Bóng đá Anh 1973–74
Mùa giải 1973–74 là mùa giải thứ 94 của bóng đá tại Anh. Leeds United trở thành nhà vô địch giải vô địch lần thứ Hai, khi kết thúc mùa giải với khoảng cách năm điểm nhiều hơn đội á quân Liverpool tại First Division. Middlesbrough, Oldham Athletic và Peterborough United lần lượt vô địch Second, Third và Fourth Division. Liverpool giành Cúp FA lần thứ Hai, sau khi đánh bại Newcastle United trong trận chung kết, còn trận chung kết League Cup chứng kiến Wolverhampton Wanderers đánh bại Manchester City. Ở đấu trường cúp châu Âu cấp câu lạc bộ, Tottenham Hotspur vào tới chung kết Cúp UEFA nhưng thua Feyenoord sau hai lượt trận.
Danh hiệu
| Giải đấu | Vô địch | Á quân |
|---|---|---|
| First Division | Leeds United (2) | Liverpool |
| Second Division | Middlesbrough | Luton Town |
| Third Division | Oldham Athletic | Bristol Rovers |
| Fourth Division | Peterborough United | Gillingham |
| Cúp FA | Liverpool (2) | Newcastle United |
| League Cup | Wolverhampton Wanderers (1) | Manchester City |
| Charity Shield | Burnley | Manchester City |
| Home Championship | Đồng vô địch: Anh và Scotland | |
Ghi chú = Con số trong ngoặc là số lần câu lạc bộ đó đã giành danh hiệu này. * cho biết kỉ lục mới của giải đấu
Football League
First Division
Don Revie đã khép lại mùa giải cuối cùng của mình trên cương vị huấn luyện viên Leeds United bằng chức vô địch giải vô địch, trước khi tiếp quản vị trí huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Anh, trong bối cảnh Anh không thể giành quyền tham dự World Cup 1974. Leeds của Revie vượt qua Liverpool với khoảng cách năm điểm để giành chức vô địch lần thứ Hai trong lịch sử. Bất chấp việc huấn luyện viên Brian Clough bị sa thải đầy chấn động chỉ 18 tháng sau khi đưa câu lạc bộ vô địch First Division, Derby County vẫn hồi phục tốt dưới thời huấn luyện viên mới Dave Mackay để kết thúc ở vị trí thứ Ba và giành vé dự Cúp UEFA, cùng với Ipswich Town và Stoke City. Đội mới thăng hạng Burnley cán đích ở vị trí thứ Sáu.
Manchester United rớt hạng khỏi First Division chỉ sáu năm sau khi vô địch Cúp C1 châu Âu, ở cuối một mùa giải mà thủ môn Alex Stepney từng đồng giữ vị trí ghi nhiều bàn nhất đội với hai bàn vào dịp Giáng sinh.[1] Chuỗi 36 năm liên tiếp của Manchester United ở hạng đấu cao nhất chấm dứt sau trận áp chót của mùa giải, thất bại 0-1 trên sân nhà trước Manchester City; cựu tiền đạo Manchester United là Denis Law ghi bàn thắng quyết định cho Manchester City. Dù vậy, ban lãnh đạo vẫn tiếp tục đặt niềm tin vào huấn luyện viên Tommy Docherty như người có thể đưa câu lạc bộ trở lại hạng đấu cao nhất.
