)
−0.9
(30.4)
2.4
(36.3)
5.8
(42.4)
10.5
(50.9)
13.5
(56.3)
15.4
(59.7)
15.3
(59.5)
11.7
(53.1)
7.0
(44.6)
2.4
(36.3)
−0.5
(31.1)
6.7
(44.1)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 37.3
(1.47)
39.4
(1.55)
46.1
(1.81)
51.7
(2.04)
61.8
(2.43)
74.3
(2.93)
67.6
(2.66)
72.1
(2.84)
52.7
(2.07)
39.8
(1.57)
49.9
(1.96)
44.6
(1.76)
637.3
(25.09)
Số ngày giáng thủy trung bình 7.3 7.6 8.3 7.5 8.5 9.1 8.2 8.3 6.6 5.9 7.9 7.6 92.8
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 80 76 71 66 66 66 64 65 70 75 81 82 72
Số giờ nắng trung bình tháng 55.8 79.1 127.1 171.0 226.3 231.0 254.2 241.8 180.0 124.0 57.0 43.4 1.790,7
Nguồn: WMO[8]

Biểu đồ Khí hậu tại Vienna

Vienna
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
37
 
 
3
−2
 
 
39
 
 
5
−1
 
 
46
 
 
10
2
 
 
52
 
 
15
6
 
 
62
 
 
21
11
 
 
74
 
 
23
14
 
 
68
 
 
26
15
 
 
72
 
 
25
15
 
 
53
 
 
20
12
 
 
40
 
 
14
7
 
 
50
 
 
8
2
 
 
45
 
 
4
−1
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: WMO

Thủy văn

Do lượng mưa và lượng tuyết tan ngậm nước từ dãy Alps vô cùng dồi dào, Áo sở hữu một trong những hệ thống thủy văn trù phú, chảy xiết và giàu tiềm năng kinh tế hàng đầu Trung Âu:[2]

Hệ thống lưu vực Sông Danube

  • Sông Danube (Donau): Dòng sông mẹ vĩ đại chảy qua phần phía bắc nước Áo từ tây sang đông với chiều dài khoảng 350 kilômét (217 dặm). Sông Danube thu nhận nguồn nước từ đại đa số các sông nhánh nội địa của Áo và là tuyến đường hàng hải huyết mạch quốc tế kết nối các thủ đô Trung Âu.[1]
  • Sông InnSông Salzach: Sông Inn bắt nguồn từ Thụy Sĩ, chảy qua thành phố Innsbruck trù phú trước khi hợp dòng vào sông Danube tại biên giới Đức. Đây là các dòng sông dốc, lưu lượng lớn phục vụ chuỗi nhà máy thủy điện lớn.[5]
  • Sông Mur và Sông Drava (Drau): Chảy qua miền nam nước Áo, thoát nước cho vùng Styria và Carinthia hướng sang bán đảo Balkan.[2]
Tập tin:Schlögener Schlinge, Gesamtansicht vom Schlögener Blick 01.jpg
Khúc uốn khúc hình móng ngựa kỳ vĩ của dòng sông Danube đoạn đi qua Schlögen, miền bắc nước Áo.

Các hồ ngậm nước băng hà lớn

Áo chia sẻ hai hồ lớn nằm ở các dải biên giới ngoại vi quốc gia:[1]

  • Hồ Constance (Bodensee): Tọa lạc ở cực tây, chung chủ quyền mặt nước với Đức và Thụy Sĩ. Đây là hồ chứa nước ngọt ngậm băng hà vĩ đại hàng đầu châu Âu.[5]
  • Hồ Neusiedl (Neusiedler See): Tọa lạc ở cực đông, chung biên giới với Hungary. Đây là một hồ thảo nguyên nông độc đáo (độ sâu trung bình chỉ khoảng 1 mét), được bao quanh bởi dải rừng cỏ lác khổng lồ, là Di sản thế giới UNESCO bảo tồn các loài chim di cư.[9]
Tập tin:Foehnwind am Bodensee.jpg
Quang cảnh mặt nước mênh mông như biển khơi của Hồ Constance tại thành phố Bregenz, cực tây nước Áo.

