Bước tới nội dung

Địa lý Albania

41°00′B 20°00′Đ / 41°B 20°Đ / 41.000; 20.000
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Địa lý Albania
VùngĐông Nam Âu / Balkan
Tọa độ41°00′B 20°00′Đ / 41°B 20°Đ / 41.000; 20.000
Diện tích
 • Đất95.30%
 • Nước4.70%
Biên giớiTổng cộng: 657 km (408 dặm)
Hy Lạp: 212 km (132 dặm)
Kosovo: 112 km (70 dặm)
Bắc Macedonia: 181 km (112 dặm)
Montenegro: 186 km (116 dặm)
Điểm cao nhấtNúi Korab (Maja e Korabit), 2.764 m (9.068 ft)
Điểm thấp nhấtBiển Adriatic, 0 m (0 ft)
Sông dài nhấtSông Drin, 285 km (177 dặm)
Hồ lớn nhấtHồ Scutari (Hồ Shkodra)
Địa hìnhPhần lớn là đồi núi dốc hiểm trở và vách đá đứng vươn cao ở phía bắc, đông và nam; dải đồng bằng ven biển thấp phẳng và trù phú phân bố dọc theo bờ biển Adriatic và Ionian ở phía tây, thường bị chia cắt bởi các thung lũng sông.

Địa lý Albania mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất kiến tạo, cấu trúc thủy văn và hệ sinh thái đa dạng của Albania (tên gọi chính thức là Cộng hòa Albania), một quốc gia tọa lạc tại khu vực Đông Nam Âu, thuộc phần phía tây của Bán đảo Balkan.[1] Albania sở hữu một vị trí trắc địa mang tính chiến lược cao dọc theo lưu vực Địa Trung Hải, đóng vai trò là cửa ngõ hàng hải nối liền vùng nội lục Balkan với các tuyến hải trình quốc tế.[2]

Albania sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 28.748 kilômét vuông (khoảng 11.100 dặm vuông), xếp thứ 140 trên thế giới về diện tích.[3] Trong cơ cấu trắc địa quốc gia, diện tích đất liền chiếm khoảng 27.398 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 95,30%) và diện tích mặt nước chiếm khoảng 1.350 kilômét vuông (4,70%), bao gồm hệ thống hồ kiến tạo lớn và các đầm lầy ven biển trù phú.[3] Đất nước có đường biên giới đất liền dài tổng cộng 657 kilômét (408 dặm), tiếp giáp với Montenegro ở phía tây bắc (186 km), Kosovo ở phía đông bắc (112 km), Bắc Macedonia ở phía đông (181 km) và Hy Lạp ở phía nam, đông nam (212 km).[3] Ngược lại, phía tây và tây nam của đất nước mở ra dải bờ biển Địa Trung Hải dài 476 kilômét (296 dặm) hướng ra Biển AdriaticBiển Ionian.[3]

Địa hình của Albania bị thống trị bởi các rặng núi dốc đứng hiểm trở, chiếm hơn 70% tổng diện tích lãnh thổ. Độ cao trung bình của đất nước đạt tới 708 mét so với mực nước biển, thuộc hàng cao nhất tại châu Âu.[2] Đồng bằng chỉ xuất hiện thành một dải hẹp dọc theo duyên hải phía tây, thoải dần từ các chân núi ra biển.[1] Thủ đô kiêm trung tâm kinh tế, chính trị lớn nhất nước là Tirana, tọa lạc tại vùng đồng bằng thung lũng nội địa miền trung.[1]

Bản đồ địa hình của Albania, hiển thị vùng đồi núi hiểm trở bao phủ phần lớn lãnh thổ và dải đồng bằng ven biển ở phía tây.

Địa hình

Dựa trên đặc điểm hình thái cấu trúc cấu tạo và cao độ, lãnh thổ Albania được chia tách một cách tự nhiên thành bốn vùng địa lý tự nhiên rõ rệt:[2]

Vùng núi North Albanian Alps phía Bắc

Còn được biết đến với tên gọi địa phương là Prokletije (Dãy núi Nguyền rủa), đây là vùng địa hình cao, hiểm trở và hoang sơ nhất đất nước, nằm dọc biên giới với Montenegro và Kosovo.[1] Vùng núi này cấu thành từ đá vôi phong hóa mạnh, tạo nên các vách đá dựng đứng, hẻm núi sâu hun hút và hệ thống hang động Karst kỳ vĩ. Tại vùng núi này vươn lên đỉnh Maja Jezercë cao 2.694 mét (8.839 ft), là đỉnh núi cao nhất hoàn toàn nằm trong lãnh thổ đất nước.[2] Thảm thực vật ở đây phong phú với rừng lá rộng và rừng thông cổ thụ, nơi lưu trữ nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm châu Âu.[4]

Cảnh quan thung lũng sâu hoang sơ được bao bọc bởi các vách đá vôi đứng thuộc dãy North Albanian Alps tại Vườn quốc gia Theth.