Cùng xuống Second Division với Manchester United là Norwich City và Southampton. Đây là mùa giải đầu tiên mà giải đấu áp dụng ba suất rớt hạng từ hạng cao nhất.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Leeds United (C) | 42 | 24 | 14 | 4 | 66 | 31 | 2,129 | 62 | Giành quyền tham dự Vòng Một European Cup |
| 2 | Liverpool | 42 | 22 | 13 | 7 | 52 | 31 | 1,677 | 57 | Giành quyền tham dự Vòng Một European Cup Winners’ Cup[a] |
| 3 | Derby County | 42 | 17 | 14 | 11 | 52 | 42 | 1,238 | 48 | Giành quyền tham dự Vòng Một Cúp UEFA |
| 4 | Ipswich Town | 42 | 18 | 11 | 13 | 67 | 58 | 1,155 | 47 | |
| 5 | Stoke City | 42 | 15 | 16 | 11 | 54 | 42 | 1,286 | 46 | |
| 6 | Burnley | 42 | 16 | 14 | 12 | 56 | 53 | 1,057 | 46 | |
| 7 | Everton | 42 | 16 | 12 | 14 | 50 | 48 | 1,042 | 44 | |
| 8 | Queens Park Rangers | 42 | 13 | 17 | 12 | 56 | 52 | 1,077 | 43 | |
| 9 | Leicester City | 42 | 13 | 16 | 13 | 51 | 41 | 1,244 | 42 | |
| 10 | Arsenal | 42 | 14 | 14 | 14 | 49 | 51 | 0,961 | 42 | |
| 11 | Tottenham Hotspur | 42 | 14 | 14 | 14 | 45 | 50 | 0,900 | 42 | |
| 12 | Wolverhampton Wanderers | 42 | 13 | 15 | 14 | 49 | 49 | 1,000 | 41 | Giành quyền tham dự Vòng Một Cúp UEFA[b] |
| 13 | Sheffield United | 42 | 14 | 12 | 16 | 44 | 49 | 0,898 | 40 | |
| 14 | Manchester City | 42 | 14 | 12 | 16 | 39 | 46 | 0,848 | 40 | |
| 15 | Newcastle United | 42 | 13 | 12 | 17 | 49 | 48 | 1,021 | 38 | |
| 16 | Coventry City | 42 | 14 | 10 | 18 | 43 | 54 | 0,796 | 38 | |
| 17 | Chelsea | 42 | 12 | 13 | 17 | 56 | 60 | 0,933 | 37 | |
| 18 | West Ham United | 42 | 11 | 15 | 16 | 55 | 60 | 0,917 | 37 | |
| 19 | Birmingham City | 42 | 12 | 13 | 17 | 52 | 64 | 0,813 | 37 | |
| 20 | Southampton (R) | 42 | 11 | 14 | 17 | 47 | 68 | 0,691 | 36 | Xuống hạng Second Division |
| 21 | Manchester United (R) | 42 | 10 | 12 | 20 | 38 | 48 | 0,792 | 32 | |
| 22 | Norwich City (R) | 42 | 7 | 15 | 20 | 37 | 62 | 0,597 | 29 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Trung bình bàn thắng; 3) Số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
- ^ Liverpool giành quyền tham dự European Cup Winners’ Cup với tư cách vô địch Cúp FA 1973–74.
- ^ Wolverhampton Wanderers giành quyền tham dự Cúp UEFA với tư cách vô địch Football League Cup.
Second Division
Cựu cầu thủ Leeds United Jack Charlton đã đưa Middlesbrough tới chức vô địch Second Division và một suất ở First Division. Đứng thứ Hai trên bảng xếp hạng là Luton Town, đội kết thúc mùa giải với ít hơn nhà vô địch 15 điểm. Đội xếp thứ Ba là Carlisle United, do Alan Ashman dẫn dắt, giành một suất ở First Division lần đầu tiên, và cho tới nay cũng là duy nhất, trong lịch sử câu lạc bộ, qua đó hoàn tất bước tiến thần tốc từ Fourth Division lên First Division. Preston North End và Swindon Town rớt hạng cùng với Crystal Palace, đội phải nhận lần rớt hạng thứ Hai liên tiếp.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Middlesbrough (C, P) | 42 | 27 | 11 | 4 | 77 | 30 | 2,567 | 65 | Thăng hạng First Division |