Tài nguyên thiên nhiên

Lãnh thổ Áo sở hữu nguồn lâm thổ sản phong phú kết hợp các vỉa quặng khoáng sản kim loại màu có giá trị kinh tế cao:[3]

  • Tài nguyên lâm khoáng sản: Diện tích rừng bao phủ bạt ngàn mang lại nguồn gỗ xuất khẩu lớn hàng đầu châu Âu. Đất nước cũng tự chủ phần nào năng lượng nhờ các túi Dầu mỏ nông tại bồn địa Vienna và trữ lượng quặng sắt khổng lồ tại ngọn núi quặng Erzberg thuộc Styria.[3]
  • Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
    • Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 38,4%
      • Đất trồng trọt hàng năm (lúa mì, củ cải đường): 16,5%
      • Cây trồng lâu năm (vườn nho, quả mọng Địa Trung Hải): 0,8%
      • Đồng cỏ lâu năm (phục vụ chăn nuôi bò sữa sườn núi Alps): 21,1%
    • Diện tích rừng và thảm che phủ xanh xanh: 47,2% (bị thống trị bởi thảm thực vật rừng lá kim chịu lạnh và rừng hỗn hợp sồi, dẻ).
    • Khác (Hoang mạc đá cằn núi cao, mạng lưới đô thị): 14,4%
  • Đất có hệ thống tưới tiêu: 420 km² (162 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Tập tin:Nuovo Treno Val Pusteria.JPG
Đoàn tài đi qua đồng cỏ cao xanh mướt sườn núi Alps vào mùa hè tại Tyrol, Áo.

Các vấn đề môi trường

Áo hiện đang đối mặt với các thách thức sinh thái phức tạp do nằm tại vị trí trung tâm phát triển của tiểu lục địa Trung Âu:[3]

  • Hệ lụy của mưa axit xuyên biên giới: Khí thải công nghiệp từ các quốc gia láng giềng theo luồng gió gió tây nam tràn sang kết hợp sương mù núi cao tạo nên mưa axit nghiêm trọng, làm thoái hóa và hủy hoại hơn 25% diện tích thảm xanh rừng thông tự nhiên của dãy Alps.[1]
  • Sức ép của du lịch và Xói mòn sườn núi: Hoạt động xây dựng ồ ạt chuỗi đường trượt tuyết mùa đông và hạ tầng khách sạn tại Tyrol đang phá vỡ cấu trúc thảm thực vật giữ đất sườn dốc, gia tăng hiện tượng sạt lở đất đá và lũ quét dữ dội vào mùa tuyết tan.[4]
  • Ô nhiễm hóa chất nguồn nước ngầm: Việc lạm dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp thâm canh tại bồn địa phẳng phía đông đang làm hàm lượng nitrate trong các mạch nước ngầm tăng cao, buộc chính phủ phải áp dụng luật nông nghiệp hữu cơ nghiêm ngặt.[10]

Các điểm cực địa lý

Tập tin:Austria extreme points.png
Bản đồ các điểm cực của Áo.

Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Áo:

  • Cực Bắc: Dòng suối Neumühlbach tiếp giáp biên giới Cộng hòa Séc, gần thị trấn Haugschlag, bang Niederösterreich (Tọa độ: vĩ độ 48°51' Bắc).
  • Cực Nam: Đỉnh núi sừng sững Seeland Cleft thuộc dãy núi Karawanken giáp với Slovenia, bang Kärnten (Tọa độ: vĩ độ 46°22' Bắc).
  • Cực Đông: Điểm ranh giới ba bên giáp với Hungary và Slovakia, nằm gần thị trấn Deutsch Jahrndorf, bang Burgenland (Tọa độ: kinh độ 17°10' Đông).
  • Cực Tây: Dòng sông ngậm nước biên giới giáp Thụy Sĩ, gần thị trấn Feldkirch, bang Vorarlberg (Tọa độ: kinh độ 9°31' Đông).

Thư viện ảnh

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j k Lichtenberger, Elisabeth (1997). Austria: Society and Regions. Vienna: Austrian Academy of Sciences. ISBN 978-3700126751.
  2. ^ a b c d e f g h "Austria - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h i j "Austria - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  4. ^ a b Schirinzi, G. (2008). "Glacial geomorphology and neotectonics of the Hohe Tauern, Austria". Geomorphology. Quyển 95. tr. 45–62. doi:10.1016/j.geomorph.2007.04.012.
  5. ^ a b c Fuchs, Werner (1980). Geology of Austria. Vienna: Geological Survey of Austria.
  6. ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
  7. ^ Sultan, B. (2003). "The Central European climate anomalies and winter atmospheric circulation over the Alps". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
  8. ^ "World Weather Information Service – Vienna". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  9. ^ "Fertö / Neusiedlersee Cultural Landscape". UNESCO World Heritage Centre. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  10. ^ UBA (2019). "State of the Environment in Austria" (Tài liệu). Environment Agency Austria.

Liên kết ngoài