Vùng núi phía Đông

Chạy dọc theo đường biên giới với Bắc Macedonia và kéo dài xuống phía nam. Vùng này có địa hình núi cao lượn sóng trập trùng, bị chia cắt bởi thung lũng của sông Black Drin.[2] Tại đây sừng sững khối núi Korab, nơi tọa lạc đỉnh Núi Korab (Maja e Korabit) đạt độ cao kỷ lục 2.764 mét (9.068 ft) so với mực nước biển, trở thành điểm cao nhất của cả Albania và Bắc Macedonia.[3] Vùng núi phía đông sở hữu các hồ kiến tạo vĩ đại cổ xưa như Hồ OhridHồ Prespa.[5]

Vùng núi phía Nam

Thường được gọi là các khối núi ngoại vi phía Nam hoặc dãy núi Ceraunian, chạy dài từ miền trung xuống tận biên giới Hy Lạp và dốc thẳng xuống biển Ionian.[2] Địa hình vùng này thấp hơn phía bắc nhưng mang tính chất cắt xẻ mạnh, tạo nên bờ biển Riviera Albania tuyệt đẹp với các vách đá nhô ra vịnh biển nông xanh ngọc bích. Các sườn núi ở đây thoải dần, tạo điều kiện phát triển các đồn điền cây ô liu và cây ăn quả Địa Trung Hải.[1]

Đèo Llogara hùng vĩ thuộc dãy núi Ceraunian dốc thẳng xuống dải bờ biển Riviera Albania ở miền nam.

Đồng bằng ven biển phía Tây

Trải dài dọc theo bờ biển Adriatic từ thành phố Shkodra ở phía bắc xuống đến Vlorë ở phía nam, với chiều dài khoảng 120 dặm (190 km) và chiều rộng mở rộng từ 5 đến 30 dặm (8 đến 48 km).[2] Đồng bằng này được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa lâu đời của các con sông lớn như sông Drin, Seman và Vjosa.[6] Đây là vựa lúa mỳ, trung tâm nông nghiệp thâm canh, nuôi trồng thủy sản và là nơi tập trung phần lớn dân cư cũng như các khu công nghiệp chế biến của đất nước Albania.[1]

Vườn quốc gia Thung lũng Valbonë thuộc dãy Alps của Albania vào mùa thu.

Khí hậu

Với vị trí địa lý nằm dọc theo biển Adriatic và Ionian, kết hợp với địa hình đồi núi cao nâng cao ở phía đông, khí hậu của Albania phân hóa vô cùng sâu sắc thành các đới khí hậu Địa Trung Hải điển hình và khí hậu lục địa phân đới:[7]

Đặc điểm phân hóa các đới khí hậu

  • Khí hậu Địa Trung Hải duyên hải (Phía Tây): Vùng đồng bằng ven biển trải qua mùa đông ấm áp, mưa nhiều và mùa hè nóng bức, khô khốc (Csa theo Phân loại khí hậu Köppen). Lượng mưa trung bình vùng duyên hải dao động từ 1.000 mm đến 1.500 mm/năm. Nhiệt độ mùa hè trung bình khoảng 30 °C (86 °F), có sự điều hòa mát mẻ của gió biển Địa Trung Hải.[7]
  • Khí hậu lục địa núi cao (Phía Đông và Bắc): Tiến sâu vào vùng núi nội địa, khí hậu chuyển sang kiểu lục địa ẩm ẩm ướt ôn đới ẩm (CfbDfb). Mùa đông ở đây cực kỳ khắc nghiệt, nhiệt độ thường xuyên sụt giảm dưới 0 °C (32 °F) và tuyết rơi dày đặc bao phủ các đỉnh núi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Ngược lại, mùa hè ngắn ngủi se lạnh và mát mẻ.[2]
  • Cực lượng mưa châu Âu: Vùng núi phía bắc Albania là một trong những khu vực ẩm ướt nhất châu Âu. Ngôi làng Boga thuộc dãy Alps Albania ghi nhận lượng mưa kỷ lục trung bình năm vượt quá 3.000 mm do các khối khí ẩm Địa Trung Hải bị chặn lại bởi các vách đá đứng đứng vút cao, tạo đối lưu trút mưa lớn.[8]

Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Tirana

Thủ đô Tirana tọa lạc tại vùng đồng bằng thung lũng miền trung nội địa, đại diện cho kiểu khí hậu chuyển tiếp Địa Trung Hải ẩm hòa quyện khí hậu cận nhiệt đới ẩm lục địa.