| 2 | Luton Town (P) | 42 | 19 | 12 | 11 | 64 | 51 | 1,255 | 50 | |
| 3 | Carlisle United (P) | 42 | 20 | 9 | 13 | 61 | 48 | 1,271 | 49 | |
| 4 | Orient | 42 | 15 | 18 | 9 | 55 | 42 | 1,310 | 48 | |
| 5 | Blackpool | 42 | 17 | 13 | 12 | 57 | 40 | 1,425 | 47 | |
| 6 | Sunderland | 42 | 19 | 9 | 14 | 58 | 44 | 1,318 | 47 | |
| 7 | Nottingham Forest | 42 | 15 | 15 | 12 | 57 | 43 | 1,326 | 45 | |
| 8 | West Bromwich Albion | 42 | 14 | 16 | 12 | 48 | 45 | 1,067 | 44 | |
| 9 | Hull City | 42 | 13 | 17 | 12 | 46 | 47 | 0,979 | 43 | |
| 10 | Notts County | 42 | 15 | 13 | 14 | 55 | 60 | 0,917 | 43 | |
| 11 | Bolton Wanderers | 42 | 15 | 12 | 15 | 44 | 40 | 1,100 | 42 | |
| 12 | Millwall | 42 | 14 | 14 | 14 | 51 | 51 | 1,000 | 42 | |
| 13 | Fulham | 42 | 16 | 10 | 16 | 39 | 43 | 0,907 | 42 | |
| 14 | Aston Villa | 42 | 13 | 15 | 14 | 48 | 45 | 1,067 | 41 | |
| 15 | Portsmouth | 42 | 14 | 12 | 16 | 45 | 62 | 0,726 | 40 | |
| 16 | Bristol City | 42 | 14 | 10 | 18 | 47 | 54 | 0,870 | 38 | |
| 17 | Cardiff City | 42 | 10 | 16 | 16 | 49 | 62 | 0,790 | 36 | Giành quyền tham dự Vòng Một Cup Winners' Cup |
| 18 | Oxford United | 42 | 10 | 16 | 16 | 35 | 46 | 0,761 | 36 | |
| 19 | Sheffield Wednesday | 42 | 12 | 11 | 19 | 51 | 63 | 0,810 | 35 | |
| 20 | Crystal Palace (R) | 42 | 11 | 12 | 19 | 43 | 56 | 0,768 | 34 | Xuống hạng Third Division |
| 21 | Preston North End (R) | 42 | 9 | 14 | 19 | 40 | 62 | 0,645 | 31 | |
| 22 | Swindon Town (R) | 42 | 7 | 11 | 24 | 36 | 72 | 0,500 | 25 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Trung bình bàn thắng; 3) Số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Third Division
Các suất thăng hạng thuộc về nhà vô địch Oldham Athletic, Bristol Rovers và York City, thành tích khi ấy là thứ hạng cao nhất của York trong lịch sử tham dự giải vô địch. Cambridge United, Shrewsbury Town, Southport và Rochdale đều rớt hạng.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Thăng hạng hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Oldham Athletic (C, P) | 46 | 25 | 12 | 9 | 83 | 47 | 1,766 | 62 | Thăng hạng Second Division |
| 2 | Bristol Rovers (P) | 46 | 22 | 17 | 7 | 65 | 33 | 1,970 | 61 | |
| 3 | York City (P) | 46 | 21 | 19 | 6 | 67 | 38 | 1,763 | 61 | |
| 4 | Wrexham | 46 | 22 | 12 | 12 | 63 | 43 | 1,465 | 56 | |
| 5 | Chesterfield | 46 | 21 | 14 | 11 | 55 | 42 | 1,310 | 56 | |
| 6 | Grimsby Town | 46 | 18 | 15 | 13 | 67 | 50 | 1,340 | 51 | |
| 7 | Watford | 46 | 19 | 12 | 15 | 64 | 56 | 1,143 | 50 | |
| 8 | Aldershot | 46 | 19 | 11 | 16 | 65 | 52 | 1,250 | 49 | |
| 9 | Halifax Town | 46 | 14 | 21 | 11 | 48 | 51 | 0,941 | 49 | |
| 10 | Huddersfield Town | 46 | 17 | 13 | 16 | 56 | 55 | 1,018 | 47 | |
| 11 | Bournemouth | 46 | 16 | 15 | 15 | 54 | 58 | 0,931 | 47 | |
| 12 | Southend United | 46 | 16 | 14 | 16 | 62 | 62 | 1,000 | 46 | |
| 13 | Blackburn Rovers | 46 | 18 | 10 | 18 | 62 | 64 | 0,969 | 46 | |
| 14 | Charlton Athletic | 46 | 19 | 8 | 19 | 66 | 73 | 0,904 | 46 | |
| 15 | Walsall | 46 | 16 | 13 | 17 | 57 | 48 | 1,188 | 45 | |
| 16 | Tranmere Rovers | 46 | 15 | 15 | 16 | 50 | 44 | 1,136 | 45 | |
| 17 | Plymouth Argyle | 46 | 17 | 10 | 19 | 59 | 54 | 1,093 | 44 | |
| 18 | Hereford United | 46 | 14 | 15 | 17 | 53 | 57 | 0,930 | 43 | |
| 19 | Brighton & Hove Albion | 46 | 16 | 11 | 19 | 52 | 58 | 0,897 | 43 | |
| 20 | Port Vale | 46 | 14 | 14 | 18 | 52 | 58 | 0,897 | 42 | |
| 21 | Cambridge United (R) | 46 | 13 | 9 | 24 | 48 | 81 | 0,593 | 35 | Xuống hạng Fourth Division |
| 22 | Shrewsbury Town (R) | 46 | 10 | 11 | 25 | 41 | 62 | 0,661 | 31 | |
| 23 | Southport (R) | 46 | 6 | 16 | 24 | 35 | 82 | 0,427 | 28 | |
| 24 | Rochdale (R) | 46 | 2 | 17 | 27 | 38 | 94 | 0,404 | 21 |
Fourth Division
Peterborough United vô địch Division Four và thăng hạng cùng với Gillingham, Colchester United và Bury. Hệ thống tái bầu chọn của giải đấu tiếp tục bỏ phiếu giữ lại bốn câu lạc bộ xếp cuối, vì vậy không có đội nào rời khỏi hay gia nhập giải trong năm 1974.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Thăng hạng hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Peterborough United (C, P) | 46 | 27 | 11 | 8 | 75 | 38 | 1,974 | 65 | Thăng hạng Third Division |
| 2 | Gillingham (P) | 46 | 25 | 12 | 9 | 90 | 49 | 1,837 | 62 | |
| 3 | Colchester United (P) | 46 | 24 | 12 | 10 | 73 | 36 | 2,028 | 60 | |
| 4 | Bury (P) | 46 | 24 | 11 | 11 | 81 | 49 | 1,653 | 59 | |
| 5 | Northampton Town | 46 | 20 | 13 | 13 | 63 | 48 | 1,313 | 53 | |
| 6 | Reading | 46 | 16 | 19 | 11 | 58 | 37 | 1,568 | 51 | |
| 7 | Chester | 46 | 17 | 15 | 14 | 54 | 55 | 0,982 | 49 | |
| 8 | Bradford City | 46 | 17 | 14 | 15 | 58 | 52 | 1,115 | 48 | |
| 9 | Newport County | 46 | 16 | 14 | 16 | 56 | 65 | 0,862 | 45[a] | |
| 10 | Exeter City | 45 | 18 | 8 | 19 | 58 | 55 | 1,055 | 44[b] | |
| 11 | Hartlepool | 46 | 16 | 12 | 18 | 48 | 47 | 1,021 | 44 | |
| 12 | Lincoln City | 46 | 16 | 12 | 18 | 63 | 67 | 0,940 | 44 | |
| 13 | Barnsley | 46 | 17 | 10 | 19 | 58 | 64 | 0,906 | 44 | |
| 14 | Swansea City | 46 | 16 | 11 | 19 | 45 | 46 | 0,978 | 43 | |
| 15 | Rotherham United | 46 | 15 | 13 | 18 | 56 | 58 | 0,966 | 43 | |
| 16 | Torquay United | 46 | 13 | 17 | 16 | 52 | 57 | 0,912 | 43 | |
| 17 | Mansfield Town | 46 | 13 | 17 | 16 | 62 | 69 | 0,899 | 43 | |
| 18 | Scunthorpe United | 45 | 14 | 12 | 19 | 47 | 64 | 0,734 | 42[b] | |
| 19 | Brentford | 46 | 12 | 16 | 18 | 48 | 50 | 0,960 | 40 | |
| 20 | Darlington | 46 | 13 | 13 | 20 | 40 | 62 | 0,645 | 39 | |
| 21 | Crewe Alexandra | 46 | 14 | 10 | 22 | 43 | 71 | 0,606 | 38 | Tái đắc cử |
| 22 | Doncaster Rovers | 46 | 12 | 11 | 23 | 47 | 80 | 0,588 | 35 | |
| 23 | Workington | 46 | 11 | 13 | 22 | 43 | 74 | 0,581 | 35 | |
| 24 | Stockport County | 46 | 7 | 20 | 19 | 44 | 69 | 0,638 | 34 |
- ^ Newport County had one point deducted for fielding an ineligible player.
- ^ a b Scunthorpe United v. Exeter was never played; Exeter failed to turn up and Scunthorpe were awarded the points.