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Tirana (Weather box)

Dữ liệu khí hậu của Tirana (1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 11.6
(52.9)
12.9
(55.2)
15.6
(60.1)
19.0
(66.2)
23.8
(74.8)
27.7
(81.9)
30.7
(87.3)
30.7
(87.3)
27.3
(81.1)
21.8
(71.2)
17.1
(62.8)
13.0
(55.4)
20.9
(69.7)
Trung bình ngày °C (°F) 6.7
(44.1)
7.8
(46.0)
10.0
(50.0)
13.4
(56.1)
18.0
(64.4)
21.6
(70.9)
24.0
(75.2)
23.8
(74.8)
20.7
(69.3)
16.0
(60.8)
11.7
(53.1)
8.1
(46.6)
15.2
(59.3)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) 1.8
(35.2)
2.6
(36.7)
4.5
(40.1)
7.7
(45.9)
12.1
(53.8)
15.6
(60.1)
17.4
(63.3)
16.9
(62.4)
14.1
(57.4)
10.1
(50.2)
6.3
(43.3)
3.2
(37.8)
9.4
(48.8)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 135
(5.3)
152
(6.0)
128
(5.0)
117
(4.6)
122
(4.8)
86
(3.4)
32
(1.3)
32
(1.3)
60
(2.4)
105
(4.1)
211
(8.3)
173
(6.8)
1.353
(53.3)
Số ngày giáng thủy trung bình 11 11 11 12 11 7 4 4 6 9 13 12 111
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 74 72 68 67 67 62 57 57 64 71 76 76 68
Số giờ nắng trung bình tháng 124.0 124.3 164.3 192.0 251.1 297.0 353.4 319.3 240.0 192.2 126.0 102.3 2.485,9
Nguồn: WMO[9]

Biểu đồ Khí hậu tại Tirana

Tirana
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
135
 
 
12
2
 
 
152
 
 
13
3
 
 
128
 
 
16
5
 
 
117
 
 
19
8
 
 
122
 
 
24
12
 
 
86
 
 
28
16
 
 
32
 
 
31
17
 
 
32
 
 
31
17
 
 
60
 
 
27
14
 
 
105
 
 
22
10
 
 
211
 
 
17
6
 
 
173
 
 
13
3
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: WMO

Thủy văn

Mạng lưới thủy văn của Albania vô cùng trù phú, cấu thành từ các con sông dốc chảy xiết giàu tiềm năng thủy điện và các hồ kiến tạo lâu đời nhất châu Âu:[6]

Các hệ thống sông chảy dốc

  • Sông Drin: Dòng sông dài nhất Albania với chiều dài 285 kilômét (177 dặm). Sông được hợp thành tại Kukës từ hai nhánh Black Drin (chảy ra từ Hồ Ohrid) và White Drin. Sông Drin chảy xiết qua các hẻm núi hiểm trở miền bắc, đóng vai trò là xương sống sản xuất điện năng của quốc gia với chuỗi các đập thủy điện vĩ đại như đập Fierza và đập Koman.[6]
  • Sông Vjosa: Được mệnh danh là một trong những dòng sông hoang dã tự nhiên cuối cùng của châu Âu hoàn toàn chưa bị ngăn đập, chảy từ vùng núi Hy Lạp băng qua miền nam Albania đổ ra biển Adriatic.[1]
  • Các con sông quan trọng khác bao gồm sông Shkumbin (dải phân ranh giới ngôn ngữ cổ giữa người nói tiếng Gheg và tiếng Tosk), sông Mat và sông Seman.[2]

Hệ thống các hồ kiến tạo vĩ đại

  • Hồ Scutari (Hồ Shkodra): Hồ lớn nhất khu vực Balkan, nằm trên biên giới phân chia giữa Albania và Montenegro. Hồ sở hữu hệ sinh thái vùng đất ngập nước trù phú, là nơi trú ẩn của loài chim bồ nông xoăn quý hiếm châu Âu.[6]
  • Hồ Ohrid: Hồ nước ngọt có độ sâu lớn nhất Balkan (289 mét), nằm chung giữa Albania và Bắc Macedonia. Hồ Ohrid có tuổi đời hơn 5 triệu năm, lưu giữ hệ thống động thực vật đặc hữu vô giá và được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.[10]
Bờ hồ Ohrid thanh bình nhìn từ khu vực thành phố Pogradec thuộc chủ quyền của Albania.