Các cầu thủ ghi bàn hàng đầu
First Division
- Mick Channon (Southampton) - 21 bàn thắng[2]
Second Division
- Duncan McKenzie (Nottingham Forest) - 26 bàn thắng[2]
Third Division
- Billy Jennings (Watford) - 26 bàn thắng[2]
Fourth Division
- Brian Yeo (Gillingham) - 31 bàn thắng[2]
Cúp FA
Chung kết Cúp FA 1974 được Liverpool giành chiến thắng, khi họ đánh bại Newcastle United 3-0[3] tại Wembley với hai bàn của Kevin Keegan và một bàn của Steve Heighway.[4] Burnley đánh bại Leicester City 1-0 tại Filbert Street trong trận tranh hạng Ba cuối cùng, được tổ chức năm ngày sau trận chung kết.
Trận tứ kết giữa Newcastle và Nottingham Forest đã bị dừng giữa chừng khi "hàng trăm cổ động viên" tràn xuống sân St James' Park, trong đó có một người đã tấn công tiền vệ Dave Serella của Forest.[5] Vì vậy, chiến thắng của Newcastle bị hủy bỏ và hai đội buộc phải đá lại, đồng thời The Football Association cấm Newcastle tổ chức các trận cúp trên sân nhà ở mùa giải tiếp theo.[6]
Các bất ngờ ở những vòng đầu gồm chiến thắng của Alvechurch trước Exeter City tại vòng Một, và thắng lợi 4-0 trong trận đá lại vòng Hai của Walton & Hersham, đội có Dave Bassett trong đội hình, trước một Brighton & Hove Albion do Brian Clough dẫn dắt. Đội Second Division Bristol City đã loại Leeds United với chiến thắng 1-0 tại Elland Road trong trận đá lại vòng Năm.[7]
League Cup
Đội bóng Wolverhampton Wanderers của Bill McGarry đã đánh bại Manchester City 2-1 trong trận chung kết tại Wembley, với các bàn thắng của Wolves được ghi bởi Kenny Hibbitt và John Richards, còn Colin Bell ghi bàn cho City. Đây là chức vô địch League Cup đầu tiên của Wolves, đồng thời là danh hiệu lớn đầu tiên của họ kể từ thời kì Stan Cullis hơn một thập niên trước đó.
Plymouth Argyle của Third Division đã vào tới bán kết trước khi thua Manchester City.
Bóng đá châu Âu
Tottenham Hotspur đã vào tới trận chung kết Cúp UEFA nhưng thua Feyenoord với tổng tỉ số 2-4. Cổ động viên Tottenham Hotspur đã gây bạo loạn sau trận lượt về tại Rotterdam, sau chiến thắng của Feyenoord.
Đội tuyển quốc gia
Anh đánh bại Áo 7-0 tại Wembley trong trận quốc tế đầu tiên của mùa giải, với Mick Channon, Allan Clarke và Tony Currie mỗi người ghi hai bàn.[8] Tuy nhiên, Anh đã không thể giành quyền tham dự World Cup 1974 sau khi bị Ba Lan cầm hòa 1-1 tại Wembley trong trận vòng loại cuối cùng vào tháng 10 năm 1973.[9]
Alf Ramsey bị sa thải vào tháng 4 năm 1974 sau 11 năm làm huấn luyện viên đội tuyển Anh.[10] Sau đó Joe Mercer tiếp quản vị trí này trên cương vị tạm quyền. Trận đầu tiên của Anh kể từ sau khi Ramsey bị sa thải khép lại với chiến thắng 2-0 trước Wales tại Home Championship.[8] Anh kết thúc giải ở vị trí thứ Hai sau khi bị Scotland đánh bại 2-0 tại Hampden Park.[8]
Vào tháng 7 năm 1974, Don Revie chấp nhận lời đề nghị của Football Association để dẫn dắt đội tuyển Anh, qua đó khép lại 13 năm cầm quân tại Leeds United.[11]
Giải thưởng cầu thủ
- Cầu thủ chạy cánh kì cựu của Liverpool là Ian Callaghan đã giành giải FWA Footballer of the Year nhờ đóng góp của ông trong mùa giải thành công của câu lạc bộ.
- Mùa giải này cũng chứng kiến sự ra đời của hai giải thưởng mới do Professional Footballers' Association trao tặng, cả hai đều được các cầu thủ bầu chọn. Giải PFA Players' Player of the Year thuộc về Norman Hunter của Leeds United, còn giải PFA Young Player of the Year được trao cho Kevin Beattie của Ipswich Town.