Tài nguyên thiên nhiên

Cấu trúc địa chất

Địa chất Albania nằm trong dải uốn nếp nếp uốn Alpine, cụ thể thuộc hệ Dinarides-Albanides kéo dài:[11]

  • Các khối đá siêu mafic (Ophiolite): Tập trung bạt ngàn ở vùng núi trung tâm đồi núi đông bắc. Lớp đá vỏ đại dương cổ này chứa các vỉa quặng crom trầm tích chất lượng cao trữ lượng khổng lồ, đưa Albania trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu crom hàng đầu thế giới.[12]
  • Bồn địa trầm tích chứa dầu (Phía Tây): Lớp đá trầm tích Neogene tại bồn địa ven biển chứa các mỏ Dầu mỏkhí thiên nhiên lớn, đặc biệt là mỏ Patos-Marinza — mỏ dầu trên đất liền lớn nhất khu vực bách khoa Đông Nam Âu.[3]

Sử dụng đất (Ước tính năm 2018)

  • Đất phục vụ canh tác nông nghiệp: 42,8%
    • Đất thâm canh trồng trọt hàng năm: 22,7%
    • Cây trồng lâu năm (ô liu, nho): 2,7%
    • Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi mục súc: 17,4%
  • Diện tích rừng và thảm che phủ xanh: 28,8% (rừng sồi, rừng dẻ bách khoa).
  • Khác (Đô thị, hồ móng, đá cằn): 28,4%
  • Đất có hệ thống tưới tiêu trắc địa: 1.820 km² (703 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Hồ chứa Fierza được hình thành do việc xây dựng nhà máy thủy điện Fierza vào năm 1978.

Các vấn đề môi trường

Albania hiện đang phải đối diện với các thách thức sinh thái nghiêm trọng từ hệ quả của giai đoạn chuyển dịch kinh tế công nghiệp:[3]

  • Xói mòn đất nghiêm trọng ở vùng núi dốc: Nạn chặt phá rừng lấy gỗ xuất khẩu bất hợp pháp và việc chăn thả cừu, dê quá mức từ cuối thế kỷ 20 đã làm mất lớp phủ bảo vệ. Khi mùa mưa lớn đến, đất laterit đá vôi bị rửa trôi mạnh, gây sạt lở đồi cao và bồi lắng làm tắc nghẽn các lòng hồ chứa thủy điện.[1]
  • Quản lý rác thải rắn và Ô nhiễm nguồn nước: Các dòng sông chảy qua khu đô thị lớn như sông Lana, sông Ishëm bị ô nhiễm nặng nề bởi rác thải nhựa và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý do tốc độ đô thị hóa nhanh vượt tiến độ hạ tầng kỹ thuật.[13]

Các điểm cực địa lý

Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Albania:

  • Cực Bắc: Vermosh — ngôi làng hẻo lánh vùng núi cao biên giới giáp với Montenegro, tọa lạc vĩ độ 42°39′B, thuộc hạt Shkodra.
  • Cực Nam: Konispol — thị trấn biên giới sát sườn Hy Lạp, tọa lạc vĩ độ 39°38′B, thuộc hạt Vlorë.
  • Cực Đông: Ngôi làng Kvernish — sát ranh giới với Bắc Macedonia, tọa lạc kinh độ 21°04′Đ, thuộc hạt Korçë.
  • Cực Tây: Đảo Sazan — hòn đảo quân sự cổ chiến lược nằm ngoài khơi vịnh Vlorë trên biển Adriatic, tọa lạc kinh độ 19°16′Đ.

Thư viện ảnh

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h Tomazin, Ines (2010). The Geography of Southeastern Europe. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402095436.
  2. ^ a b c d e f g h i "Albania - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h "Albania - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  4. ^ Hughes, P. D. (2005). "Glacial history of the Prokletije Mountains, Albania". Quaternary Science Reviews. Quyển 24. tr. 2264–2283. doi:10.1016/j.quascirev.2005.04.012.
  5. ^ Pano, Niko (2015). The Water Resources of Albania. Tirana: Academy of Sciences of Albania.
  6. ^ a b c d Pano, Niko (2015). The Water Resources of Albania. Tirana: Academy of Sciences of Albania.
  7. ^ a b Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
  8. ^ Hughes, P. D. (2005). "Glacial history of the Prokletije Mountains, Albania". Quaternary Science Reviews. Quyển 24. tr. 2264–2283. doi:10.1016/j.quascirev.2005.04.012.
  9. ^ "World Weather Information Service – Tirana". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  10. ^ "Natural and Cultural Heritage of the Ohrid region". UNESCO World Heritage Centre. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2026.
  11. ^ Melo, F. (1995). "The geotectonic zones of Albania and their hydrocarbon potential". Journal of Petroleum Geology. Quyển 18. tr. 45–68.
  12. ^ Melo, F. (1995). "The geotectonic zones of Albania and their hydrocarbon potential". Journal of Petroleum Geology. Quyển 18. tr. 45–68.
  13. ^ UNEP (2019). "Albania: Environmental Performance Review" (Tài liệu). United Nations Environment Programme.

Liên kết ngoài