Nhật kí mùa giải
- 25 tháng 8 năm 1973: Nhà đương kim vô địch Liverpool mở màn mùa giải giải vô địch mới bằng chiến thắng 1-0 trên sân nhà trước Stoke City.[12]
- 30 tháng 9 năm 1973: Leeds United đứng đầu First Division vào cuối tháng 9 năm 1973, hơn Coventry City ba điểm sau khi chỉ đánh rơi một điểm trong chín trận đầu tiên. Ở cuối bảng, Birmingham City và West Ham United vẫn đang tìm kiếm chiến thắng đầu tiên tại giải trong mùa giải này.[12]
- 15 tháng 10 năm 1973: Brian Clough, huấn luyện viên của Derby County, và trợ lí của ông Peter Taylor, rời câu lạc bộ sau một cuộc tranh chấp với ban lãnh đạo.[13]
- 20 tháng 10 năm 1973: Leeds United đánh bại Liverpool 1-0 tại Elland Road để tạo khoảng cách tám điểm so với nhà đương kim vô địch.[12]
- 23 tháng 10 năm 1973: Câu chuyện kéo dài tám ngày giữa Brian Clough và Derby County, với hàng loạt cuộc phản đối của cổ động viên câu lạc bộ đòi phục chức cho ông, khép lại khi cựu cầu thủ The Rams là Dave Mackay từ chức huấn luyện viên Nottingham Forest để trở lại dẫn dắt đội bóng cũ của mình.[14]
- 31 tháng 10 năm 1973: Leeds United hơn Everton, đội mới thăng hạng Burnley và Derby County năm điểm ở ngôi đầu bảng vào cuối tháng 10 năm 1973.[12]
- 1 tháng 11 năm 1973: Brian Clough và trợ lí Peter Taylor trở lại với bóng đá sau khi nhận lời dẫn dắt đội Third Division Brighton & Hove Albion .[15]
- 30 tháng 11 năm 1973: Leeds United, đội chưa vô địch giải vô địch kể từ năm 1969, đang hơn bảy điểm ở ngôi đầu và vẫn bất bại vào cuối tháng 11 năm 1973. Newcastle United, Burnley, Everton và Liverpool tạo thành nhóm bám đuổi. Birmingham City và West Ham United vẫn đứng cuối bảng, và đã bị Norwich City gia nhập trong khu vực rớt hạng.[12]
- 31 tháng 12 năm 1973: Vào cuối năm, Leeds United vẫn bất bại tại giải và hiện hơn đội đứng gần nhất là Liverpool tám điểm. Chỉ có hiệu số bàn thắng bại mới giúp Manchester United, đang bằng điểm với Birmingham City, thoát khỏi khu vực rớt hạng.[12]
- 31 tháng 1 năm 1974: Leeds United vẫn hơn Liverpool tám điểm vào cuối tháng 1 năm 1974. Một chuỗi phong độ cải thiện đã giúp West Ham United thoát khỏi nhóm ba đội cuối bảng, đẩy Manchester United xuống thay thế.[12]
- 2 tháng 2 năm 1974: Ipswich Town vùi dập Southampton 7-0 tại Portman Road trong chiến thắng đậm nhất của mùa giải First Division.[12]
- 23 tháng 2 năm 1974: Sau khi mở đầu mùa giải với chuỗi 29 trận bất bại, Leeds United cuối cùng cũng nhận thất bại khi bị Stoke City đánh bại 3-2 tại Victoria Ground.[16] Tuy nhiên, họ vẫn hơn Liverpool tám điểm, trong khi Liverpool đã hơn đội đứng thứ Ba là Derby County sáu điểm.[12]
- 16 tháng 3 năm 1974: Liverpool đánh bại Leeds United 1-0 tại Anfield để rút ngắn cách biệt với đội bóng vùng Yorkshire xuống còn sáu điểm, đồng thời còn hai trận chưa đấu. Ở nửa dưới bảng xếp hạng, khó khăn trụ hạng của Manchester United tiếp tục kéo dài khi họ thua Birmingham City 0-1, đội cũng vẫn nằm trong nhóm ba đội cuối bảng.[12]
- 30 tháng 3 năm 1974: Leeds United thua West Ham United 1-3 trên sân khách, nhận thất bại thứ ba liên tiếp tại giải, qua đó trao quyền chủ động trong cuộc đua vô địch cho Liverpool, đội lúc này chỉ còn kém bốn điểm và còn ba trận chưa đấu.[12]
- 8 tháng 4 năm 1974: Hi vọng bảo vệ chức vô địch giải vô địch của Liverpool bị giáng đòn sau thất bại 0-1 trên sân của Sheffield United.[12]
- 20 tháng 4 năm 1974: Liverpool hòa Everton 0-0 trên sân nhà, tạo điều kiện để Leeds United tiến sát chức vô địch bằng chiến thắng 3-2 trước Ipswich Town. Norwich City rớt xuống Second Division.[12]
- 24 tháng 4 năm 1974: Thất bại 0-1 trên sân nhà của Liverpool trước Arsenal chấm dứt hi vọng giành cú đúp của họ, đồng thời trao chức vô địch giải vô địch cho Leeds United.[17]
- 27 tháng 4 năm 1974: Manchester United bước vào trận derby Manchester tại Old Trafford với yêu cầu buộc phải đánh bại đối thủ cùng thành phố City mới còn hi vọng trụ hạng, chỉ sáu năm sau khi vô địch Cúp C1 châu Âu. Họ thua 0-1, với cựu người hùng của câu lạc bộ Denis Law ghi bàn duy nhất cho City, nhưng kể cả có thắng thì họ vẫn sẽ rớt hạng vì Birmingham City đã giành chiến thắng.[18] Chiến thắng của Birmingham cũng khiến Southampton rớt hạng, bất chấp việc The Saints thắng Everton 3-0 trên sân khách. Leeds United khép lại mùa giải bằng chiến thắng 1-0 trên sân của Queens Park Rangers.[12]
- 12 tháng 7 năm 1974: Bill Shankly tuyên bố nghỉ hưu sau 15 năm làm huấn luyện viên. Người kế nhiệm ông sẽ là trợ lí 55 tuổi Bob Paisley.[19]
- 30 tháng 7 năm 1974: Brian Clough rời Brighton & Hove Albion để trở thành huấn luyện viên mới của Leeds United, nhưng trợ lí của ông là Peter Taylor vẫn ở lại Goldstone Ground và tiếp quản ghế huấn luyện viên tại đó.
Tham khảo
- ^ "Goal scoring goalies: Keepers who found the net". The Independent. ngày 5 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017.
- ^ a b c d "English League Leading Goalscorers". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
- ^ TheFA (2008). "Cup Final Statistics". Find out the result of every each and every Cup Final, as well as venue records, most wins and most appearances... Past FA Cup Chung kết. The Football Association. Bản gốc (web) lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2008.
- ^ "1974.HTM". kt-228g.co.uk/1974.htm Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ^ "Riot may close ground: Newcastle faces tough FA penalty". The Age. Melbourne. ngày 12 tháng 3 năm 1974. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2015.
- ^ "Newcastle United Banned from Games". Lawrence Journal-World. Associated Press. ngày 23 tháng 4 năm 1974. tr. 10. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2015.
- ^ "Ten of the best: FA Cup clashes down the years". bcfc.co.uk. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2025.
- ^ a b c Payne, Mike (1993). Anh: The Complete Post-War Record'. Derby: Breedon Books. ISBN 1873626398.
- ^ "englandstats.com - A Complete Database of England Internationals Since 1872". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ "April 30 - Sir Alf Sacked - On This Football Day". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Anh Managers - Don Revie". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n Smailes, Gordon (2000). The Breedon Book of Football Records. Derby: Breedon Books. tr. 132. ISBN 1859832148.
- ^ Bagchi, Rob (ngày 30 tháng 4 năm 2008). "You're fired: Five worst managerial sackings". The Guardian. London.
- ^ "Dave Mackay". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Brian Clough". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ "WAFLL - Leeds United Stats - Final Table Division One 1973–74". Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Leeds U clinches pennant". Edmonton Journal. Reuters. ngày 25 tháng 4 năm 1974.
- ^ Ley, John (ngày 6 tháng 1 năm 2012). "Manchester City v Manchester United: the top 10 Manchester derbies". The Daily Telegraph. London. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2010.
- ^ "1974: Shankly quits Liverpool". BBC News. ngày 12 tháng 7 năm 1974.